Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận Chương 2: Khái quát văn học dân gian Cao Lan Chương 3: Văn học dân gian Cao Lan nhìn từ không gian sinh tồn Chương 4: Văn học dân gian Cao Lan nhìn từ không gian thiêng 19 20 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Về nguồn gốc và lịch sử tộc người Cao Lan ở Việt Nam Với vị trí chiến lược đặc biệt và những trầm tích văn hóa độc đáo, từ lâu Việt Nam đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các học giả nước ngoài. Với tộc người Cao Lan, từ đầu những năm 1900, lần đầu tiên, các học giả người Pháp đã điều tra, khảo sát về nguồn gốc tộc người, các đặc điểm đất đai, canh tác và một số nét văn hóa truyền thống của Cao Lan.
Năm 1902, Bonifacy đã công bố công trình Một cuộc công cán ở vùng đất người Mán từ tháng Mười 1901 đến cuối tháng Chạp 1902, trong đó ông tập trung nghiên cứu ngọn nguồn tên gọi, nguồn gốc tộc người từ truyền thuyết dân gian và các yếu tố dân tộc chí của các tộc người phía Bắc Việt Nam. Theo tư liệu này, “Người Cao Lan cư trú ở khắp vùng trung du Bắc Kỳ, người ta thấy họ ở Trung Quốc, trong tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Họ không vượt qua sông Hồng ở phía Tây. Họ đều nói một thứ phương ngôn Tày và người ta có thể cho rằng đó hoặc là một hình thức chuyển từ tiếng Mán (Dao) sang tiếng Tày, hoặc – điều này có vẻ dễ chấp nhận hơn – họ đã bỏ tiếng nói xưa kia của mình để thu nhận thứ tiếng được nói trong vùng mà họ cư trú, như người Mán Quần Cộc”[23].
Về quá trình di cư, tác giả viết: “Ở thời kỳ giặc giã, phần lớn người Cao Lan đã chạy trốn vào vùng Đồng Văn gần sông Đà. Năm 1893 họ trở về vùng Phú Yên, nhưng mãi sau này họ mới tới ở các làng cũ của họ”[23]. Ở vùng Cao Lan, tác giả đã chứng kiến và theo dõi việc may quần áo, trồng bông trên rẫy, tuốt bông, kéo sợi, dệt, nhuộm chàm hoặc nhuộm củ nâu. Chế độ của họ là chế độ phụ quyền, nhưng người đàn bà được hưởng quyền tự 21 do nhiều hơn.
Chồng người đó chỉ có thể ruồng bỏ được người đó khi chị ta đồng ý… Năm 1904, Bonifacy công bố Chuyên khảo về người Mán Quần Cộc. Ông cho biết sáu bộ lạc lớn tự cho mình là con cháu của Pon-Minh Hú đều có cách phát âm các chữ khác nhau, có thể tập hợp thành các nhóm: 1. Theo tác giả, “Trong các sách của họ, tất cả những người này đều nhận mình là con của núi (Sơn tử), nhưng trong tiếng Nôm, từ này được dùng để chỉ người Lam Điền và có lẽ cả người Cao Lan. Tất cả các truyện truyền kỳ viết về các người con của núi đều nói tới sáu bộ lạc này.
Pon-Hu có sáu con trai và sáu con gái, những người này lấy nhau sinh ra các bộ lạc đó. Trong các văn bản Trung Quốc, các bộ lạc này thường mang tên Man (hang hoặc thung lũng)”[24]. Đến năm 1905, Bonifacy công bố tiếp chuyên luận Giản chí về người Mán Cao Lan, trong đó khái quát những nét cơ bản về địa vực, làng mạc, nhà cửa, trang phục, thức ăn, nghề nghiệp, các nghi lễ trong gia đình, tôn giáo,… Về tên gọi, ông viết: “Họ tự gọi là Cao Lan, và San-tsây mà chúng ta đọc theo tiếng An Nam là Sơn-tỉ hoặc Sơn–tử. Chữ Sơn nghĩa là Núi, còn chữ Tỉ nghĩa là màu trắng hay màu đỏ có vẻ như chẳng có ý nghĩa gì cả (…).
Những người láng giềng gọi họ là Cao Lan, ít gọi là Sơn Tỉ”[25]. Về nguồn gốc bộ lạc, tác giả cho biết: tổ tiên của người Cao Lan ở tây Hương Sơn, thuộc tỉnh Quảng Đông. Từ thời Minh họ rời bỏ quê hương đi về Quảng Tây, ở Nam Ninh rồi đi vào Việt Nam. Họ sinh cơ lập nghiệp ở Sơn Dương được khoảng bốn đời, theo dấu của quan lại cho phép người Cao Lan làm ăn tại địa phương là đề năm Quang Trung thứ 4, tức năm 1791.
Ở huyện Hàm Yên, Sơn Dương, phủ Yên Bình, người Cao Lan nói tiếng Tày, người ta gọi là Cao Lan hay San Cháy và không phân biệt hai bộ lạc này. Đặc biệt, trong công trình này, Bonifacy đã ghi chép lại câu chuyện thú vị liên quan đến nguồn gốc tộc người, trong đó có Cao Lan. Chúng tôi xin trích lại câu chuyện: “Bàn Cổ có hai con trai và mười hai con gái, người con cả là tổ tiên của người Hán, người con thứ là tổ tiên của người Kinh. Còn mười hai 22 người con gái, nhà vua không thể gả chồng hết được.
Một cô tổ tiên của người Mán Đại bản, lấy chồng khỉ đầu người đuôi dài, cho nên người phụ nữ trong bộ lạc mặc áo vạt dài giống đuôi khỉ. Một cô khác lấy chồng chó, tức tổ tiên của người Cao Lan, cho nên người phụ nữ mặc áo thêu hình thang trên bả vai, tượng trưng cho vết cắn của con chó, và dưới cánh tay thì khâu những miếng vải xanh và trắng tượng trưng cho những vết chân của con chó…”[25]. Theo tư liệu của Mạc Đường, năm 1935, trong công trình Groupes ethniques de L’indochine (Dân tộc Đông Dương), D.Rozarie đã phân chia các dân tộc miền Bắc Việt Nam ra thành bảy nhóm người mà tác giả gọi là bảy tộc hệ. Đó là Việt 1, Tày 2 (gồm các tiểu nhóm “sous groups, Thái Đen và Trắng, Nùng, Nhắng, Thu Lao, Lự), Mán (gồm cả Cao Lan và Pa Tẻng), Mèo 4, Mường 5, Lô Lô 6 (gồm cả Phù Lá, Xá Phó và Hà Nhì), tộc hệ khác gồm các tiểu nhóm Trọng Gia Quý Châu, Lào, La Quả, Lô Lô, Pu Péo và La Chí [77, tr.
Có thể nói, số lượng nghiên cứu về Cao Lan của các học giả nước ngoài còn hạn chế và phần lớn tập trung vào những mô tả địa lí, tập quán canh tác, nhà cửa và một số phong tục, tín ngưỡng. Mặt khác, một số quan điểm đưa ra, nhất là việc gộp nhiều tộc người vào nhóm Mán đến nay đã không còn phù hợp, bởi thực tế, nhiều tộc người đã khẳng định vị trí độc lập của mình trong cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, những nghiên cứu trên đã cung cấp những thông tin quan trọng về nguồn gốc lịch sử, quá trình di cư, định cư cũng như những nét văn hóa cơ bản của Cao Lan trong những giai đoạn đầu khi tộc người này đặt chân và sinh sống trên đất nước Việt Nam. Ở Việt Nam, đến nay, các nghiên cứu ở trong nước đều thống nhất rằng, Cao Lan là tộc người vốn từ Trung Quốc (khu vực Quảng Đông, Quảng Tây) di cư sang Việt Nam vào cuối đời nhà Minh, đầu thời nhà Thanh cách đây khoảng 300 – 400 trăm năm (khoảng giữa những năm 1640 – 1660).
Tuy nhiên vấn đề quá trình tộc người Cao Lan vẫn còn nhiều giả thuyết, nhất là việc xác định nguồn gốc Cao Lan trong mối quan hệ với các tộc người khác cùng di cư sang Việt Nam. 23 Bế Viết Đẳng trong bài viết “Một số vấn đề về lịch sử các tộc người” (in trong Vấn đề xác định thành phần các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, 1975) cho biết: “Lịch sử cư trú của người Cao Lan – Sán Chỉ ở Việt Nam đã khá lâu đời, trong đó có những nhóm người đã hòa vào dân tộc khác, còn những nhóm người mang tên Cao Lan – Sán Chỉ hiện nay có thể cũng chỉ khoảng 300 – 400 năm nay. Ở người Cao Lan – Sán Chỉ có những yếu tố chung về phong tục tập quán, có quan hệ thân thuộc chặt chẽ. Song nhóm người Cao Lan nói tiếng thuộc ngôn ngữ Tày – Thái, còn nhóm Sán Chỉ nói thuộc ngôn ngữ Hoa.
Có thể trong quá trình lịch sử nhóm người Sán Chỉ, Sín, Đãn là những nhóm người có nguồn gốc Tày – Thái đã tiếp xúc với tiếng Hoa”[227, tr. Khi nghiên cứu đặc điểm nhân chủng các tộc người ngôn ngữ Tày – Thái (trong đó có Cao Lan), Nguyễn Đình Khoa đã có nhận diện khái quát về nguồn gốc của các tộc người này: “Như vậy suốt một thời gian dài những cộng đồng cư dân thuộc ngôn ngữ Tày – Thái đã chịu chung một số phận lịch sử như nhau, trong số đó nhiều tộc người có thể cùng chung một nguồn gốc tổ tiên. Nhưng trải qua hàng mấy ngàn năm, với những biến cố liên tiếp của lịch sử, do tiếp cận với nhiều tộc người trong nhiều môi trường và hoàn cảnh khác nhau nên họ không khỏi đã phân hóa về nhiều mặt, kể cả phương diện đời sống xã hội đến con người cụ thể. Mức độ phân hóa từng mặt tất nhiên sẽ đậm nhạt khác nhau tùy điều kiện từng lúc, từng nơi đối với mỗi tộc người”[105, tr.
Nhận diện này của Nguyễn Đình Khoa, một mặt cho thấy mối quan hệ lịch sử của các tộc người, mặt khác là cơ sở để nghiên cứu sự phân li của mỗi tộc người trên các phương diện sinh học và văn hóa. Các phân tích nhân chủng học được tác giả sử dụng rất kĩ đối với các nhóm Tày Nùng, Tày Thái nhưng không thấy nói về Cao Lan và Sán Chí. Khi nói về Cao Lan – Sán Chí, các tác giả công trình Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) cho biết: “Địa bàn cư trú trước đây của họ là vùng giáp nhau của ba tỉnh Hồ Nam, Quảng Tây và Quảng Đông (Trung Quốc). Sau đó họ dần dần chuyển cư xuống tây nam Lưỡng Quảng.
Trước khi di cư vào Việt Nam, người Cao Lan – Sán Chỉ quần cư đông đảo tại vùng Thập 24 Vạn Đại Sơn – Bạch Vân Sơn, nằm sát biên giới Việt – Trung hiện nay. Nhiều tài liệu cho thấy, đợt di cư lớn vào miền trung du Bắc Bộ Việt Nam đã cách đây khoảng bốn trăm năm”[228, Tr. Theo Lâm Quý (một trí thức người Cao Lan), “những thiết chế cai trị khắc nghiệt của các triều đại phong kiến Trung Quốc làm cho dân đen bần cùng khổ ải, giặc giã nổi lên liên miên, đời sống khó khăn điêu đứng, họ phải đứng lên đấu tranh hoặc phải di cư đi nơi khác sinh sống”[149, tr. Tư liệu của Lâm Quý còn cho rằng, hai tộc người Sán Chí và Cao Lan đoàn kết nổi lên xưng vương chống lại triều đình nhà Thanh.
Đây là phong trào khởi nghĩa nông dân dưới sự chỉ huy của hai tộc trưởng người Cao Lan và Sán Chí có tên là Nịnh Văn Bính và Lý Văn Thân nhưng bị đàn áp.