Tổng quan luận án
Văn hóa Việt Nam mang đặc trưng đa tộc người trong một cấu trúc thống nhất. Cùng với dân tộc Kinh giữ vai trò trung tâm, các dân tộc thiểu số đóng góp vào diện mạo chung bằng kho tàng văn hóa và văn chương truyền miệng. Người Cao Lan (thường được gọi chung trong nhóm Sán Chay hoặc Cao Lan – Sán Chí) cư trú chủ yếu ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc, tập trung đông nhất tại tỉnh Tuyên Quang.
Kho tàng văn học dân gian Cao Lan từ nửa cuối thế kỷ XX đã được một số nhà nghiên cứu sưu tầm, giới thiệu. Tuy nhiên, các công trình chủ yếu dừng lại ở việc tập hợp tư liệu ban đầu, mô tả khái quát hoặc nghiên cứu một số thể loại đơn lẻ. Trước thời điểm luận án được thực hiện, chưa có công trình nào nghiên cứu văn học dân gian Cao Lan một cách toàn diện từ góc độ văn hóa tộc người. Trong bối cảnh văn hóa truyền thống của người Cao Lan đang có sự biến đổi nhanh chóng, việc nghiên cứu văn học dân gian gắn liền với đời sống văn hóa tộc người thông qua khảo sát thực địa là yêu cầu cấp thiết.
Mục đích nghiên cứu của luận án là vận dụng lý thuyết văn hóa học như một công cụ, sử dụng tri thức văn hóa tộc người để lý giải các hiện tượng văn học dân gian. Luận án hướng đến làm rõ mối quan hệ tương tác hai chiều giữa văn học dân gian và văn hóa tộc người, nhận diện đặc điểm đời sống, tâm thức của người Cao Lan, đồng thời đóng góp về mặt phương pháp luận cho việc nghiên cứu văn học dân gian trong môi trường sinh thành và lưu truyền.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung:
- Nghiên cứu hệ thống lý thuyết về văn học dân gian, văn hóa tộc người, không gian xã hội làm nền tảng; kết hợp tri thức dân tộc học, nhân học, tâm lý học tộc người để bổ trợ cho quá trình nghiên cứu.
- Phân tích, lý giải các hiện tượng văn học dân gian Cao Lan qua góc nhìn văn hóa tộc người (đây là nhiệm vụ trọng tâm).
- Định hình bản sắc văn hóa Cao Lan trong mối quan hệ với các tộc người lân cận (nhiệm vụ này được giải quyết lồng ghép trong các phân tích cụ thể).
Đối tượng nghiên cứu là văn học dân gian Cao Lan nhìn từ văn hóa tộc người.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:
- Ngữ liệu khảo sát: Luận án tập trung vào hai thể loại chính là truyện cổ và dân ca (sịnh ca). Nguồn ngữ liệu xuất bản bao gồm các công trình của Phương Bằng, Lâm Quý, Ngô Văn Trụ, Đỗ Thị Hảo, Nguyễn Xuân Cần, Trần Văn Lạng và Đặng Thị Hường. Ngoài ra, luận án sử dụng nguồn ngữ liệu điền dã trực tiếp gồm các truyện cổ mới thu thập và các đêm hát sịnh ca do các thầy cúng cung cấp, dịch nghĩa. Các thể loại khác như tục ngữ, câu đố, truyện thơ được sử dụng làm dẫn dụ bổ trợ.
- Phạm vi lý thuyết: Vận dụng quan điểm về "không gian xã hội" của Georges Condominas để khảo sát, soi chiếu các hiện tượng văn học dân gian.
- Phạm vi không gian và địa bàn khảo sát: Địa bàn cư trú của người Cao Lan tại các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Giang; trong đó địa bàn trọng tâm là tỉnh Tuyên Quang. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, tỉnh Tuyên Quang có 61.343 người Cao Lan, chiếm 8,46% dân số toàn tỉnh (đứng thứ 4 sau Kinh, Tày, Dao) và chiếm 36,2% tổng số người Cao Lan trên cả nước (169.410 người).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan đến người Cao Lan theo bốn nội dung chính:
Về nguồn gốc và lịch sử tộc người Cao Lan:
- Các học giả người Pháp đầu thế kỷ XX: Bonifacy (1902, 1904, 1905) qua các công trình khảo sát về người Mán, chuyên khảo người Mán Quần Cộc và giản chí về người Mán Cao Lan đã ghi nhận người Cao Lan cư trú ở vùng trung du Bắc Kỳ, nói phương ngôn Tày, có nguồn gốc từ Tây Hương Sơn (Quảng Đông), chuyển qua Quảng Tây rồi vào Việt Nam (ghi nhận tại Sơn Dương năm 1791 dưới thời Tây Sơn). Bonifacy cũng ghi chép truyền thuyết về nguồn gốc bộ lạc liên quan đến mười hai người con gái của Bàn Cổ. D. Rozarie (1935) xếp người Cao Lan vào nhóm Mán trong công trình Groupes ethniques de L’indochine.
- Các nhà nghiên cứu trong nước: Bế Viết Đẳng (1975), Nguyễn Đình Khoa (khi nghiên cứu nhân chủng học nhóm Tày - Thái), nhóm tác giả Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) (1978), Lâm Quý (khảo cứu gia phả các dòng họ Lâm, Trần, Hoàng, Nịnh bắt nguồn từ vùng núi Thập Vạn Đại Sơn - Bạch Vân Sơn, gắn với phong trào khởi nghĩa của Nịnh Văn Bính và Lý Văn Thân), Nguyễn Xuân Cần và Trần Văn Lạng (2012, nghiên cứu gia phả họ Nịnh tại Đại Dực Động năm 1743). Các nghiên cứu thống nhất người Cao Lan di cư sang Việt Nam khoảng 300 - 400 năm trước (cuối Minh đầu Thanh), riêng người Sán Chí có thể có mặt khoảng 500 năm. Tại Tuyên Quang, người Cao Lan định cư muộn hơn, khoảng hơn 200 năm.
Về thành phần tộc người và tộc danh Cao Lan:
Tài liệu lịch sử và nghiên cứu dân tộc học tồn tại 4 nhóm quan điểm:
- Nhóm 1 (Xếp Cao Lan vào nhóm Mán/Dao): Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục (1962), Đại Nam nhất thống chí, Minh Đô Sử, Lã Văn Lô (1963), Nguyễn Trắc Dĩ (1972), Mạc Đường (1972), Đặng Nghiêm Vạn (2004).
- Nhóm 2 (Xác định Cao Lan là tộc người riêng biệt, không thuộc Mán/Dao): Chu Quang Trứ (1964), Phù Ninh - Nguyễn Thịnh (1999), Nguyễn Văn Lợi (2002).
- Nhóm 3 (Coi Cao Lan và Sán Chí là một dân tộc mang tên chung Sán Chay): Bế Viết Đẳng (1972, 1974), Nguyễn Nam Tiến (1972, 1975), Đặng Nghiêm Vạn (2004), Nghị quyết tọa đàm của Ban chấp hành Đảng Lao Động Việt Nam huyện Sơn Động năm 1973 (được trích dẫn bởi Nguyễn Xuân Cần và Trần Văn Lạng, 2012).
- Nhóm 4 (Khẳng định Cao Lan và Sán Chí là hai tộc người độc lập): Bảng thống kê của Ủy ban Dân tộc Trung ương (1959), Bản đồ Ngôn ngữ - Dân tộc học Đông Dương (1940), G. C. Apentrencô (1960), Bản đồ Việt Nam (1964), Phạm Hoằng Quý (1996), Nguyễn Khắc Tụng (2004), Khổng Diễn (2004), Trần Bình (2004), Nguyễn Văn Lợi (2004). Các tác giả này chỉ ra sự khác biệt cơ bản về ngôn ngữ (tiếng Cao Lan thuộc ngữ chi Tai, tiếng Sán Chí thuộc nhóm Hán) và ý thức tự giác tộc người.
Về văn hóa và văn học dân gian Cao Lan:
- Về văn hóa: Phù Ninh - Nguyễn Thịnh (Văn hóa truyền thống Cao Lan, 1999), Khổng Diễn - Trần Bình (Dân tộc Sán Chay ở Việt Nam, 2003), Lâm Quý (Văn hóa Cao Lan, 2004), Đặng Chí Thông (Lễ hội truyền thống của người Cao Lan ở Tuyên Quang), Phan Lương Hùng (Vị trí của tiếng Cao Lan trong các ngôn ngữ Tai).
- Về văn học dân gian: Sưu tầm truyện cổ có Lâm Quý và Phương Bằng (1983, 23 truyện), Lâm Quý (2002, 21 truyện), Dương Huy Thiện (2002), Triệu Thị Linh (2005, khảo sát truyện về người mồ côi). Dân ca và sịnh ca có Phương Bằng (1981), Ngô Văn Trụ (2006, 2010), Đỗ Thị Hảo (2011), Triệu Thị Linh (2008). Truyện thơ có Lê Hồng Sinh (2003, nghiên cứu tác phẩm Kó Lau Slam).
Về hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa:
Các công trình lý thuyết và chuyên luận của Đỗ Lai Thúy (2008), Lê Nguyên Cẩn (2013), Nguyễn Thị Bích Hà (2018), cùng các luận án của Ngô Minh Hiền (2009), Lương Minh Chung (2012), Trần Thị Lệ Minh (2013), Hùng Thị Hà (2015).
Khoảng trống nghiên cứu: Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc miêu tả văn hóa thuần túy hoặc phân tích văn học theo thi pháp, ngôn từ thể loại. Chưa có nghiên cứu nào kết hợp hệ thống tri thức văn hóa tộc người và khung lý thuyết không gian xã hội để giải mã toàn diện các hiện tượng văn học dân gian Cao Lan trong mối quan hệ cấu trúc với đời sống tộc người.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên lý thuyết không gian xã hội của nhà nhân học Georges Condominas (L'Espace social. À propos de l'Asie du Sud-Est). Condominas định nghĩa không gian xã hội là không gian được xác định bởi tập hợp các hệ thống quan hệ đặc trưng cho một nhóm người nhất định. Khung lý thuyết này gồm năm hệ thống quan hệ cơ bản:
- Quan hệ với không gian và thời gian sinh thái: Cung cấp nguồn tài nguyên cho sự tồn tại và quy định nhịp điệu sinh hoạt theo mùa vụ.
- Quan hệ với môi trường tự nhiên: Các phương tiện và tri thức văn hóa do con người sáng tạo để khai thác hệ sinh thái.
- Quan hệ về trao đổi của cải: Hệ thống kinh tế nội bộ và trao đổi với bên ngoài (phân biệt của cải tự sản xuất trong làng và của cải mang từ đồng bằng lên).
- Quan hệ về giao tiếp và ngôn ngữ: Công cụ thiết lập quan hệ xã hội, tiêu chí nhận diện tộc người và dấu hiệu giao lưu văn hóa.
- Quan hệ họ hàng và xóm giềng: Quan hệ thân tộc điều chỉnh hành vi đạo đức và quan hệ láng giềng tạo lập hương ước, luật tục tự quản của làng bản.
Trong luận án, năm hệ thống quan hệ này được quy nạp thành hai phạm vi nghiên cứu chính: không gian sinh tồn (đời sống thế tục, hoạt động kinh tế, ứng xử môi trường, tổ chức xã hội) và không gian thiêng (đời sống tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục).
Phương pháp nghiên cứu bao gồm:
- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Phân tích biểu tượng, cổ mẫu trong văn học dân gian dưới góc nhìn văn hóa.
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Quan sát thực địa; phỏng vấn sâu cá nhân theo 3 nhóm lứa tuổi (10 - 20 tuổi, 40 - 60 tuổi, trên 70 tuổi), phỏng vấn cán bộ quản lý văn hóa và người trông coi di tích; ghi chép tư liệu hồi cố.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu văn hóa, văn học dân gian Cao Lan với các tộc người lân cận (Tày, Nùng, Thái, H'mông, Dao) để xác định điểm tương đồng, khác biệt và tiếp biến văn hóa.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức của văn hóa học, nhân học, ngôn ngữ học và xã hội học.
- Các thao tác bổ trợ: Thống kê và sơ đồ hóa.
Nguồn ngữ liệu khảo sát được tổng hợp từ các ấn phẩm nghiên cứu và nguồn điền dã thực tế:
| STT |
Năm công bố |
Tên văn bản |
Tác giả |
Nhà xuất bản |
| 1 |
1981 |
Dân ca Cao Lan |
Phương Bằng |
Văn hóa |
| 2 |
1983 |
Truyện cổ Cao Lan |
Lâm Quý, Phương Bằng |
Văn hóa |
| 3 |
1994 |
Kó Lau Slam: Truyện tình thơ Cao Lan |
Lâm Quý |
Văn hóa dân tộc |
| 4 |
1995 |
Chàng Út của ông trời |
Lâm Quý |
Văn hóa dân tộc |
| 5 |
2002 |
Truyện cổ Sán Chay |
Lâm Quý |
Văn hóa dân tộc |
| 6 |
2003 |
Xịnh ca Cao Lan - đêm hát thứ nhất |
Lâm Quý |
Văn hóa dân tộc |
| 7 |
2006 |
Dân ca Cao Lan |
Ngô Văn Trụ |
Văn hóa dân tộc |
| 8 |
2010 |
Dân ca Cao Lan ở Bắc Giang |
Ngô Văn Trụ |
Đại học Quốc gia Hà Nội |
| 9 |
2011 |
Ca thư, những câu hát của người Sán Chay |
Đỗ Thị Hảo |
Đại học Quốc gia Hà Nội |
| 10 |
2012 |
Dân ca Sán Chí ở Kiên Lao – Lục Ngạn – Bắc Giang |
Nguyễn Xuân Cần, Trần Văn Lạng |
Thời đại |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về tộc người và văn hóa, văn học dân gian Cao Lan. Các nguồn tư liệu lịch sử, dân tộc học và gia phả dòng họ xác nhận người Cao Lan di cư từ khu vực Lưỡng Quảng (Trung Quốc) vào Việt Nam khoảng thế kỷ XVII (cuối thời Minh, đầu thời Thanh). Quá trình di cư diễn ra theo nhiều đợt bằng cả đường biển và đường bộ qua các địa bàn Quảng Ninh, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên và sau cùng là Tuyên Quang (cách ngày nay hơn 200 năm).
Về văn hóa vật chất, người Cao Lan có truyền thống ở nhà sàn. Ngôi nhà sàn mang biểu tượng con trâu thần: bốn cột cái là bốn chân trâu, xà kèo dằng níu là xương trâu, mái lợp và vách là da trâu; đầu nhà là nơi thờ phụng, giữa nhà là nơi sinh hoạt, cuối nhà là bếp. Phương thức canh tác gồm làm rẫy (dùng gậy chọc lỗ, giỏ đựng thóc, cuốc bướu, hài nhắt, chày gỗ) và làm nương ruộng cạn ven sông (dùng cày bừa với sức kéo trâu bò). Trang phục gồm 4 nhóm: thường phục, lễ phục, trang phục cưới và tang phục.
Về văn hóa tinh thần, người Cao Lan tiếp thu các yếu tố của Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo, không có chùa chiền riêng mà lập đình làng và miếu thờ thần. Tín ngưỡng gia tộc tập trung vào việc thờ cúng Thần Bảo Gia; mỗi dòng họ thờ một vị thần khác nhau và có sách cúng riêng. Tín ngưỡng cộng đồng gồm thờ Thành Hoàng, Thần Nông, Tài Lịch, Bà Mụ Nam Đường, Màng Sênh. Tục ma chay có nghi thức làm nhà xe cho người chết. Tiếng Cao Lan được xác định thuộc nhóm Tai Bắc trong ngữ hệ Tai-Kadai (theo nghiên cứu của Phan Lương Hùng). Nghệ thuật diễn xướng có các điệu múa gắn với nghi lễ (múa phát đường, múa chim gâu, múa xúc tép, múa đâm cá, múa thắp đèn, múa Tam Thanh) và nhạc cụ đặc trưng là trống tang sành.
Chương này cũng thiết lập khung phân tích không gian xã hội của G. Condominas làm điểm tựa lý thuyết để triển khai các chương sau.
Chương 2: Khái quát văn học dân gian Cao Lan
Chương 2 khảo sát diện mạo các thể loại văn học dân gian Cao Lan, tập trung vào thể loại truyện cổ và dân ca.
Về truyện cổ Cao Lan:
Tổng số văn bản khảo sát là 52 bản kể, gồm 30 truyện đã công bố (qua các tập sách của Lâm Quý, Phương Bằng, Dương Huy Thiện) và 22 truyện chưa công bố (từ nghiên cứu về truyện mồ côi của Triệu Thị Linh và tư liệu điền dã). Người Cao Lan không có sử thi dạng văn xuôi mà có tập sách hát Đêm thứ nhất mang tính chất sử ca kể về cuộc di cư. Luận án phân chia truyện cổ thành các nhóm chủ đề:
| Nhóm chủ đề truyện cổ |
Số lượng văn bản |
Tác phẩm tiêu biểu |
| Trời - Đất và các lực lượng siêu nhiên |
10 |
Vợ chồng trời đất, Hai anh em tài giỏi |
| Quan hệ gia đình |
28 |
Sự tích đèo Phật Tử, Tục dâu họ Hoàng tang bố chồng, Khỉ và vượn, Làu Slam, các truyện về người mồ côi |
| Lao động sản xuất |
03 |
Vì sao phải gặt lúa |
| Đấu tranh xã hội |
04 |
Các truyện chống áp bức, bất công |
| Các chủ đề khác |
07 |
Truyện sinh hoạt, giải thích tự nhiên khác |
- Nhóm Trời - Đất và các lực lượng siêu nhiên: Thể hiện quan niệm nhân hóa tự nhiên qua các hình tượng ông Trời, bà Đất gần gũi. Truyện Vợ chồng trời đất giải thích sự tái tạo loài người sau nạn hồng thủy từ quả bầu và việc nặn hình người từ bùn đất, có các môtíp tương đồng với truyện dân gian của người Dao, Thái, Mường, H'mông, Xá. Truyện đề cao vai trò lao động của con người (như việc giã gạo làm trời phải lùi lên cao).
- Nhóm quan hệ gia đình: Chiếm số lượng lớn nhất (28 truyện). Phản ánh quy tắc dòng họ thông qua sự tích thờ cúng Thần Bảo Gia (như truyện Sự tích đèo Phật Tử giải thích sự phân nhánh họ Lâm Rau thờ Phật Bà Quan Âm và họ Lâm Thịt thờ Ngọc Hoàng; truyện Tục dâu họ Hoàng tang bố chồng giải thích phong tục con dâu mặc áo cưới trong tang lễ). Môtíp người mồ côi (chiếm 22 truyện) phản ánh hiện thực di cư, sự xáo trộn tổ chức xã hội và tâm thức lưu vong của tộc người. Nhân vật Làu Slam trong truyện cùng tên được người Cao Lan tôn vinh thành vị thần Ca hát.
- Nhóm lao động sản xuất: Tiêu biểu là truyện Vì sao phải gặt lúa, gắn với nhân vật Sằn Nông (Thần Nông), giải thích nguồn gốc cây lúa, công việc đồng áng và các hiện tượng tự nhiên như sông Ngân Hà và sao trời.
Về các thể loại khác:
- Dân ca (Sịnh ca): Là hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống, hát đối đáp giao duyên và sử ca giữa nam nữ thanh niên chưa kết hôn (người già giữ vai trò truyền dạy, cố vấn). Ngô Văn Trụ phân chia sịnh ca thành 5 nhóm: Sịnh ca Thsăn lèn (mừng năm mới), Sịnh ca Thsao bạo (đối giao duyên), Sịnh ca Ý, Sịnh ca Kên láu (hát đám cưới), Sịnh ca Tò tan (hát đố).
- Truyện thơ: Tác phẩm tiêu biểu là Kó Lau Slam, gắn liền với tín ngưỡng tôn vinh nữ thần thơ ca.
- Tục ngữ, câu đố, đồng dao, hát ru: Phản ánh kinh nghiệm ứng xử và tri thức canh tác.
Chương 3: Văn học dân gian Cao Lan nhìn từ không gian sinh tồn
Chương 3 phân tích văn học dân gian trong mối quan hệ với không gian sinh tồn (đời sống thế tục).
Văn học dân gian Cao Lan phản ánh trực tiếp phương thức mưu sinh gắn với địa bàn cư trú vùng trung du, đồi núi. Các câu chuyện kể và bài ca ghi lại kinh nghiệm canh tác nương rẫy, kỹ thuật thuần dưỡng động vật, sử dụng sức kéo của trâu bò và quy trình chế biến nông sản. Hình ảnh môi trường tự nhiên (núi rừng, khe suối, hang đá) xuất hiện như không gian sinh tồn trực tiếp của con người.
Quan hệ trao đổi của cải và quan hệ xã hội được thể hiện qua các bài hát dân ca và truyện kể. Văn học dân gian phản ánh thiết chế gia đình phụ hệ, đề cao nghĩa vụ của người cha, người chồng và người con trai cả, đồng thời ghi nhận vị thế lao động của phụ nữ trong khuôn khổ gia đình một vợ một chồng. Mối quan hệ láng giềng, cộng đồng làng bản được duy trì thông qua các khế ước, hương ước truyền miệng, phản ánh tính cố kết nội bộ và tinh thần tương trợ trong lao động sản xuất giữa các gia đình trong cùng bản làng cũng như sự tiếp xúc với các cộng đồng lân cận.
Chương 4: Văn học dân gian Cao Lan nhìn từ không gian thiêng
Chương 4 nghiên cứu văn học dân gian trong không gian thiêng (đời sống tâm linh, tín ngưỡng).
Văn học dân gian bảo lưu thế giới quan đa thần của người Cao Lan. Các văn bản truyện cổ và bài hát cúng giải thích nguồn gốc và vai trò của các vị thần bảo trợ: Thần Bảo Gia (bảo trợ dòng họ), Thành Hoàng (bảo trợ làng bản), Thần Nông (bảo trợ mùa màng), Tài Lịch, Màng Sênh (coi sóc số mệnh) và Bà Mụ Nam Đường.
Mối quan hệ giữa văn học dân gian và nghi lễ thể hiện rõ nét qua các bài ca nghi lễ trong tang ma (đặc biệt là nghi thức làm nhà xe đưa linh hồn người chết về quê hương gốc Thập Vạn Đại Sơn) và các bài diễn xướng trong hội đình làng. Không gian thiêng còn được định hình qua hệ thống chữ Nôm Cao Lan trong các cuốn sách cúng của thầy mo, thầy then, phản ánh sự dung hợp giữa tín ngưỡng bản địa với các yếu tố Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về mặt lý luận: Luận án là công trình đầu tiên vận dụng lý thuyết Không gian xã hội của G. Condominas vào nghiên cứu văn học dân gian của một tộc người thiểu số cụ thể tại Việt Nam. Luận án chứng minh rằng các phương diện của không gian xã hội là sự cụ thể hóa ở chiều sâu của văn hóa tộc người, cung cấp một cách tiếp cận mang tính liên ngành giữa văn học dân gian, văn hóa học và dân tộc học.
- Về mặt thực tiễn:
- Luận án hệ thống hóa diện mạo văn học dân gian Cao Lan, phân loại và phân tích cấu trúc chủ đề của 52 bản kể truyện cổ, làm rõ vị trí của thể loại sịnh ca và truyện thơ.
- Luận án bổ sung nguồn ngữ liệu điền dã mới gồm 22 truyện cổ về người mồ côi và các đêm hát sịnh ca do các nghệ nhân, thầy cúng người Cao Lan cung cấp và dịch nghĩa.
- Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của người Cao Lan tại các địa phương vùng Đông Bắc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nguồn văn bản truyện cổ đã xuất bản của người Cao Lan còn hạn chế (mới có 30 truyện được in chính thức). Các thể loại tục ngữ, câu đố, truyện thơ chưa được khảo sát trọn vẹn toàn bộ văn bản do hạn chế về nguồn tư liệu công bố. Địa bàn điền dã trọng tâm tập trung tại Tuyên Quang, chưa bao quát đồng đều tất cả các địa bàn cư trú khác như Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục sưu tầm, dịch thuật và xuất bản đầy đủ các tập sách cúng, các bài sịnh ca cổ và các truyện cổ còn lưu truyền trong dân gian; mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu văn học dân gian Cao Lan với các nhóm cư dân cùng ngữ hệ Tai-Kadai ở khu vực biên giới và Nam Trung Quốc.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Văn học dân gian, Văn hóa học, Dân tộc học và Nhân học trong việc vận dụng lý thuyết không gian xã hội vào nghiên cứu văn hóa tộc người.
- Các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa, ban dân tộc tại các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Giang trong việc xây dựng chính sách bảo tồn tiếng nói, chữ viết, dân ca sịnh ca và lễ hội truyền thống của người Cao Lan.
- Các phần có giá trị tham khảo cao: Khung phân loại chủ đề truyện cổ Cao Lan; hệ thống tư liệu về cấu trúc dòng họ gắn với tín ngưỡng Thần Bảo Gia; phương pháp phân tích diễn xướng sịnh ca trong không gian văn hóa bản làng.
Câu hỏi thường gặp
1. Người Cao Lan di cư đến Việt Nam vào thời gian nào và hiện nay tập trung đông nhất ở đâu?
Theo các tài liệu lịch sử, dân tộc học và gia phả dòng họ, người Cao Lan di cư từ khu vực Lưỡng Quảng (Trung Quốc) vào Việt Nam khoảng 300 - 400 năm trước (cuối thời Minh, đầu thời Thanh). Hiện nay, người Cao Lan sinh sống chủ yếu ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc, tập trung đông nhất tại tỉnh Tuyên Quang (chiếm 36,2% tổng dân số Cao Lan cả nước theo Tổng điều tra dân số năm 2009).
2. Học thuật có những nhóm quan điểm nào về thành phần tộc người và tộc danh Cao Lan?
Tài liệu học thuật ghi nhận 4 nhóm quan điểm chính:
- Nhóm 1: Cao Lan thuộc nhóm Mán (Dao).
- Nhóm 2: Cao Lan là tộc người riêng biệt, độc lập với người Dao.
- Nhóm 3: Cao Lan và Sán Chí là hai nhóm địa phương của một dân tộc thống nhất mang tên Sán Chay.
- Nhóm 4: Cao Lan và Sán Chí là hai dân tộc độc lập, khác biệt về ngôn ngữ (tiếng Cao Lan thuộc ngữ chi Tai, tiếng Sán Chí thuộc nhóm Hán) và ý thức tự giác tộc người.
3. Truyện cổ Cao Lan được phân loại thành các nhóm chủ đề nào?
Khảo sát 52 bản kể truyện cổ, luận án phân chia thành 4 nhóm chủ đề chính:
- Nhóm truyện về Trời - Đất và các lực lượng siêu nhiên (10 truyện).
- Nhóm truyện về quan hệ gia đình, dòng họ và người mồ côi (28 truyện).
- Nhóm truyện về lao động sản xuất (03 truyện).
- Nhóm truyện về đấu tranh xã hội (04 truyện), cùng 07 truyện thuộc các chủ đề khác.
4. Dân ca Sịnh ca của người Cao Lan có những quy tắc diễn xướng và phân loại ra sao?
Sịnh ca là thể loại dân ca hát đối đáp giao duyên và sử ca, chỉ dành cho nam nữ thanh niên chưa lập gia đình tham gia đối đáp (người già và người đã có gia đình giữ vai trò truyền dạy và cố vấn). Theo nhà nghiên cứu Ngô Văn Trụ, sịnh ca gồm 5 nhóm: Sịnh ca Thsăn lèn (mừng năm mới), Sịnh ca Thsao bạo (đối giao duyên), Sịnh ca Ý, Sịnh ca Kên láu (hát đám cưới) và Sịnh ca Tò tan (hát đố).
5. Luận án vận dụng lý thuyết Không gian xã hội của G. Condominas như thế nào?
Luận án tiếp thu 5 hệ thống quan hệ trong lý thuyết của Georges Condominas (quan hệ không gian - thời gian sinh thái, môi trường, trao đổi của cải, ngôn ngữ - giao tiếp, họ hàng - xóm giềng) và quy nạp thành hai trục phân tích chính: "không gian sinh tồn" (nghiên cứu văn học dân gian phản ánh đời sống vật chất, kinh tế, xã hội thế tục) và "không gian thiêng" (nghiên cứu văn học dân gian gắn với thế giới quan tâm linh, tín ngưỡng, nghi lễ).
Kết luận
Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn học dân gian của người Cao Lan dưới góc nhìn văn hóa tộc người và khung lý thuyết không gian xã hội. Thông qua việc phân tích hệ thống ngữ liệu truyện cổ, sịnh ca và truyện thơ trong mối liên hệ với không gian sinh tồn và không gian thiêng, luận án đã làm sáng tỏ các đặc trưng văn hóa, phương thức mưu sinh và đời sống tâm linh của tộc người. Kết quả nghiên cứu góp phần khẳng định vị trí độc lập của văn hóa Cao Lan trong bức tranh đa dạng của văn hóa các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam, đồng thời cung cấp nguồn tư liệu học thuật phục vụ công tác bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.