Khám Phá Ma Thuật Trong Đời Sống Văn Hóa Của Người Thái Tỉnh Sơn La

Khám phá vai trò của ma thuật trong đời sống văn hóa người Thái tỉnh Sơn La qua luận án tiến sĩ, từ tín ngưỡng đến phong tục tập quán.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2021

399
2
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Nghiên cứu về ma thuật trong nhân học. Nghiên cứu về ma thuật trong đời sống văn hóa ở Việt Nam

1.3. Nghiên cứu về tôn giáo tín ngƣỡng, ma thuật của ngƣời Thái

1.4. Đánh giá chung và hƣớng gợi mở từ tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan tới đề tài luận án

1.5. Ma thuật, đời sống văn hóa và đời sống văn hóa Thái đƣơng đại. Nghiên cứu ma thuật trong bối cảnh đặc thù. Địa bàn nghiên cứu

1.6. Khái lƣợc về lịch sử cƣ trú của ngƣời Thái ở Sơn La

1.7. Những vấn đề nổi bật trong đời sống văn hóa của ngƣời Thái ở Sơn La

1.8. Tiểu kết Chƣơng 1

2. CHƯƠNG 2: MA THUẬT THÁI TRONG HỆ THỐNG VŨ TRỤ QUAN TỘC NGƢỜI

2.1. Sự hiện diện và nguyên cớ của của các hình thức ma thuật trong đời sống Thái

2.2. Diện mạo các thực hành ma thuật Thái

2.3. Nguyên cớ của các hành vi ma thuật Thái: Phi

2.4. Những kiến tạo về phi trong hệ thống vũ trụ quan tộc ngƣời

2.5. Phi: kiến tạo về các tầng bậc mƣờng

2.6. Phi: kiến tạo về các dạng thức và đặc tính

2.7. Phi: kiến tạo về thuộc tính ngƣời, các trật tự và những chiều tác động. Ngƣời tƣơng tác và điều khiển các phi: thầy mo

2.8. Mo Thái: đa dạng tiểu loại và tính năng

2.9. Nghiệp mo: năng lực thiêng và thẩm quyền đƣợc kiến tạo từ các tài liệu phê chuẩn

2.10. Tiểu kết Chƣơng 2

3. CHƯƠNG 3: MA THUẬT THÁI: DIỆN MẠO NHỮNG THỰC HÀNH TƢƠNG TÁC VỚI PHI

3.1. Ma thuật xác định bất thƣờng, thăm dò phi: Bói toán

3.2. Bói que và bói úp ngửa (khuổm hai) bằng thanh tre, đồng xu

3.3. Ma thuật xử lý, chế ngự phi: Hành vi, nghi lễ

3.4. Ma thuật tƣơng tác với khuân. Ma thuật tƣơng tác với các loại phi

3.5. Ma thuật tƣơng tác với phi: những vấn đề nổi bật

3.6. Bói: phƣơng thức tìm kiếm các thông tin từ phi

3.7. Tƣơng tác với phi và việc sử dụng hệ thống các vật, hành vi có tính biểu tƣợng

3.8. Ma thuật tƣơng tác với phi: cách thức tùy biến

3.9. Tƣơng tác với phi: phép analog Thái và dạng thức "biến thế giới phù hợp với lời"

3.10. Tiểu kết Chƣơng 3

4. CHƯƠNG 4: MA THUẬT THÁI: MỞ RỘNG RANH GIỚI, ĐA CHIỀU TƢƠNG TÁC TRONG XÃ HỘI ĐƢƠNG ĐẠI

4.1. Ma thuật gia cố, gắn kết, tách rời hệ thống hồn vía ngƣời trong những bối cảnh mới. Gia cố hệ thống hồn. Gắn kết, tách rời hệ thống hồn vía

4.2. Ma thuật xử lý những bất an có tính hiện sinh

4.3. Tiễn hồn bổ sung, hỏa thiêu gộp

4.4. Ứng phó với ma hồn của dân tộc khác

4.5. Bùa Thái: đa dạng tình huống sử dụng và nguyên tắc của việc thực hành

4.6. Bùa: giải quyết các tình huống tức thời. Bùa: những nguyên tắc thực hành của thầy mo Thái

4.7. Ma thuật, sự thích nghi, các hình thức mới và những lựa chọn mới

4.8. Tẳng cảu thật, tẳng cảu giả và những tình huống đối phó

4.9. Phái xửa và cơ chế tự kiểm soát

4.10. Sinh nở tại bệnh viện và các hình thức ma thuật mới

4.11. Chữa bệnh bằng ma thuật kết hợp khám chữa bệnh tại bệnh viện

4.12. Những hình thức và lựa chọn mới trong một số bối cảnh

4.13. Tiểu kết Chƣơng 4

5. CHƯƠNG 5: NGHIÊN CỨU MA THUẬT TRONG BỐI CẢNH ĐẶC THÙ: NHỮNG VẤN ĐỀ BÀN LUẬN

5.1. Tiếp cận ma thuật và vấn đề bối cảnh của những diễn giải

5.2. Sự đối sánh ma thuật - khoa học - tôn giáo của nhân học phƣơng Tây và những vấn đề bối cảnh

5.3. Bối cảnh của những diễn giải trái chiều trong các nghiên cứu về ma thuật ở Việt Nam

5.4. Bối cảnh tác động và những vấn đề trong diễn giải về ma thuật Thái

5.5. Tiếp cận ma thuật Thái trong bối cảnh đặc thù và những khám phá mới về nghĩa

5.6. Ma thuật Thái: mê tín hay một phƣơng thức tri nhận và ứng xử với thế giới

5.7. Ma thuật Thái: niềm tin thơ ngây hay một phƣơng thức tƣ duy bằng văn hóa. Ma thuật Thái: lạc hậu hay là một phần của cái hiện đại

5.8. Ma thuật Thái: vấn đề về khung phân loại và thuộc tính văn hóa Thái

5.9. Thái này là Thái nào: ma thuật và sự đa dạng trong các không gian văn hóa Thái

5.10. San lấp các hố ngăn cách: một không gian biệt lập chỉ có trong tƣởng tƣợng

5.11. Soi mình vào hình hài kẻ khác: ma thuật và những định kiến tâm linh về ngƣời Thái

5.12. Tiểu kết Chƣơng 5

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC ẢNH

Tóm tắt

I. Giới thiệu về ma thuật và văn hóa người Thái tại Sơn La

Nghiên cứu về ma thuật trong đời sống văn hóa của người Thái tại Sơn La mang lại cái nhìn sâu sắc về sự giao thoa giữa tín ngưỡng và thực hành văn hóa. Ma thuật không chỉ là một phần của tín ngưỡng mà còn là một phương thức để người Thái tương tác với thế giới xung quanh. Các nghi lễ và phong tục tập quán liên quan đến ma thuật thể hiện sự kết nối giữa con người với các thế lực siêu nhiên. Những thực hành này không chỉ đơn thuần là các nghi lễ mà còn là cách để người Thái giải quyết các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày, từ sức khỏe đến các mối quan hệ xã hội. Theo nghiên cứu, ma thuật được xem như một phần không thể thiếu trong văn hóa người Thái, phản ánh những giá trị và niềm tin sâu sắc của cộng đồng.

1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm làm rõ vai trò của ma thuật trong đời sống văn hóa của người Thái tại Sơn La. Tỉnh Sơn La là nơi có đông đảo người Thái sinh sống, và ma thuật đã trở thành một phần quan trọng trong các nghi lễ và phong tục tập quán của họ. Việc tìm hiểu về ma thuật không chỉ giúp hiểu rõ hơn về văn hóa người Thái mà còn góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Nghiên cứu này cũng nhằm phản ánh những quan điểm khác nhau về ma thuật, từ góc nhìn của người thực hành đến những định kiến xã hội, từ đó tạo ra một cái nhìn toàn diện hơn về thực hành văn hóa này.

II. Các hình thức ma thuật trong văn hóa người Thái

Trong văn hóa người Thái, ma thuật được thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau, từ nghi lễ đến các huyền bí. Các hình thức này không chỉ mang tính chất tâm linh mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Nghi lễ cúng bái, bùa và các hình thức truyền thuyết là những ví dụ điển hình cho sự hiện diện của ma thuật trong đời sống hàng ngày. Những thực hành này thường được thực hiện bởi các thầy mo, những người có kiến thức và kinh nghiệm trong việc giao tiếp với các thế lực siêu nhiên. Các nghi lễ này không chỉ nhằm mục đích chữa bệnh hay giải quyết các vấn đề cá nhân mà còn thể hiện sự kết nối giữa con người với tổ tiên và các thế lực tự nhiên. Điều này cho thấy ma thuật không chỉ là một phần của văn hóa người Thái mà còn là một phương thức để duy trì và củng cố các mối quan hệ xã hội.

2.1. Nghi lễ và phong tục tập quán

Các nghi lễ trong văn hóa người Thái thường được tổ chức trong các dịp lễ hội hoặc khi có sự kiện quan trọng trong đời sống. Những nghi lễ này không chỉ mang tính chất tôn giáo mà còn là dịp để cộng đồng tụ họp, gắn kết và chia sẻ những giá trị văn hóa. Các phong tục tập quán liên quan đến ma thuật thường được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên một hệ thống giá trị văn hóa phong phú. Những nghi lễ này thường bao gồm các hoạt động như cúng bái, cầu an, và các hình thức bùa để bảo vệ sức khỏe và tài lộc cho gia đình. Qua đó, ma thuật trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người Thái tại Sơn La.

III. Tín ngưỡng và niềm tin trong ma thuật Thái

Tín ngưỡng và niềm tin của người Thái về ma thuật thể hiện sự kết nối sâu sắc giữa con người với thế giới siêu nhiên. Tín ngưỡng này không chỉ đơn thuần là sự tin tưởng vào các thế lực siêu nhiên mà còn là một phần của bản sắc văn hóa. Người Thái tin rằng ma thuật có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của họ, từ sức khỏe đến tài lộc. Các thầy mo, những người thực hành ma thuật, được xem như cầu nối giữa con người và các thế lực siêu nhiên. Họ không chỉ thực hiện các nghi lễ mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì các giá trị văn hóa và truyền thống của cộng đồng. Sự hiện diện của ma thuật trong đời sống văn hóa của người Thái không chỉ phản ánh niềm tin mà còn là một phần của bản sắc văn hóa độc đáo của họ.

3.1. Vai trò của thầy mo trong văn hóa Thái

Thầy mo là những người có vai trò quan trọng trong việc thực hành ma thuật và duy trì các giá trị văn hóa của người Thái. Họ không chỉ là những người thực hiện các nghi lễ mà còn là những người tư vấn, hướng dẫn cộng đồng trong các vấn đề liên quan đến tín ngưỡngma thuật. Thầy mo thường được kính trọng và có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng, vì họ được xem như những người có khả năng giao tiếp với các thế lực siêu nhiên. Sự hiện diện của thầy mo trong các nghi lễ không chỉ mang lại sự an tâm cho người dân mà còn củng cố niềm tin vào ma thuật như một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của họ.

IV. Ma thuật trong bối cảnh hiện đại

Trong bối cảnh hiện đại, ma thuật vẫn giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa của người Thái tại Sơn La. Mặc dù có sự phát triển của khoa học và công nghệ, nhưng nhiều người vẫn tìm đến ma thuật như một phương thức để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Các thầy mo vẫn tiếp tục thực hành và truyền bá các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời thích ứng với những thay đổi trong xã hội. Sự kết hợp giữa ma thuật và các yếu tố hiện đại cho thấy sự linh hoạt và khả năng thích nghi của văn hóa người Thái. Điều này không chỉ giúp bảo tồn các giá trị văn hóa mà còn tạo ra những hình thức mới trong thực hành ma thuật, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng trong bối cảnh hiện đại.

4.1. Sự thích nghi của ma thuật trong xã hội hiện đại

Sự thích nghi của ma thuật trong xã hội hiện đại thể hiện qua việc các thầy mo và người dân tìm cách kết hợp giữa các thực hành truyền thống và các yếu tố hiện đại. Nhiều thầy mo đã áp dụng các phương pháp mới trong việc thực hiện nghi lễ, đồng thời sử dụng các công cụ truyền thông hiện đại để quảng bá và bảo tồn các giá trị văn hóa. Điều này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về ma thuật mà còn tạo ra một không gian giao thoa giữa truyền thống và hiện đại. Sự thích nghi này cho thấy ma thuật không chỉ là một phần của quá khứ mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng bản sắc văn hóa của người Thái trong tương lai.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nghiên cứu này đƣợc bắt đầu từ bốn năm về trƣớc, tại Sơn La, nơi có số cƣ dân Thái đông nhất trong số 12 dân tộc sống trên địa bàn tỉnh1. Hôm ấy, sau khi dự lễ hội thƣờng niên tại một bản ngƣời Thái, tôi tìm đến nhà một bà mo, ngƣời đƣợc giới thiệu "chuyên chữa bệnh bằng bùa" và "rất cao tay". Một ngôi nhà hai tầng khang trang sát mặt đƣờng lớn của bản, phía sau là ngôi nhà sàn Thái truyền thống, tấm biển có hàng chữ "Dịch vụ du lịch cộng đồng" đặt ngoài cổng.

Trong sân, có tầm gần chục chiếc xe máy, ngƣời ngồi ngƣời đứng, chốc chốc lại có ngƣời chạy ra chạy vào gian thờ nơi bà mo ngồi làm việc. Bà mo ngồi trên chiếc nệm Thái, phía trên kê mấy chiếc bàn thấp đặt nhiều đồ lễ, chiếc đĩa có hai đồng bạc Đông Dƣơng và một đĩa đựng rất nhiều tờ tiền mệnh giá từ năm mƣơi ngàn đến năm trăm ngàn đồng. Sát tƣờng trƣớc mặt bà là một dãy tủ, bên trên đặt các pho tƣợng nhỏ, lần lƣợt từ trái sang gồm tƣợng Phật Bà Quan Âm, Thái Thƣợng Lão Quân, cô Chín Thƣợng Ngàn, Đức Mẹ Maria và Thích Ca Mâu Ni Phật. Sau khi đặt lễ và xin phép, tôi đƣợc bà mo cho ngồi bên cạnh, có thể quay phim, chụp ảnh và hỏi han về những gì diễn ra trong điện của bà.

Lúc đó, bà mo đang chuẩn bị lăn trứng cho một cô gái có nƣớc da xanh tái. Cầm quả trứng trong tay, bà hà hơi, lẩm nhẩm vài câu không rõ rồi bắt đầu lăn trứng từ trên vai xuống đến hông cô, lần lƣợt từ trái sang phải. Lăn xong, đập trứng ra bát, bà cầm chiếc đèn pin bật soi và quan sát một lúc. Lấy miếng lá chuối lật mặt sau lòng đỏ trứng lên, bà soi thêm, chỉ cho tôi xem một lỗ thủng nhỏ trên lòng đỏ quả trứng gà rồi nói "thế này là bị ngƣời ta làm bùa hại rồi".

Quay sang tôi, bà giải thích về cách bà 'làm phép' để chữa cho những ngƣời bị hại kiểu này, dùng trứng để lấy ra những thứ bị bùa khiến họ đau đớn trong cơ thể. Khi bà nói, một ngƣời khách tầm hơn 40 tuổi xen ngang, kể thêm về câu chuyện của chị, về lần chị đƣợc bà mo giúp tháo bùa ghét do vợ cũ của chồng làm, lấy ra trong bát trứng cả mấy con màu trắng, thứ mà chị cho là khiến mình đau đến không mở nổi mắt. Trong cuộc trò chuyện, bà mo vừa nhẹ nhàng giải thích về các thao tác và nghi lễ mà bà phải thực hiện với từng trƣờng hợp khách hàng, vừa kể thêm về một số cách bà vẫn thƣờng làm để chữa cho mọi ngƣời. Những đứa trẻ hay ốm, hay khóc đêm, nhẹ thì chỉ cần bố mẹ mang áo đến nhờ bà cúng trong điện thờ, nặng thì làm lễ 1 Theo cuộc điều tra dân số ngày 1/4/2019, tỉnh Sơn La có 1.416 ngƣời, trong đó ngƣời Thái chiếm 55%.

12 dân tộc sống trên địa bàn tỉnh gồm: Thái, Kinh, H'mông, Mƣờng, Dao, Khơ Mú, Xinh Mun, Kháng, La Ha, Lào, Tày và Hoa (nguồn: sonla. 1 luan an tầm một tiếng cho hồn vía cứng cáp lên là sẽ khỏe khoắn bình thƣờng trở lại. Có nhà lấy nhau mãi không sinh con, đi bệnh viện các nơi không đậu, xuống bà cúng, làm bùa rồi cho gói thuốc nam, hai tháng sau báo tin đã có thai. Ngƣời đi học đi làm xa dƣới Hà Nội, Bắc Ninh, đi lao động xuất khẩu bên Hàn, Nhật về, đau ốm hay khó lấy vợ lấy chồng cũng đến nhờ bà làm lễ cúng để gọi hồn vía về cho đủ, vì hồn vía đầy đủ khỏe khoắn thì làm gì cũng nên.

Cán bộ làm việc trong chính quyền xã, huyện cũng có nhiều ngƣời tìm đến bà để nhờ xem và tƣ vấn mỗi khi định chuyển việc, lên chức hay vào các đợt bầu cử. Ngƣời buôn bán đất đai gặp mảnh khó bán đến nhờ bà cúng cho, chỉ mấy hôm là 'đẩy đi' xong mảnh đất1. Ngƣời Kinh ngoài thị trấn, dƣới xuôi lên kinh doanh du lịch tại bản, khi có biến cố cũng tìm đến bà, nhờ bà cúng xin thần đất thần cây phù trợ cho công việc làm ăn đƣợc thuận lợi. Suốt bốn tiếng đồng hồ ngồi tại điện thờ của bà mo, chứng kiến cách bà xem xét và giải quyết từng vấn đề của gần chục cá nhân, quan sát những ngƣời tìm đến xin lời khuyên hay nhờ bà chữa bệnh, tôi bất chợt nhớ đến những thông tin đã từng đọc đƣợc trên sách báo về những tục lệ đƣợc xem là 'lạc hậu', 'mê tín', 'lừa bịp', 'cần vận động để từ bỏ'.

Nhiều những bài báo viết về các 'vấn nạn tâm linh', với lời kêu gọi sự can thiệp của các cơ quan quản lý nhà nƣớc để xiết chặt các hình thức chữa bệnh "bằng các phép thuật thƣờng gặp nhiều ở các vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số", với "những dụng cụ thô sơ và phƣơng pháp nhuốm màu mê tín dị đoan"2, "lừa đảo"3, "lợi dụng niềm tin tôn giáo tín ngƣỡng để lừa gạt ngƣời bệnh", "những thầy mo, thầy cúng hành nghề chữa bệnh mà không hề đƣợc trang bị một kiến thức khoa học, không có một phƣơng tiện hiện đại nào"4. Không ít các nghiên cứu về văn hóa, tôn giáo tín ngƣỡng, cả của ngƣời Việt và của các cộng đồng dân tộc ít ngƣời, cũng có một cái nhìn tƣơng tự về các hình thức ma thuật kiểu này khi coi đó là các tập tục 'nhảm nhí', 'lạc hậu', là 'tàn dƣ của thời nguyên thủy'5. Trong Văn kiện Đảng Toàn tập (tập 36), một sự phân biệt giữa "mê tín dị đoan" với "tự do tín ngƣỡng" đƣợc đề cập tới, kèm với quy định "Pháp luật Nhà nƣớc bảo đảm quyền tự do tín ngƣỡng, nhƣng nghiêm cấm việc xem số, xem tƣớng, gọi hồn, lên đồng, xóc thẻ, vẽ bùa, cúng ma, đội bát nhang, mua bán vàng mã, dùng phù phép để chữa bệnh,…" [67, tr. Trên thực tế, đã có một thời kì dài, từ những năm 1960s đến 1 Cách nói với hàm ý đã bán lại đƣợc mảnh đất với mức giá mà ngƣời bán cho là phù hợp.

2 Bài báo có tên "Thực hƣ lang vƣờn chữa bệnh nhƣ 'phù thủy' ở Sơn La" [406]. 3 Bài báo với tiêu đề "Nữ thầy mo trị bách bệnh bằng 'độc chiêu' rút đinh từ cơ thể" [401]. 4 Bài báo "Trò ảo thuật của thầy mo Tây Nguyên" [407]. 5 Xem thêm Phan Kế Bính [17], Đào Duy Anh [4], Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn [165], Phan Hữu Dật [45,46] và một số tác giả khác.

2 luan an cuối 1980s, các hoạt động tín ngƣỡng bị hạn chế, bị ngăn cấm, với việc các cơ quan quản lý văn hóa vận động các thầy cúng ngƣng hành nghề, nộp lại các loại sách cúng bái và hiện vật thiêng. Và trong thời kì này, các hành vi đƣợc xác định là "mê tín dị đoan" nhƣ đã đƣợc nêu trong Văn kiện Đảng luôn đƣợc chú ý giám sát chặt chẽ. Những gì tôi chứng kiến không mấy khác biệt so với các hành vi đƣợc miêu tả trong các bài báo, cuốn sách hay trong văn bản pháp quy của nhà nƣớc, nhƣng điều khiến tôi bất ngờ nhất là, trong cuộc chuyện trò, bà mo nói rằng, bà làm các phép này là "theo tục lệ truyền thống", trên báo trên ti vi ngƣời ta vẫn bảo nhƣ thế là "mê tín dị đoan" nhƣng có những bệnh mà nếu không đến nhờ bà làm phép thì chỉ có chết, đi bệnh viện tỉnh hay dƣới Hà Nội rồi cũng bị trả về, không bác sỹ nào chữa đƣợc. Khách của bà mo ngồi đó còn bổ sung rằng, các gia đình ở đây năm nào cũng mong làm ruộng làm nƣơng đƣợc mùa, kinh doanh thuận lợi để có thể mời thầy mo đến làm lễ cúng cho cả nhà, "làm cúng đƣợc hàng năm thì tốt lắm, không ốm, cúng cũng tốt, cứ có điều kiện là làm".

Cuộc nói chuyện và những gì chứng kiến khiến dấy lên trong tôi nhiều câu hỏi. Điều gì ẩn chứa đằng sau sự khác biệt trong quan niệm của những ngƣời dân tại đây với quan điểm chính thống của nhà nƣớc, của các nhà khoa học, của truyền thông về những điều đƣợc xem là "mê tín" trong thực hành tôn giáo, tín ngƣỡng? Lý do vì sao, các hành vi ma thuật vốn luôn đƣợc dán nhãn "dị đoan", "hủ tục", "cần loại bỏ" lại đƣợc bà mo và các khách hàng của bà xem là tục lệ truyền thống, cần phải làm, thậm chí trong nhiều trƣờng hợp, lại là điều họ mong muốn làm, và là giải pháp đƣợc họ tìm đến đầu tiên và duy nhất nhằm xử lý cho một vấn đề nào đó của đời sống? Thêm vào đó, những gì tôi thấy trong không gian thiêng của bà mo Thái này là không hề dị biệt, bởi ngay tại ngôi làng nơi tôi sinh ra hay tại thành phố nơi tôi đang sống, những hình thức cúng bái, lên đồng nhập hồn, làm phép trừ tà ma hay treo bùa trấn trạch, cầu bình an,… cũng rất phổ biến. Nhƣ thế, những hành vi ma thuật, thứ vốn luôn đƣợc xem là thô phác, lạc hậu, luôn bị đặt trong sự đối lập với khoa học, văn minh, đƣợc dự đoán sẽ biến mất khi xã hội phát triển có thực sự lạc hậu hay không, khi đến những năm đầu thế kỉ 21 này, chúng vẫn không có dấu hiệu tiêu vong mà thậm chí trái lại, còn thêm sôi động với nhiều dạng thức mới? Ranh giới nào cho sự định giá khi cùng một hành vi, lúc có thể đƣợc xem là mê tín, lạc hậu, khi lại đƣợc coi là truyền thống và bản sắc cần phải gìn giữ? Và nhƣ vậy, sự hiện diện của các thực hành ma thuật cho thấy các lớp nghĩa chức năng nào, đáp ứng các nhu cầu gì trong đời sống văn hóa đƣơng đại của con ngƣời? 3 luan an Để có thể trả lời các câu hỏi này, tôi tin rằng cần có một cách tiếp cận khác về những thực hành thuộc phạm trù ma thuật, thứ vốn gần nhƣ chƣa thoát khỏi nhiều định kiến sẵn có trong các nghiên cứu ở Việt Nam. Trong nhân học, ma thuật, "nghi lễ đƣợc thúc đẩy bởi mong muốn đạt đƣợc một kết quả đặc thù, đƣợc xem nhƣ những nỗ lực thao túng các lực lƣợng siêu nhiên, tâm linh hoặc thần thánh thông qua các phƣơng tiện đƣợc nghi lễ hóa" [372, tr.175], vốn là một chủ đề có tính kinh điển, xuất hiện trong hầu khắp các nghiên cứu quan trọng của ngành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khám Phá Ma Thuật Trong Đời Sống Văn Hóa Của Người Thái Tỉnh Sơn La" của tác giả Đỗ Thị Thu Hà, dưới sự hướng dẫn của TS. Vũ Hồng Thuật, mang đến cái nhìn sâu sắc về vai trò của ma thuật trong văn hóa của người Thái tại Sơn La. Luận án này không chỉ khám phá các nghi lễ và phong tục tập quán liên quan đến ma thuật mà còn phân tích ảnh hưởng của chúng đến đời sống tinh thần và văn hóa cộng đồng. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách mà ma thuật được tích hợp vào các hoạt động văn hóa, từ đó hiểu rõ hơn về bản sắc văn hóa của người Thái.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh văn hóa tương tự, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận án tiến sĩ về dân ca nghi lễ của người Thái", nơi nghiên cứu sâu về các nghi lễ và dân ca trong văn hóa của người Thái. Ngoài ra, bài viết "Luận án tiến sĩ về dân ca Mường ở Phú Thọ trong bối cảnh đương đại" cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn về sự phát triển của dân ca trong các cộng đồng dân tộc thiểu số khác. Cuối cùng, bài viết "Khám Phá Nghệ Thuật Thơ Thanh Hải Qua Luận Văn Thạc Sĩ" sẽ giúp bạn hiểu thêm về nghệ thuật biểu đạt trong văn hóa dân gian, một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của các dân tộc Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng tầm hiểu biết về văn hóa và nghệ thuật của các cộng đồng dân tộc tại Việt Nam.