phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài bao gồm 3 chƣơng, trong đó: Chƣơng 1: Không gian văn hóa làng Phấn Vũ Chƣơng 2: Cụm di tích đền, chùa làng Phấn Vũ Chƣơng 3: Đền chùa làng Phấn Vũ - một số vấn đề đặt ra và khuyến nghị giải pháp 10 z CHƢƠNG 1: KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG PHẤN VŨ 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Làng Phấn Vũ thuộc xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Nằm ở vị trí trung tâm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phƣơng, có điểm nút giao thông quan trọng của tuyến đƣờng liên xã, liên huyện đi các tỉnh biên giới phía Bắc sang Trung Quốc và các vùng miền trên cả nƣớc, thuận lợi cho việc giao lƣu, trao đổi buôn bán: Phía Đông giáp với biển.
Phía Tây giáp thôn Xuân Bàng, làng Bình Lạng và đƣờng đi đến xã Thụy An. Phía Nam giáp làng Vạn Xuân, xã Thụy Xuân. Phía Bắc giáp xã Thụy Trƣờng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Làng Phấn Vũ cách thị trấn Diêm Điền 7km, cách thành phố Thái Bình khoảng 40km, cách thành phố Hải Phòng 80km, cách thủ đô Hà Nội 120km.
Từ làng đến biển chỉ khoảng 1km rất thuận lợi cho ngƣời dân ra biển đánh bắt hải sản. Năm 2013, xã Thụy Xuân đã xây dựng xong đƣờng đêpan càng tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho giao thông đƣờng bộ. Cùng với giao thông đƣờng bộ thì đƣờng thủy khá phát triển, tạo điều kiện cho Phấn Vũ trong việc giao lƣu kinh tế, văn hoá - xã hội cũng nhƣ việc tiếp thu các thành tựu khoa học, công nghệ và tăng khả năng thu hút vốn đầu tƣ của các tổ chức trong và ngoài nƣớc. Địa hình Nền địa hình Thái Bình là đồng bằng đƣợc hình thành cách đây không lâu.
"Đường bờ biển chỉ mới được bồi đắp trong vòng 100-200 năm trở lại đây" [2, tr. Về tổng thể, Thái Bình là một tỉnh đồng bằng, không có đồi núi, bao gồm các cánh đồng bằng phẳng, xen kẽ các khu dân cƣ, mạng lƣới 11 z sông ngòi chằng chịt, độ cao trung bình của tỉnh không quá 3m so với mực nƣớc biển. Địa hình Thái Bình đƣợc chia thành các khu vực: "Loại hình ven sông; loại hình đất cao phía Tây Bắc; loại hình đất thấp ven sông Hóa; loại hình đất trũng ở giữa tỉnh và loại hình đất tương đối cao ven biển" [2, tr. Loại hình đất tƣơng đối cao ven biển gọi là vùng tiếp giáp biển gồm các xã phía Đông Nam huyện Tiền Hải và Đông Nam huyện Thái Thụy, trong đó có xã Thụy Xuân.
Theo đó, làng Phấn Vũ nằm trên vùng đất cao, chịu tác động trực tiếp của sóng gió biển Đông. Bờ biển Thái Thụy luôn biến động theo thời gian, có sự bồi đắp và tiến ra xa biển nên diện tích có sự thay đổi theo chiều hƣớng tăng dần lên. Đoạn bờ biển từ cửa sông Trà Lý đến cửa sông Diêm Hộ cho đến năm 1936 vẫn chƣa đƣợc bồi đắp. Đến những năm cuối của thế kỷ XX, nhân dân đã chinh phục bờ biển ở đây và diện tích đƣợc bồi đắp tiến xa ra biển khoảng 3km.
Khí hậu Khí hậu của làng Phấn Vũ nói riêng và Thụy Xuân nói chung mang tính chất cơ bản là nhiệt đới ẩm gió mùa, với nhiệt độ trung bình năm là 23 - 24oC, số giờ nắng 1600 - 1800 h, tổng lƣợng mƣa trong năm 1700 - 2200 mm, độ ẩm không khí 80 - 90%. Gió mùa mang đến cho Phấn Vũ một mùa đông lạnh mƣa ít, mùa hạ nóng mƣa nhiều và hai thời kỳ chuyển tiếp ngắn. Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, chế độ nhiệt của Phấn Vũ đạt tiêu chuẩn nhiệt đới với nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,3oC. Có sự phân hóa của chế độ nhiệt thành hai mùa rõ rệt.
Mùa hè, nhiệt độ trung bình trong tháng lớn hơn 25o C, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, trong đó tháng 7 là tháng nóng nhất với nhiệt độ trung bình là 29,2oC. Trong mùa hè, có những ngày gió đông nam mát mẻ, có ngày có gió tây nam khô nóng. Hoạt động của các dải hội tụ nhiệt đới gây mƣa lớn và giông bão bất thƣờng. Mùa đông có nhiệt độ trung bình trong tháng dƣới 20oC kéo dài từ tháng 12 năm trƣớc đến 12 z tháng 3 năm sau.
Tuy nhiệt độ có lúc thấp đến 4,1oC nhƣng do ảnh hƣởng của biển nên không xảy ra hiện tƣợng sƣơng muối. Trong mùa đông, thƣờng gặp các kiểu thời tiết hanh khô, nồm, nắng ấm, lạnh ẩm và mƣa phùn. Sự điều hòa nhiệt ẩm ở vùng ven biển Thái Thụy rõ rệt hơn những vùng xa biển, biên độ nhiệt trung bình trong năm là 12,8 oC, trong khi ở thành phố Thái Bình là 13,1oC. Khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo thuận lợi cho cây trồng vật nuôi.
Những tháng mùa đông, có thể gieo trồng các loại cây cận nhiệt đới và ôn đới, tạo sản phẩm tiêu thụ trong vùng và xuất khẩu. Song vùng đất này cũng có những khó khăn do thời tiết đem lại, là nơi đầu sóng ngọn gió nên mùa bão nổi thƣờng tràn qua Thụy Xuân, gây nhiều thiệt hại. Tác động bất lợi của tự nhiên gây ra ngập lụt, vỡ đê, nƣớc mặn xâm nhập vào sâu đất liền gây thiệt hại mùa màng, nhà cửa, đôi khi còn cƣớp đi sinh mạng con ngƣời. "Trận bão ngày 24/6/1929 còn ghi đậm dấu ấn sâu sắc trong lòng người dân Thụy Xuân; tiếp đó là cơn bão tháng 7/1955 kèm theo gió lớn, mưa nhiều, sóng to, nước biển dâng tràn đã xóa đi dấu vết của nhiều xóm bãi ngoài đê Ngự Hàm, dọc bờ biển Thụy Xuân - Thụy Trường - Thụy Hải" [2, tr.
Tuy vậy, để sống hòa hợp với thiên nhiên, tận dụng các điều kiện thuận lợi và hạn chế tác hại của tự nhiên, ngƣời dân đã biết huy động trí tuệ, sức lực của mình đắp đê, đào hệ thống kênh mƣơng chống úng ngập, tƣới tiêu, dùng các biện pháp thủy lợi để thau chua, rửa mặn, cải tạo đất đai phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất. Thủy văn Hàng năm đón nhận lƣợng mƣa lớn (1700 - 2200 mm). Hệ thống sông ngòi dày đặc, các ao hồ, đầm nhỏ nằm rải rác, xen kẽ với với làng xóm hoặc ven đê, lại tiếp nhận một lƣợng nƣớc lớn từ các sông: Sông Trà Lý, sông Hóa, sông Diêm Hộ, sông Hệ tạo nên một hệ thống thủy văn phong phú. Lƣợng nƣớc biển lớn với chế độ thủy triều ảnh hƣởng trực tiếp đến sản xuất nông 13 z nghiệp và vận tải, nhiều nhất vào các tháng 1, 2, 3.
Các tháng này mực nƣớc ngầm, nƣớc mặt trong đất liền thấp. Khi triều cƣờng, nƣớc mặn thâm nhập vào đồng ruộng làm cho đồng ruộng bị nhiễm mặn. Mặt khác, thủy triều dâng có tác dụng làm cho nguồn nƣớc mặt dâng cao, có lợi cho các vùng lấy nƣớc ngọt tƣới cho đồng ruộng. Về các tháng mùa mƣa, khi triều thấp có thể tiêu nƣớc từ các vùng ngập úng ra biển.
Khi tiêu úng ra biển, dòng nƣớc đem theo nhiều tác nhân bất lợi cho mùa màng, giúp thau chua rửa mặn, giải phóng môi trƣờng nƣớc bị ô nhiễm. Thổ nhưỡng Đất của làng Phấn Vũ là loại đất nhiễm mặn, đất thƣờng chƣa ổn định, phân tầng chƣa rõ rệt, thƣờng có tầng hữu cơ là xác thực vật. Điều này do ảnh hƣởng của nƣớc biển ngầm và kênh rạch ven biển. Mức độ nhiễm mặn thay đổi theo mùa lũ cạn và ở các độ sâu khác nhau.
Đất mặn có hàm lƣợng hữu cơ cao, dinh dƣỡng khá. Tuy nhiên độ mặn lại là yếu tố khống chế sản xuất, cũng chính vì thế nên Phấn Vũ trồng trọt rất ít, ngƣời dân chủ yếu làm nghề nuôi trồng và đánh bắt, khai thác thủy hải sản. Động thực vật 1. Thực vật Phấn Vũ nói riêng và Thái Bình nói chung không có đồi núi nên các nhóm cây tự nhiên rất nghèo nàn, chủ yếu là cây trồng.
Trong đó, cây lƣơng thực là nhóm cây chủ đạo, bao gồm lúa, ngô, khoai, sắn. Rau quả bao gồm rau quả vụ đông nhƣ: Su hào, bắp cải, xà lách, súp lơ, cà chua, đậu, đỗ. và rau quả vụ hè: Rau muống, cải xanh, rau đay, bí ngô, bí đao, cà, mƣớp. Vụ đông và vụ đông xuân rau rất phong phú.
Bên cạnh đó, thực vật ngập mặn nhƣ: Vẹt, bần, sú rất phát triển cùng với các loại sinh vật biển tạo nên hệ sinh thái rừng ngập mặn đa dạng, phong phú. Động vật Xã Thụy Xuân nói chung và làng Phấn Vũ nói riêng là nơi ít có quỹ đất cho thực vật tự nhiên phát triển, vì vậy chỗ trú ẩn cho các loài động vật tự nhiên cũng rất ít. Chỉ có một số loại chim nhƣ: Cò, diệc, chích chòe; các loài động vật biển nhƣ: Tôm, cá, mực, cua, còng, cáy, don, día, ngao… Còn lại, động vật chủ yếu là động vật nuôi, bao gồm: Động vật nuôi trên cạn nhƣ trâu, bò, lợn, gà, vịt, ngan; động vật nuôi dƣới nƣớc nhƣ ngao, cua, cá, tôm nƣớc lợ, nƣớc ngọt: Tôm sú, cá song, cá bớp, cá vƣợc. Một số vấn đề lịch sử và cƣ dân 1.
Lịch sử hình thành làng Căn cứ vào kết quả nghiên cứu trong cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Thái Thụy, cuốn Địa chí Thái Bình, có thể thấy cũng nhƣ các xã ven biển nằm ở phía Đông Bắc huyện Thái Thụy, làng Phấn Vũ, xã Thụy Xuân không nằm ngoài quá trình hình thành trải qua hàng chục vạn năm của vùng đồng bằng ven biển Bắc Bộ. Trải qua quá trình lấn biển, đất đai xã Thụy Xuân nói chung, làng Phấn Vũ nói riêng đã nhiều lần chìm nổi. Khoảng 2500 năm trƣớc, địa chất khu vực mới ổn định, mực nƣớc biển rút dần, để lộ ra các vùng đất với nhiều gò đống, đầm lầy, đất đai Thụy Xuân dần hình thành và bắt đầu xuất hiện luồng cƣ dân di cƣ theo đƣờng biển về đây hội tụ sinh sống. Tuy nhiên, do sự khó khăn hiếm hoi về mặt tƣ liệu nên chƣa đủ điều kiện làm rõ đƣợc tên tuổi, địa bàn hành chính của Thái Thụy (trong đó có Phấn Vũ - Thụy Xuân) trong thời kỳ dựng nƣớc trƣớc công nguyên và nghìn năm Bắc thuộc.
"Đến thế kỷ thứ X từ các triều đại Đinh - Lê - Lý - Trần trở đi cùng với thắng lợi trong đấu tranh chống ngoại xâm, củng cố nền độc lập thì cương vực Thái Thụy mới dần rõ nét" [5, tr. Cuối thế kỷ XVIII, Thái Thụy nằm trong 3 huyện của 2 phủ: "huyện Thụy Anh, huyện Đông Quan của phủ Thái Bình (đời Tây Sơn gọi là phủ Thái Ninh) và huyện Thanh Lan (hoặc Thanh Quan) của phủ 15 z Tiên Hưng" [5, tr.