Luận án về hát văn hầu ở Hà Nội: Khám phá và phân tích

Tài liệu nghiên cứu Luận án âm nhạc hát văn hầu ở hà nội, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Chuyên ngành

Âm nhạc cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

153
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Hát văn hầu tại Hà Nội

Hát văn hầu là một thể loại âm nhạc truyền thống gắn liền với tín ngưỡng Tứ phủ, đặc biệt phát triển mạnh mẽ tại Hà Nội. Hát văn hầu không chỉ là một hình thức nghệ thuật mà còn là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân nơi đây. Theo thời gian, nghiên cứu văn hóa về Hát văn hầu đã trở thành một lĩnh vực cần thiết để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. Hát văn hầu thường được biểu diễn trong các buổi lễ Hầu bóng, nơi mà các vị thần được thỉnh mời về chứng giám. Điều này cho thấy sự kết nối chặt chẽ giữa nghệ thuật truyền thống và tín ngưỡng dân gian. Hát văn hầu không chỉ đơn thuần là âm nhạc mà còn là một phương tiện để thể hiện lòng thành kính và cầu mong sự che chở từ các vị thần linh.

1.1. Đặc điểm của Hát văn hầu

Hát văn hầu có ba hình thức chính: Hát văn thờ, Hát văn hầu và Hát văn thi. Mỗi hình thức đều có những đặc điểm riêng biệt, phục vụ cho các mục đích khác nhau trong nghi lễ. Hát văn hầu, với vai trò chủ đạo trong các buổi Hầu bóng, thường được thực hiện bởi các cung văn có kinh nghiệm. Họ không chỉ cần có giọng hát hay mà còn phải nắm vững các bản văn và quy tắc của tín ngưỡng. Sự phát triển của Hát văn hầu trong nửa sau thế kỷ XX đã cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của loại hình nghệ thuật này, mặc dù trước đó đã từng bị ảnh hưởng bởi các chính sách bài trừ mê tín dị đoan. Hát văn hầu hiện nay không chỉ là một phần của tín ngưỡng mà còn là một di sản văn hóa cần được gìn giữ và phát huy.

II. Tín ngưỡng Tứ phủ và vai trò của Hát văn hầu

Tín ngưỡng Tứ phủ là một trong những tín ngưỡng dân gian quan trọng của người Việt, có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tâm linh và văn hóa. Hát văn hầu là một phần không thể thiếu trong các nghi lễ của tín ngưỡng này. Tín ngưỡng Tứ phủ không chỉ bao gồm các vị thần mà còn thể hiện sự kết nối giữa con người với thế giới tâm linh. Hát văn hầu, với âm nhạc và lời ca, giúp tạo ra không khí linh thiêng trong các buổi lễ. Mỗi bản văn hầu đều mang trong mình những giá trị văn hóa và tâm linh sâu sắc, thể hiện lòng thành kính của con người đối với các vị thần. Sự phát triển của Hát văn hầu trong bối cảnh hiện đại không chỉ là sự phục hồi mà còn là sự đổi mới, khi mà các nghệ nhân tìm cách kết hợp giữa truyền thống và hiện đại để thu hút thế hệ trẻ.

2.1. Mối quan hệ giữa Hát văn hầu và tín ngưỡng

Mối quan hệ giữa Hát văn hầu và tín ngưỡng Tứ phủ rất chặt chẽ. Hát văn hầu không chỉ là một hình thức nghệ thuật mà còn là một phương tiện để thể hiện lòng thành kính và cầu mong sự che chở từ các vị thần. Trong các buổi lễ Hầu bóng, Hát văn hầu đóng vai trò quan trọng trong việc thỉnh mời các vị thần về chứng giám. Điều này cho thấy sự kết nối giữa âm nhạc và tín ngưỡng, nơi mà âm nhạc trở thành cầu nối giữa con người và thế giới tâm linh. Hát văn hầu không chỉ mang tính chất giải trí mà còn là một phần không thể thiếu trong các nghi lễ, thể hiện sự tôn trọng và lòng thành của người dân đối với các vị thần linh.

III. Giá trị văn hóa và thực tiễn của Hát văn hầu

Hát văn hầu không chỉ là một loại hình nghệ thuật mà còn là một di sản văn hóa quý giá của Hà Nội. Nghiên cứu văn hóa về Hát văn hầu giúp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống. Việc nghiên cứu và ghi chép lại các bản văn, làn điệu Hát văn hầu không chỉ giúp gìn giữ di sản văn hóa mà còn tạo cơ hội cho các thế hệ trẻ hiểu và trân trọng giá trị văn hóa của cha ông. Hát văn hầu cũng có thể được ứng dụng trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật hiện đại, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa của cộng đồng. Sự phát triển của Hát văn hầu trong bối cảnh hiện đại không chỉ là sự phục hồi mà còn là sự đổi mới, khi mà các nghệ nhân tìm cách kết hợp giữa truyền thống và hiện đại để thu hút thế hệ trẻ.

3.1. Hát văn hầu trong đời sống hiện đại

Trong bối cảnh hiện đại, Hát văn hầu đã có những biến đổi mạnh mẽ để phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của công chúng. Nhiều nghệ nhân đã tìm cách kết hợp giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại, tạo ra những sản phẩm nghệ thuật hấp dẫn hơn. Điều này không chỉ giúp Hát văn hầu tồn tại mà còn phát triển mạnh mẽ trong đời sống văn hóa hiện đại. Việc tổ chức các buổi biểu diễn Hát văn hầu tại các sự kiện văn hóa, lễ hội không chỉ thu hút sự quan tâm của công chúng mà còn góp phần nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa của loại hình nghệ thuật này. Hát văn hầu đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người dân Hà Nội, thể hiện sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu, chư Phật, Bồ tát của Phật giáo được đề cao và thỉnh mời đầu tiên trong bản văn. Ví dụ 2: Trích văn Công đồng “Nam mô Phật ngự phương Tây Sen vàng choi chói hiệu nay Di Đà Ngự trước tòa Lưu li bảo điện Phật Thích Ca ứng hiện tự nhiên Đức Từ Thị ngai vàng rờ rỡ 12 Phóng hào quang rực rỡ vân yên Quan Âm ngự trước án tiền Tả hữu Bồ tát, tăng thuyền Già Na Đức Hộ Pháp Vi Đà thiên tướng Vận thần thông vô lượng vô biên” Chư Phật rất nhiều, nhưng trong bản văn Công đồng chỉ thỉnh mời đại diện như đức Phật A Di Đà, Phật Thích Ca, Đức Từ Thị, Quan Âm Bồ tát, Hộ Pháp Vi Đà. Phật A Di Đà là giáo chủ của cõi Tây Thiên cực lạc, an vui. Phật Thích Ca là giáo chủ của cõi đau khổ.

Đức Từ Thị chính là vị Bồ tát Di Lặc. Từ Thị nghĩa là người có lòng nhân từ. Quan Âm hay Quán Âm là tên gọi của Bồ tát Quan Thế Âm. Ngài là vị Bồ tát luôn nghe thấy tiếng kêu ai oán, đau khổ của chúng sinh và sẵn sàng cứu giúp.

Bồ tát Quan Thế Âm khi ở Ấn Độ là nam thần nhưng khi qua Trung Quốc và Việt Nam trở thành nữ thần. Đức Hộ Pháp Vi Đà là thiên tướng hộ trì kinh chú, bảo vệ Phật pháp. Hộ Pháp Vi Đà gồm hai ông là Thiện Đạt thần vương và Vi Đà thiên tướng nhưng vì văn vần nên người ta không đưa được đủ cả hai ông. Sau chư Phật, bản văn Công đồng thỉnh mời tới các vị thần của Đạo giáo.

Ví dụ 3: Trích văn Công đồng “Vua Đế Thích quản cai Thiên chủ Vua Ngọc Hoàng Thiên phủ chí tôn Nhạc phủ ngũ nhạc thần vương Địa phủ thập điện minh vương các tòa Dưới Thoải phủ giang hà hoài hải Trấn Động Đình Bát Hải Long vương” Đoạn văn thỉnh mời các vị Vua từ Vua Đế Thích là vị Vua cai quản Thiên đình. Rồi lần lượt đến bốn vị Vua trị vì bốn phủ. Ngọc Hoàng thượng đế là vị Vua cai quản trên Thiên phủ. Nhạc phủ ngũ nhạc thần vương là năm ông Vua cai quản năm quả núi (Nhạc phủ): đông, tây, nam, bắc, trung ương và đứng đầu là đức Đông Nhạc thiên tề đại sinh nhân Thánh đế quân.

Địa phủ với Thập điện minh vương là mười quan thập điện do vị Vua có hiệu là Bắc âm phong đô đứng đầu. Đại diện Thủy phủ là đức Vua Bát Hải Long vương, thờ ở đền Đồng Bằng, tỉnh Thái Bình. 13 Ngoài ra, đức Tử Vi, Nam Tào, Bắc Đẩu, Nhị thập bát tú, Cửu tinh cũng được mời về. Nam Tào, Bắc Đẩu là những vị thần trông coi các ngôi sao trong hai chòm Nam Tào và Bắc Đẩu.

Trong tín ngưỡng Tứ phủ, Nam Tào và Bắc Đẩu là hai vị Quan hầu cận Ngọc Hoàng thượng đế, chuyên ghi sổ sinh tử. Sau các vị đại diện của Phật giáo, Đạo giáo, bản văn thỉnh mời tới các vị Thánh của tín ngưỡng Tứ phủ, những vị thường giáng đồng trong buổi Hầu bóng. Điểm đáng chú ý là những vị Thánh Tứ phủ được thỉnh mời xen kẽ với các vị thần trong tín ngưỡng dân gian. Tam tòa Thánh Mẫu đứng đầu trong các vị Thánh Tứ phủ được mời về đầu tiên.

Ví dụ 4: Trích văn Công đồng “Cửu trùng Thánh Mẫu thiên đình Bán thiên công chúa Quế Quỳnh đôi bên. Đền Sòng Sơn Địa tiên quốc Mẫu Chốn phủ Dầy nổi dấu Tiên Hương Thỉnh mời Thánh Mẫu đệ tam Xích Lân long nữ ngự đền Thoải cung” Bản văn Công đồng thỉnh Tam tòa Thánh Mẫu lần lượt từ Đệ nhất Cửu trùng Thánh Mẫu (Thiên phủ) cùng đại diện tùy tòng của ngài là Bán thiên công chúa (Bán thiên nghĩa là giữa trời) ngự trên cung Quảng Hàn, Đệ nhị Địa tiên Thánh Mẫu (Địa phủ) và Đệ tam Thoải tiên Thánh Mẫu (Thoải phủ) có hiệu là Xích Lân Long nữ. Ngày nay, một số sách đã xuất bản có nêu Tam toà Thánh Mẫu gồm Mẫu Thượng Thiên mặc áo đỏ ngồi ở giữa, Mẫu đệ nhị Nhạc tiên mặc áo xanh ngồi bên trái và Mẫu đệ tam Thoải phủ mặc áo trắng ngồi bên phải. Theo các nghệ nhân, những người vừa là thầy cúng vừa là cung văn lâu năm đều khẳng định điều đó là không đúng bởi: “Mẫu đệ nhị thuộc tòa Địa tiên, chính thức ngài mặc áo vàng.

Ngày nay, người ta thường nhầm Mẫu Thượng ngàn mặc áo xanh là Mẫu đệ nhị, nhưng thực chất Mẫu Thượng ngàn là Mẫu đệ tứ và là Mẫu bản cảnh của đền Đông Cuông ở Lạng Sơn”1. Phỏng vấn cung văn Hà Cân tại nhà riêng ngày 18 tháng 3 năm 2009. 14 Chỉ ở những nơi thờ chính của Mẫu Liễu Hạnh như phủ Dầy hay phủ Nấp (Nam Định), đền Sòng Sơn (Thanh Hóa), phủ Tây Hồ (Hà Nội) hay những đền thờ vọng thì Mẫu Liễu Hạnh ngồi ở vị trí trung tâm mặc áo đỏ, hai bên là Mẫu đệ tam Thoải phủ mặc áo trắng và là Mẫu đệ tứ Nhạc phủ mặc áo xanh. Lúc này Mẫu Liễu Hạnh vừa là Mẫu Thượng thiên (vì ngài vốn là công chúa Quỳnh Hoa con gái Ngọc Hoàng trên thiên đình do đánh rơi chén ngọc nên bị đày xuống hạ giới) vừa là Mẫu Địa tiên nên ta không thấy xuất hiện Mẫu Địa tiên mặc áo vàng ở nơi thờ ngài.

Trong Tam toà Thánh Mẫu chỉ duy nhất có Đệ nhị Địa tiên, Quỳnh Hoa Dung Liễu Hạnh công chúa vừa có gốc tích thiên thần và nhân thần, có quê quán và lăng mộ ở Nam Định. Ngoài ra, Mẫu Liễu Hạnh là một trong Tứ bất tử của Việt Nam, bởi vậy ngài chiếm vị trí quan trọng trong tín ngưỡng Tứ phủ cũng như trong tâm linh mọi người. Dưới Tam tòa Thánh Mẫu là Năm Quan Hoàng tử hay còn gọi là Ngũ vị tôn Quan gồm Quan đệ nhất (Thiên phủ), Quan đệ nhị (Nhạc phủ), Quan đệ tam (Thoải phủ), Quan đệ tứ (Địa phủ) và Quan đệ ngũ Tuần Tranh (Thoải phủ). Một điều đáng lưu tâm là nếu Mẫu đệ nhị thuộc Địa phủ, Mẫu đệ tứ thuộc Nhạc phủ thì từ hàng Quan trở xuống thứ tự này bị đảo lộn đệ nhị thuộc Nhạc phủ, đệ tứ thuộc Địa phủ.2 Các Quan là những vị hoàng tử con Vua như Quan đệ nhất, Quan đệ nhị, Quan đệ tứ đều là con Ngọc Hoàng thượng đế; Quan đệ tam, Quan đệ ngũ là con Vua Bát Hải Động Đình.

Các ngài thừa lệnh Vua trấn thủ năm phương: đông, tây, nam, bắc, trung ương. Đặc biệt, trước đây trong Ngũ vị tôn Quan thì Quan đệ tam và Quan đệ ngũ là hai vị Thánh có đền thờ riêng,3 có thần tích, có danh tiếng lừng lẫy, được các con nhang đệ tử tôn kính phụng thờ và đặc biệt rất hay giáng đồng. Ví dụ 5: Trích văn Công đồng “Tiếng oai hùng năm Quan hoàng tử Vâng sắc rồng trấn thủ năm phương” 2. Khi chúng tôi đặt câu hỏi vì sao có hiện tượng này, các cung văn cũng là thầy cúng của tín ngưỡng đều chưa đưa ra được lời giải thích thuyết phục và chỉ dừng lại ở việc thừa nhận nguyên tắc đó.

Ngày nay, cả năm vị Quan đều đã có đền thờ riêng. 15 Tiếp theo, bản văn Công đồng mời vị Thái tuế ở bên trái là vị thần cai quản của năm (trong một giáp gồm 12 năm tương ứng có 12 vị thần) và bên phải mời vị Thành hoàng cai quản ở địa phương. Ví dụ 6: Trích văn Công đồng “Tả mời Thái tuế đương niên Hữu quan đương cảnh Thành hoàng quản cai” Tứ phủ khâm sai hay còn gọi là Tứ phủ Chầu bà là những vị Thánh được thỉnh mời tiếp theo. Tứ phủ khâm sai đại diện cho bốn phủ, đó là Chầu đệ nhất (Thiên phủ), Chầu đệ nhị (Nhạc phủ), Chầu đệ tam (Thoải phủ), Chầu đệ tứ (Địa phủ).

Họ thường là các công chúa con Vua. Ngoài ra, đến ngày nay người ta còn biết tới Chầu Năm Suối Lân (Lạng Sơn), Chầu Lục (Lạng Sơn), Chầu Bảy Kim Giao (Thái Nguyên), Chầu Tám Bát Nàn (Thái Bình), Chầu Chín Cửu tỉnh (Thanh Hóa), Chầu Mười Đồng Mỏ (Lạng Sơn) và Chầu Bé (Lạng Sơn). Ví dụ 7: Trích văn Công đồng “Thỉnh mời Tứ phủ khâm sai Thủ đền công chúa nên tài thần thông” Bốn vị thần Pháp vân (thần mây), Pháp vũ (thần mưa), Pháp lôi (thần sấm), Pháp điện (thần chớp) trong tín ngưỡng dân gian cũng được thỉnh mời. Ví dụ 8: Trích văn Công đồng “Pháp vân, Pháp vũ uy nghi Pháp lôi, Pháp điện bôn trì phi phong” Điện thờ Tứ phủ còn dung nạp cả tín ngưỡng thờ động vật, trong đó ông Lốt (thần rắn) thường cuốn trên xà phía trên ban công đồng.

Ông Lốt gồm hai vị Thanh xà đại tướng quân và Bạch xà đại tướng quân. Ví dụ 9: Trích văn Công đồng “Tướng thiên cung mạo đồng đai giáp Lốt thủy tề ngũ sắc phi phương” Tiếp theo, bản văn Công đồng lần lượt mời tới Bát bộ sơn trang, Đức Hoàng, Cậu Quận, Tiên nương. 16 Ví dụ 10: Trích văn Công đồng “Thỉnh mời Bát bộ sơn trang Đức Hoàng, Cậu quận, Tiên nương chầu vào” Bát bộ sơn trang là tám ông tướng ở miền núi đã có công phù Vua An Dương Vương và về sau còn giúp Hai Bà Trưng chống giặc ngoại xâm. Đức Hoàng hay còn gọi là Hoàng triều, và có cả một bản văn Thập vị hoàng tử viết về mười ông Hoàng.

Trong đó, ông Hoàng Cả (Thiên phủ), Hoàng Bơ (Thoải phủ), Hoàng Đôi, Hoàng Bảy (Nhạc phủ) và Hoàng Mười (Địa phủ) đại diện cho bốn phủ. Người ta không thấy ông Hoàng Tư, Hoàng Năm hay Hoàng Sáu giáng đồng cũng như bản văn về các ông4. Nếu các Quan thường là những võ tướng thì Hoàng triều lại là những Quan văn nên phong cách thường nho nhã, lãng tử. Cậu Quận hay còn gọi là Tứ phủ Hoàng quận thường là những Cậu mất hoặc hiển Thánh từ khi còn rất trẻ.

Có một bản văn chung Thập nhị chầu Quận văn để ca ngợi mười hai Cậu. Trên thực tế chỉ có Cậu Bơ, Cậu Bé là những vị Thánh hay giáng đồng. Tiên nương hay Tứ phủ Thánh Cô là hàng tiếp theo được thỉnh mời sau hàng Cậu. Trong vấn hầu, giá hàng Cô thường nhập về trước giá hàng Cậu.

Người ta cũng biết tới bản Thập nhị Cô nương văn kể về mười hai Cô. Tứ phủ Thánh Cô được biết đến với Cô Cả đại diện cho Thiên phủ; Cô Đôi, Cô Sáu sơn trang, Cô Bé đại diện cho Nhạc phủ; Cô Bơ đại diện cho Thoải phủ và Cô Chín Giếng đại diện cho Địa phủ. Đất có Thổ công, sông có Hà bá. Bản Công đồng không quên mời vị Thổ công ở đất, đức Hà bá ở sông và vị thần linh ở trên núi (sơn kỳ).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án về hát văn hầu ở Hà Nội: Khám phá và phân tích" mang đến cái nhìn sâu sắc về nghệ thuật hát văn hầu, một phần quan trọng trong di sản âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các khía cạnh nghệ thuật của hát văn hầu mà còn khám phá vai trò của nó trong đời sống văn hóa và tâm linh của người dân Hà Nội. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về lịch sử, kỹ thuật biểu diễn và ý nghĩa văn hóa của hát văn hầu, từ đó nâng cao hiểu biết về âm nhạc cổ truyền Việt Nam.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của âm nhạc cổ truyền, hãy khám phá thêm bài viết Luận Án Tiến Sĩ Về Nghệ Nhân Đờn Ca Tài Tử Nam Bộ Trong Bối Cảnh Xã Hội Đương Đại, nơi nghiên cứu về nghệ nhân đờn ca tài tử, một thể loại âm nhạc truyền thống khác của Việt Nam. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn về giảng dạy kỹ thuật đàn nhị cho sinh viên trung cấp tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, giúp bạn hiểu thêm về việc giảng dạy các nhạc cụ truyền thống. Cuối cùng, bài viết Luận văn: Giảng dạy tác phẩm đàn tranh của nhạc sĩ Xuân Khải tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam sẽ cung cấp cái nhìn về việc giảng dạy một trong những nhạc cụ đặc trưng của âm nhạc Việt Nam. Những liên kết này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và khám phá sâu hơn về âm nhạc cổ truyền Việt Nam.