phần mở đầu luận văn chia thành 2 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu cái đẹp trong nghệ thuật đời ca tài tử và quá trình hình thành nghệ thuật đờn ca tài tử tại tỉnh Trà Vinh Chƣơng 2: Bảo tồn và phát huy cái đẹp của nghệ thuật đờn ca tài tử tại tỉnh Trà Vinh – Thực trạng và giải pháp. 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU CÁI ĐẸP TRONG NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ TẠI TỈNH TRÀ VINH 1. Cơ sở lý luận nghiên cứu cái đẹp trong nghệ thuật đờn ca tài tử 1. Quan niệm của C.Ăngghen về cái đẹp Mỹ học là khoa học giúp con người biết cảm thụ, đánh giá và sáng tạo cái đẹp.
Các nhà tư tưởng ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau có quan niệm khác nhau về cái đẹp. Có quan niệm nhấn mạnh cái đẹp ở sự hài hòa, tỷ lệ, trật tự. Có quan niệm đồng nhất cái đẹp với cái thiện, cái có ích, với đức hạnh. Có quan niệm cho cái đẹp có nguồn gốc từ tự nhiên, là các thuộc tính sẵn có của các sự vật, hiện tượng.
Có quan niệm đi tìm cái đẹp từ thế giới siêu tự nhiên, ý niệm, tinh thần ở bên ngoài con người; song cũng có quan niệm phủ nhận cái đẹp, coi đó là sản phẩm của tầng lớp thống trị, là cái không cần thiết. Song, nhìn chung các quan niệm về cái đẹp trong lịch sử mỹ học đều hướng đến những giá trị chung nhất để con người phấn đấu đạt đến và đều để lại những tư tưởng quý báu cho những thế hệ mai sau làm giàu thêm đời sống thẩm mỹ của mình. Coi mỹ học là một bộ phận hợp thành chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các tư tưởng mỹ học của C.Ăngghen và Lênin gắn bó hữu cơ với ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác: chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác cho rằng, cái đẹp không phải là cái vốn có của tư tưởng, của động vật, hay của tồn tại.
Cái đẹp là một quan hệ biện chứng giữa chủ thể thẩm mỹ và đối tượng thẩm mỹ. 12 Trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, C.Mác đi sâu tìm hiểu sự phát triển của lịch sử xã hội và rút ra kết luận chủ yếu về sự phát triển của lịch sử, về chủ nghĩa cộng sản, đồng thời Mác đã chỉ ra nguồn gốc và bản chất của cái đẹp chính là nằm trong một chỉnh thể của sự phát triển sản xuất. Vì vậy, Mác khẳng định, lao động chính là nguồn gốc của cái đẹp. Mác nói rằng “toàn bộ cái gọi là lịch sử của toàn bộ thế giới chẳng qua chỉ là sự sáng tạo con người kinh qua lao động của con người”[62,tr.
Chủ thể thẩm mỹ theo quan niệm của Mác là con người chứ không phải là chủ thể thần thánh hay chủ thể động vật. Mác viết rằng: “con vật chỉ tái tạo sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái tạo sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên; sản phẩm của súc vật trực tiếp gắn với cơ thể thể xác của nó, còn con người thì đối diện một cách tự do với sản phẩm của mình. Con vật chỉ xây dựng theo kích thước và nhu cầu của loài của nó, còn con người thì có thể sản xuất theo kích thước của bất cứ loại nào và ở đâu cũng biết vận dụng bản chất hữu cơ của mình vào đối tượng; do đó con người cũng xây dựng theo các quy luật của cái đẹp”[62, tr. Trong mỹ học của Mác, chủ thể người là một chủ thể văn hóa.
Đó là những con người trưởng thành về mọi mặt: bàn tay khéo léo, thế đứng thẳng, óc lớn,. được thông qua quá trình lao động từ thế hệ đó đến thế hệ kia mà thành. Ăngghen nói rằng, lao động đã làm cho các cơ quan sinh học người vượt hẳn hơn các cơ quan sinh học của các loài động vật ngoài người: “bàn tay không những là khí quan của lao động, mà còn là sản phẩm của lao động nữa. Chỉ nhờ có lao động, nhờ thích ứng được với những động tác ngày càng mới, nhờ sự di truyền của sự phát triển đặc biệt đã đạt được bằng cách đó của các cơ, của các gân, và sau những khoảng thời gian dài hơn, cả của xương nữa, và cuối cùng, nhờ luôn luôn áp dụng lại sự tinh luyện thừa hưởng được đó vào những động tác mới, ngày càng phức tạp hơn, - mà bàn 13 tay con người mới đạt được trình độ hoàn thiện rất cao khiến nó có thể, như một sức mạnh thần kỳ, sáng tạo ra các bức tranh của Raphaen, các pho tượng của Tôvaxen và các điệu nhạc của Paganini”[61, tr.
Theo quan điểm của Mác và Ăngghen, hoạt động thẩm mỹ mang bản chất của chủ thể thẩm mỹ trước hết được thể hiện ở hoạt động có mục đích của con người. Trong quá trình tiếp xúc với tự nhiên, con người hoàn toàn khác với động vật ở tính mục đích, tính đối tượng và phương tiện hoạt động. Hình thức lao động này khác về cơ bản với những hoạt động thường thấy ở một số loài động vật như: ong, kiến, hải ly,. Do hoạt động có mục đích tự giác, biết chọn đối tượng và bằng những phương tiện có hiệu quả mà hoạt động của con người cao hơn hoạt động của loài vật.
Đó là hoạt động sáng tạo. Với hoạt động sáng tạo này, con người đã tạo ra điều kiện chủ yếu cho sự tồn tại của xã hội loài người và cũng là điều kiện để con người thoát khỏi loài vật. Ăngghen khẳng định: “loài vật chỉ lợi dụng giới tự nhiên bên ngoài và gây ra những biến đổi trong giới tự nhiên, chỉ đơn thuần do sự có mặt của nó thôi; còn con người thì do đã tạo ra những biến đổi đó, mà bắt giới tự nhiên phải phục vụ những mục đích của mình, mà thống trị giới tự nhiên. Và chính đó là sự khác nhau chủ yếu cuối cùng giữa con người và các loài vật khác, và một lần nữa, cũng chính là nhờ lao động mà con người mới có được sự khác nhau đó”[61, tr.
Các nhà duy vật có công lao gắn cái đẹp với cơ cấu vật chất, với đời sống. Song, cái đẹp không chỉ là một thuộc tính của vật chất mà nó còn là giá trị xã hội quan hệ với con người. Giới tự nhiên tuy có trước loài người, ngay cả khi có con người rồi thì không phải bất kì thuộc tính vật lý, thuộc tính sinh học, thuộc tính hóa học nào của giới tự nhiên cũng mang yếu tố thẩm mỹ. Chỉ có sự đánh giá, phát hiện của con người thì cái đẹp của tự 14 nhiên mới được bộc lộ.
Ở Việt Nam, việc phát hiện ra hang Sơn Đòng là một minh chứng rất rõ ràng cho điều ấy. Sự vật là một khách thể, cái đẹp là một giá trị xã hội. Học thuyết giá trị của Mác lần đầu tiên trong lịch sử mỹ học đã khắc phục được cả chủ nghĩa duy tâm lẫn chủ nghĩa duy vật tầm thường. Theo Mác, cái đẹp được đo bằng các thước đo thẩm mỹ của xã hội.
Chủ nghĩa duy tâm dù là chủ quan hay khách quan điều cho cái đẹp là cái tự do. Chủ nghĩa duy tâm chủ quan đo cái đẹp bằng thước đo tình cảm của mỗi cá nhân: thích hay không thích. Do đó, thích hay không thích chủ quan không phải là thích hay không thích theo tiêu chuẩn của xã hội. Ví dụ anh tự hát, anh tự khen tức là không có tiêu chuẩn khách quan.
Những nhà mỹ học duy vật đã cho rằng, cái đẹp là một thuộc tính của vật chất, nhưng rất nhiều thuộc tính của vật chất không được thừa nhận là cái đẹp. Một bông hoa nếu dùng làm thuốc để uống thì bông hoa đó không phải là bông hoa thẩm mỹ. Một bông hoa nếu đem vào phòng thí nghiệm để nghiên cứu tính hóa học của màu sắc, đó cũng không phải là bông hoa thẩm mỹ. Có các thuộc tính vật chất trong dân tộc này, thời đại này thì được thừa nhận là có yếu tố thẩm mỹ, song ở thời đại khác, giai cấp khác, dân tộc khác lại không được thừa nhận là có yếu tố thẩm mỹ ấy.
Cách ăn mặc, cách sống, cách trang trí nội thất ở mọi thời đại khác nhau là do có các thước đo thẩm mỹ khác nhau. Trong xã hội có giai cấp không có một dòng nghệ thuật duy nhất cho mọi giai cấp. Vì thế, các quan hệ thẩm mỹ điều có ý nghĩa giá trị xã hội. Học thuyết về giá trị của Mác là cơ sở quan trọng để nhìn nhận, xem xét cái đẹp một cách đúng đắn nhất.
15 Khác với các nhà mỹ học trước kia, C.Ăngghen không chỉ coi cái đẹp là một hình thái của ý thức xã hội, mà nó còn có tính độc lập tương đối so với tồn tại xã hội sản sinh ra nó. Khi nghiên cứu kinh tế chính trị học, Mác đã phát hiện ra hoạt động thẩm mỹ và nghệ thuật vừa phản ánh đời sống hiện thực, liên hệ bản chất với các hoạt động tinh thần khác như đạo đức, chính trị, pháp luật. Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.Ăngghen đã trình bày tính chất hình thái ý thức xã hội của nghệ thuật chính là sự tồn tại ý thức. Sự phát triển của nghệ thuật có quan hệ hữu cơ với cơ sở kinh tế.
Nghệ thuật vừa phản ánh, vừa phục vụ sản xuất. Nghệ thuật thuộc thượng tầng kiến trúc của xã hội. Nghệ thuật và các hình thái ý thức xã hội khác mang tính độc lập tương đối so với sự phát triển cơ sở hạ tầng. Nghệ thuật có tính giai cấp, có nghĩa là lực lượng tinh thần được thể hiện trong nghệ thuật gắn liền với các giai cấp nhất định.
Tuy nhiên, sáng tạo nghệ thuật mang tính chất cá nhân của người sáng tác. Mỗi khi có biến động xã, các cá nhân này có thể trung thành với giai cấp của nó, có thể lại chạy sang hàng ngũ của giai cấp khác. Nghệ thuật phản ánh đời sống bằng hình tượng, bằng khoái cảm và tương đối tự do so với các hình thái ý thức xã hội khác. Vì vậy, nghệ thuật có thể phản ánh trước, có thể thúc đẩy, có thể kìm hãm cơ sở hạ tầng sản sinh ra nó.