Chương 1 CHỢ, VĂN HÓA CHỢ TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM VÀ SƠ LƯỢC VỀ CHỢ QUẢNG OAI (XÃ TÂY ĐẰNG, BA VÌ, HÀ NỘI) 1. Chợ và văn hóa chợ truyền thống ở Việt Nam 1. Chợ Chợ là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ bằng tiền tệ hoặc hiện vật (hàng đổi hàng). Chợ ra đời từ rất sớm trong lịch sử loài người, khi mà con người đã sản xuất được hàng hóa nhiều hơn nhu cầu của họ, nên phải mang nó đi trao đổi với người khác để lấy một loại hàng hóa nào đó.
Thuở ban đầu, chợ chủ yếu là nơi để mọi người trao đổi sản phẩm dư thừa với nhau, dựa trên một thước đo là sự thỏa thuận của hai bên. Về sau cùng với sự ra đời của tiền tệ thì chợ không chỉ là nơi trao đổi mà diễn ra việc mua và bán hàng hóa - một bên là những người có sản phẩm sẽ đem ra để bán, còn một bên là khách hàng dùng tiền để mua các sản phẩm cần thiết cho mình hoặc các sản phẩm để đem bán lại. Các chợ nhỏ thì cấu trúc rất đơn giản, có thể là một bãi trống mà những người bán hàng ngồi thành từng dãy với những sản phẩm đặc thù. Với các chợ lớn, hiện đại thì cấu trúc khá phức tạp.
Mỗi chợ có thể gồm nhiều khu vực riêng biệt, mỗi khu vực lại có những dãy gồm nhiều gian hàng khác nhau. Ngay từ thời nhà Lý, kinh đô Thăng Long đã có 4 chợ chính ở 4 cửa thành Thăng Long theo cấu trúc trong thành ngoài thị - đó là cấu trúc phân bố theo cư trú của người Việt. Khu sinh sống chính của người Việt là lưu vực của các sông ngòi lớn nhỏ và rất tự nhiên. Cái chợ sẽ nằm tại các ngã ba nước để thuận tiện cho việc giao dịch trao đổi hàng hóa.
Sử Việt còn ghi dưới thời nhà Trần, nước ta có khoảng 100 chợ quê. Theo cấu trúc làng xã, ngoài làng nông nghiệp ở đồng bằng, Việt Nam còn có làng ven đồi và làng ven biển nữa. Ở làng ven đồi người dân làm nhà ở phía nam dãy đồi để tránh gió bấc 7 thì cái chợ sẽ nằm phía nam cuối làng như chợ Tam Canh ở Vĩnh Phúc. Với làng ven biển, có chợ cá họp sát ngay mép sóng như chợ Báng, chợ Hàn ở Nha Trang.
Đến khi xuất hiện giao thương quốc tế thì có cảng thị. Cảng biển cũng là cái chợ mở ra thông thương với bên ngoài mà thôi. Sang thế kỷ XIX, văn minh đường cái mở ra, lại thêm cái chợ đường cái họp nơi ngã ba đường như chợ Bần ở Hưng Yên bán tương nổi tiếng. Chung quy lại, chợ Việt Nam là chợ ngã ba và phổ biến nhất, cổ truyền nhất là cái ngã ba nước [2].
Phân loại chợ Việt Nam Tại Nghị định 02/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 1 năm 2003 về phát triển và quản lý chợ và Nghị định 114/2009/NĐ-CP sửa đổi bổ sung, Chính phủ đã xếp hạng chợ theo các loại sau đây: Chợ hạng 1: Là chợ có trên 400 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố, hiện đại theo quy hoạch; được đặt ở các vị trí trung tâm kinh tế thương mại quan trọng của tỉnh, thành phố hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực kinh tế và được tổ chức họp thường xuyên; có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổ chức đầy đủ các dịch vụ tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng hoá, dịch vụ đo lường, dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hoá, vệ sinh an toàn thực phẩm và các dịch vụ khác. Chợ hạng 2: Là chợ có trên 200 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố theo quy hoạch; được đặt ở trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực và được tổ chức họp thường xuyên hay không thường xuyên; có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động chợ và tổ chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng hoá, dịch vụ đo lường. Chợ hạng 3: Là các chợ có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố. Chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hoá của nhân dân trong xã, phường và địa bàn phụ cận.
8 Ngoài ra, dân gian còn phân loại chợ theo mặt hàng chính được bán: chợ nông sản, chợ trái cây, chợ hải sản, chợ gia súc.; hoặc theo đặc trưng về vị trí địa lý: chợ đồng bằng, chợ ven biển, chợ trung du, chợ miền núi; có chợ nông thôn, có chợ đô thị.; theo thời gian họp chợ: chợ phiên, chợ hôm, chợ rằm, chợ tết. Văn hóa chợ truyền thống ở Việt Nam Giải thích về những cái tên chợ Xanh, chợ Rồng xuất hiện ở rất nhiều nơi, Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng nghề của dân Việt là trồng trọt và chài lưới, sản phẩm là rau cỏ và tôm cá. Chợ bán rau thì gọi là chợ Xanh (xanh như rau), chợ bán tôm cá gọi là chợ Rồng. Chợ Xanh đâu đâu cũng có (tiêu biểu như Chợ Xanh Định Công, Chợ Xanh Linh Đàm ở Hà Nội; Chợ Xanh ở Khánh Thiện, Ninh Bình; Chợ Xanh ở xã Diễn Thành, Diễn Châu, Nghệ An,…), còn chợ Rồng thì thường xuất hiện ở những ngã ba sông lớn như chợ Rồng Hải phòng, chợ Rồng Ninh Bình, chợ Rồng Nam Định, Chợ Rồng ở Nam Sách - Hải Dương; chợ Rồng ở thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh; chợ Rồng ở Nam Đàn, Nghệ An; chợ Rồng ở Thanh Oai, Hà Nội,… Đó chính là dấu ấn văn minh nông nghiệp.
Chợ không chỉ nằm trong phạm trù kinh tế đơn thuần, nó còn biểu hiện văn hóa rất đậm nét. Yếu tố giao lưu tình cảm thì ai cũng rõ rồi, đặc biệt với các chợ vùng cao như chợ tình Mường Khương, Sa Pa do cư trú rải rác, buồn tẻ, hẻo lánh nên nhu cầu gặp gỡ, giao tiếp, giao duyên rất mạnh. Nhưng phải thấy rằng chợ họp ở chùa, chợ họp ở đình làng, chợ họp ở cầu, ở quán,. cũng luôn gắn liền với các biểu tượng văn hóa Việt Nam, gắn với nhu cầu tâm linh của người Việt.
Chợ không chỉ biểu thị mối quan hệ ứng xử giao đãi theo chiều ngang mà còn biểu thị mối quan tâm theo chiều dọc nội tâm nữa. Đây là đặc điểm tự cân bằng, tự thích ứng rất mềm dẻo hài hòa của dân tộc Việt Nam. Mọi việc mua bán sinh hoạt của người trần đều diễn ra dưới sự chứng giám của thần linh và của thiết chế xã hội [25]. 9 Chợ truyền thống là nơi tiêu thụ những sản phẩm của kinh tế tự cung tự cấp.
Có khi người dân không có tiền mua mà chỉ đổi hàng lấy hàng, có khi mua chịu; hàng hóa ở chợ quê thì lúc ít lúc nhiều. Chợ truyền thống (hay còn gọi là chợ quê xưa) không hề có sạp hàng, cửa hàng, ki ốt cố định như hiện nay, mà đa phần là những gánh hàng của các bà, các cô. Sáng sớm họ gánh hàng ra chợ, tan chợ lại gánh về hoặc rong ruổi khắp các ngõ xóm bán rong. Ở chợ quê, thành phần tham gia mua bán chủ đạo là nữ giới.
Có lẽ vì vậy mà có người đã cho rằng hình ảnh đôi quang gánh đã trở thành biểu tượng cho sự tần tảo buôn bán của người phụ nữ Việt Nam cũng như là hình ảnh đặc trưng cho phong cách sinh hoạt của chợ quê xưa - nhỏ lẻ và cơ động. “Ở khu vực nông thôn, chợ là một thị trường với tư cách như một thể chế đưa những người tiểu nông, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ và những thương nhân chuyên nghiệp từ những làng xã hoặc những vùng, miền, đô thị… lại với nhau. Đây là một thể chế tổ chức và phối hợp các tương tác xã hội như các hành vi kinh doanh, thương mại… của nhiều người ở nhiều địa điểm khác nhau trong một hoạt động chung. Nó cho phép người mua và người bán có thể trao đổi thông tin và trao cho họ cơ hội để hoàn thành mục đích mua - bán hàng hóa, dịch vụ” [19, tr.
Ở các làng Việt trước đây, mỗi gia đình làm ra các sản phẩm phục vụ nhu cầu của họ, đồng thời bán những sản phẩm dư thừa lấy những thứ họ không sản xuất ra được. Sản phẩm họ làm ra ngày càng nhiều cùng quá trình mở rộng nhu cầu tiêu dùng của cộng đồng. Và chợ làng ra đời, đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa giữa những người trong cùng một làng hoặc giữa làng này với làng khác. “Cuối thế kỷ XIX, khu vực châu thổ sông Hồng có 5.000 chợ quê các loại” [Nguyễn Quang Ngọc, Dẫn lại theo 19, tr.
Chợ là một hình thái phản ánh trực tiếp kinh tế thị trường và bản chất nền kinh tế hàng hoá có tính tiêu biểu và phổ biến, thể hiện dưới nhiều góc độ trong không gian văn hoá nông thôn. Chợ Quảng Oai là một dạng thị trường 10 với tư cách như một thể chế đưa người nông dân (những người tiểu nông) thợ thủ công, người buôn bán nhỏ và những thương nhân. hợp lại với nhau trong tổ chức có sự tương tác trong các hoạt động kinh doanh thương mại. Nó cho phép kẻ bán người mua tự do trao đổi thông tin bắt tay hợp tác thành công trong các thương vụ mua - bán.
Phương thức tổ chức kinh doanh giữa các nhóm xã hội tham dự vào các lĩnh vực kinh doanh thương mại thì yếu tố môi trường kinh tế xã hội lại do văn hóa cộng đồng quy định. Với đặc điểm và phương thức sinh hoạt truyền thống dựa chủ yếu vào nông nghiệp và thủ công nghiệp thì tính chất kinh doanh nhỏ lẻ, theo từng cá thể hay theo hộ gia đình rất phổ biến của vùng nông thôn châu thổ sông Hồng nói chung. Tính chất đặc điểm này nếu đem so sánh rộng khắp thì nó trải dài và bao trùm khắp cả vùng châu Á - những nơi có nền văn hoá hoá trồng lúa nước (có chung các yếu tố về dân cư, lĩnh vực ngành nghề, điều kiện tự nhiên, môi trường lao động sinh hoạt xã hội). Chính cách thức sản xuất nông nghiệp theo thời vụ và theo công đoạn, dẫn tới sản xuất cũng vì thế mà kém phát triển, chủ yếu là tự cung tự cấp, tự sản tự tiêu, quy mô hộ gia đình.
Thời gian nông nhàn, một số hộ gia đình làm thêm các nghề thủ công để phục vụ cuộc sống. Người ta đem sản phẩm đó trao đổi tại chợ, trong điều kiện như vậy thì sự tách rời của thủ công nghiệp với nông nghiệp, thương nghiệp là điều tất yếu.