Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu Chầu Văn Nam Định dưới góc nhìn văn hóa" được tác giả Lê Thị Lan thực hiện năm 2014 tại Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Việt Hương.

Lý do lựa chọn đề tài xuất phát từ thực trạng biến đổi văn hóa - xã hội tại Việt Nam: trong khi nhiều loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một thì Chầu Văn (hát Văn) cũng đối diện với những thách thức tương tự. Nam Định được xác định là cái nôi sản sinh và bảo lưu nghệ thuật Chầu Văn gắn liền với hai không gian tín ngưỡng lớn: quần thể di tích Phủ Giầy (quê hương Thánh Mẫu Liễu Hạnh - vị thần chủ trong "Tứ bất tử") và di tích Đền Trần (nơi thờ Đức Thánh Vương Trần Hưng Đạo). Trong bối cảnh hồ sơ "Nghi lễ Chầu Văn của người Việt ở Nam Định" được xây dựng trình UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, giới nghiên cứu và nghệ nhân đặt ra các vấn đề mang tính học thuật: Chầu Văn thuần túy là tín ngưỡng hay nghi lễ? Khả năng sân khấu hóa Chầu Văn đến đâu? Việc đặt Chầu Văn dưới góc nhìn văn hóa học là hướng tiếp cận cần thiết để giải mã các giá trị nội dung và chức năng xã hội của loại hình này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Tìm về cội nguồn và không gian phát tích của Chầu Văn tại Nam Định, khảo sát các bản văn Chầu cổ nhằm xác định vị thế, giá trị nghệ thuật tiêu biểu và sức sống lịch sử của Chầu Văn.
  2. Khảo cứu Chầu Văn Nam Định dưới góc nhìn văn hóa thông qua giai điệu, tiết tấu, lời ca và môi trường diễn xướng; qua đó khẳng định bản chất dân gian truyền thống và mối quan hệ giữa Chầu Văn với đời sống tâm linh của người Việt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đề tài, nghệ thuật Văn Chầu (lời văn, âm nhạc, cấu trúc bài bản) và môi trường diễn xướng của Chầu Văn Nam Định.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Nam Định, tập trung khảo sát trọng điểm tại Phủ Giầy (xã Kim Thái, huyện Vụ Bản) và Đền Trần (phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định).
  • Phạm vi thời gian: Khảo cứu lịch sử Chầu Văn từ thời Trần, giai đoạn phát triển thế kỷ XVII–XIX đến thực trạng thực hành tại Nam Định tính đến thời điểm năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm và công trình nghiên cứu then chốt:

  • Khái niệm và văn bản lịch sử: Trích dẫn ghi chép của nhà bác học Lê Quý Đôn trong tác phẩm Kiến văn tiểu lục về sự xuất hiện của lối "hát Chầu" trước mặt đế vương thời Trần (1225–1400); định nghĩa về di sản văn hóa phi vật thể theo Luật Di sản văn hóa; quyết định năm 2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa Chầu Văn vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
  • Lý thuyết văn hóa dân gian và Shaman giáo: Vận dụng quan điểm của GS. Ngô Đức Thịnh về hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, cấu trúc Đạo Mẫu Tứ Phủ và bản chất Shaman giáo của nghi thức lên đồng (người trung gian kết nối thế giới thực tại và siêu nhiên); kế thừa các tài liệu chuyên khảo của Bùi Đình Thảo (Hát Chầu Văn), TS. Nguyễn Ngọc Mai (Nghi lễ lên đồng - lịch sử và giá trị), và luận văn của Phạm Thị Thu Loan (Nghiên cứu Chầu Văn dưới góc độ văn hóa và văn học dân gian).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai:

  • Phương pháp hệ thống hóa, so sánh, đối chiếu: Phân loại các làn điệu, thể thơ, dị bản văn chầu và so sánh đặc trưng phong cách hát Văn Nam Định (mộc mạc, dân dã) với phong cách hát Văn Hà Nội (trau chuốt, nảy hạt).
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức các ngành Văn hóa học, Dân tộc học/Nhân học, Tôn giáo - Tín ngưỡng học và Xã hội học nhằm phân tích môi trường diễn xướng và tâm lý tín đồ.
  • Nguồn dữ liệu: Nguồn tài liệu thành văn (thư tịch cổ, công trình folklore, kỷ yếu hội thảo quốc tế năm 2012 tại Nam Định), tư liệu thống kê kiểm kê di sản của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nam Định (tháng 8/2012), cùng hệ thống văn bản lời ca Chầu Văn cổ và văn Chầu mới được sưu tầm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan về đề tài

Chương 1 khái quát các vấn đề lý luận chung về Chầu Văn, nguồn gốc, lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại và bối cảnh địa phương Nam Định.

Theo phân tích từ nguyên Hán - Việt, "Chầu" nghĩa là chầu chực, phục vụ bậc tôn quý; "Văn" là văn tự, văn chương, lễ nghi. Về nguồn gốc, Chầu Văn hình thành từ hai cội rễ: các bài khấn nôm lục bát dạng hát nói của thầy cúng Tứ Phủ và nghi lễ hát thờ thần linh/Thánh Mẫu (bà chúa Thượng Ngàn Na Bình) cùng các anh hùng dân tộc (Đức Thánh Trần). Về lịch sử, Chầu Văn khởi phát từ thế kỷ XIII, cực thịnh vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX với các cuộc hát thi tuyển chọn cung văn. Sau năm 1954, do các chính sách cải tạo bài trừ mê tín dị đoan, Chầu Văn và hầu đồng bị hạn chế nghiêm ngặt; từ sau năm 1986, loại hình này từng bước phục hồi và phát triển mạnh mẽ.

Về mặt không gian văn hóa, Nam Định có diện tích tự nhiên 1.637 km² và dân số 1.300.000 người (Niên giám thống kê 2009), gồm 1 thành phố và 9 huyện, sở hữu truyền thống khoa bảng (22 tiến sĩ thời Lê sơ, tiêu biểu là Trạng nguyên Lương Thế Vinh năm 1463).

Số liệu kiểm kê của ngành văn hóa Nam Định tính đến tháng 8/2012 ghi nhận toàn tỉnh có 287 di tích gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ, thờ Đức Thánh Trần và nghi lễ Chầu Văn.

Thành phần tham gia thực hành Số lượng (người) Tỷ lệ (%) Ghi chú theo khảo sát
Người hầu đồng 246 52,34% Thực hành nghi lễ nhập đồng, hóa thân
Hát văn (Cung văn) 245 52,12% Có hơn 240 người hát được các bản văn cổ
Nhạc công sử dụng nhạc cụ 162 34,46% Đảm nhiệm dàn nhạc gõ và đàn nguyệt
Tổng số người thực hành nghi lễ 470 100% Khảo sát trên toàn tỉnh Nam Định (8/2012)

(Lưu ý: Tỷ lệ thành phần cộng gộp lớn hơn 100% do đặc thù nhiều nghệ nhân cung văn đảm nhiệm đồng thời cả việc hát và sử dụng nhạc cụ).

Khóa luận cũng ghi nhận các cung văn cao tuổi tiêu biểu như Đào Thị Phòng (70 tuổi), Hoàng Thị Lương (84 tuổi) tại Ý Yên, Bùi Văn Đông tại Xuân Trường; cùng 6 câu lạc bộ Chầu Văn hoạt động thường xuyên tại Hành Thiện (Xuân Trường), Mỹ Lộc, Ý Yên, Hải Hậu.

Chương 1 phân loại Chầu Văn truyền thống thành 3 hình thức:

  1. Hát Văn thờ: Hát nghi lễ trước khi lên đồng vào các ngày tiệc (ngày hóa của thánh) hoặc ngày tứ quý (Thượng nguyên, Nhập Hạ, Tán Hạ, Tất niên). Dàn nhạc gồm 3 cung văn (đàn nguyệt, phách - cảnh - trống ban, trống cái); tuyệt đối không dùng thanh la.
  2. Hát Văn thi: Cuộc đua tài nghệ giữa các cung văn, bắt buộc hát bài Văn Công đồng, kiểm tra biến thể điệu phú và kỹ năng chuyển làn điệu liên hoàn (ngâm vịnh, phú, dọc, cờn, xá, nhịp một, bỏ bộ, chèo đò).
  3. Hát Văn hầu đồng: Hình thức phổ biến nhất, diễn xướng theo cấu trúc 4 bước của từng giá đồng: Mời thánh nhập $\rightarrow$ Kể sự tích, công đức $\rightarrow$ Xin thánh phù hộ $\rightarrow$ Đưa tiễn ("Thánh giá hồi cung!").

Chương II: Đặc điểm của Chầu Văn Nam Định

Chương 2 đi sâu phân tích thi pháp văn bản, âm nhạc và nghệ thuật diễn xướng của Chầu Văn Nam Định.

Về đề tài, văn bản Chầu Văn tập trung vào 4 nhóm nội dung:

  • Kể về nguồn gốc, quyền năng và công đức của các Thánh Mẫu (Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải).
  • Khuyên răn đạo đức, tu thân tích đức, giữ gìn nhân nghĩa, lễ trí tín (như văn Ông Hoàng Mười).
  • Ca ngợi các vị anh hùng dân tộc đánh giặc cứu nước (Quan Hoàng Bảy, Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh, Đức Ông Đệ Tam).
  • Miêu tả cảnh sắc non nước linh thiêng (Chúa Đệ Nhất Tây Thiên, Chúa Cà Phê, Chúa Thác Bờ) và các bản văn mới ca ngợi quê hương đất nước (Nam Định quê tôi của Lưu Công Anh Quân đạt 3 huy chương vàng năm 1962).

Về hình tượng nghệ thuật, Chầu Văn Nam Định phản ánh thần điện Tứ Phủ hoàn chỉnh gồm Tam tòa Thánh Mẫu (Mẫu Liễu Hạnh áo đỏ, Mẫu Đệ Nhị Na Bình áo xanh, Mẫu Thoải Thủy Tinh công chúa áo trắng), 5 vị Quan Lớn, 12 Chầu Bà (nổi bật với Tứ Phủ Khâm Sai: Chầu Đệ Nhị, Chầu Lục Cung, Chầu Mười Đồng Mỏ, Chầu Bé Bắc Lệ), 10 Ông Hoàng, 12 Thánh Cô và 10 Thánh Cậu.

Về mặt ngôn ngữ và thi luật, văn Chầu sử dụng phong phú các thể thơ truyền thống: thể lục bát (chiếm số lượng lớn nhất), song thất lục bát, các biến thể (4-7, 5-8), thể hát nói và đồng dao; sử dụng từ Hán - Việt, điển tích điển cố (điển cố "ngó lìa tơ"), kết hợp với ngôn từ và lối nói của đồng bào thiểu số (tiếng Mường, Thổ trong văn Chúa Sơn Trang).

Về âm nhạc và kỹ thuật diễn xướng, hệ thống làn điệu Chầu Văn Nam Định bao gồm các điệu thức và quy cách diễn tấu đặc thù:

Tên làn điệu Đặc điểm dây đàn & nhịp điệu Không gian và chức năng diễn xướng
Bỉ Dây lệch, nhịp dồn phách Hát trang trọng trước khi vào bài văn thờ hoặc văn thi (loại 4 câu hoặc 8 câu)
Miễu Dây lệch, nhịp đôi Lối hát nghiêm trang; chỉ dùng trong hát thi và hát thờ, không dùng trong hầu bóng
Thống Dây bằng, nhịp ba Chỉ dành riêng cho văn thờ và văn thi
Phú Bình Dây lệch, nhịp ba Lối hát đĩnh đạc; dùng trong văn thờ ca ngợi các nam thần
Phú Chênh Dây bằng, nhịp ba Sắc thái trầm buồn; dùng diễn tả cảnh ngộ chia ly
Phú Nói Dây bằng, nhịp ba hoặc dồn phách Dùng mô tả đối thoại, gặp gỡ; dùng trong cả văn thờ, văn thi và hầu bóng
Phú Rầu Dây bằng, nhịp đôi Lối hát mang tính chất rất buồn
Đưa Thơ Dây bằng, nhịp ba / dồn phách Sử dụng kỹ thuật dồn phách làm chủ đạo
Vãn Dây bằng, nhịp đôi Hát theo thể song thất lục bát theo nguyên tắc vay - trả
Dọc Dây bằng, nhịp đôi Thể song thất lục bát theo nguyên tắc vay - trả (hát từng câu gọi là "nhất cú", hát liền hai câu gọi là "dọc gối hạc" hay "nhị cú")
Cờn Dây lệch (hoặc bằng), nhịp đôi Chuyên dùng ca ngợi vẻ đẹp các vị nữ thần
Hãm Dây bằng, nhịp đôi Điệu hát khó; áp dụng kỹ thuật "Hạ tứ tự" (mượn 4 chữ trổ sau, sang trổ mới hoàn trả)
Dồn Dây bằng, nhịp ba Đẩy nhanh tiết tấu, tạo không khí dồn dập

Dàn nhạc cổ điển sử dụng đàn nguyệt (giữ vai trò lĩnh xướng giai điệu), phách, cảnh, trống ban, thanh la, trống cái, kết hợp sáo, nhị, đàn thập lục, kèn tàu, chuông, mõ. Nghệ thuật gõ phách - trống ban yêu cầu cung văn tay trái cầm 1 dùi gõ phách kiêm điểm trống ban, tay phải cầm 2 dùi (kẹp giữa ngón cái - trỏ để gõ phách, kẹp giữa ngón trỏ - giữa để gõ cảnh).

Về hình thức diễn xướng hầu đồng, văn bản phân biệt rõ hai trạng thái giáng đồng trong hệ thống tối đa 36 giá:

  • Hầu tráng mạn (giáng trùm khăn đỏ): Áp dụng bắt buộc cho các giá Thánh Mẫu. Cung văn tụng kinh theo chuông mõ khi Mẫu giáng và hát điệu "Xa giá hồi cung" khi người hầu bắt chéo tay trước trán báo hiệu Mẫu thăng.
  • Hầu mở khăn: Áp dụng cho các giá từ hàng Quan trở xuống khi thánh thực sự nhập hồn và giao tiếp với tín đồ.

Khóa luận nhấn mạnh nét khu biệt: Chầu Văn Nam Định thiên về chất giọng thô mộc, dân dã, khỏe khoắn, ảnh hưởng chất trữ tình, lơi nhịp, đảo phách của Chèo; khác biệt với phong cách Chầu Văn Hà Nội vốn trau chuốt, hoa mỹ, chú trọng kỹ thuật nảy hạt.

Chương 3: Chầu Văn Nam Định dưới góc nhìn văn hóa

Chương 3 luận giải giá trị Chầu Văn từ các góc độ nhân học văn hóa, tín ngưỡng và chức năng xã hội.

Thứ nhất, Chầu Văn là loại hình nghệ thuật dân gian thuần Việt, phản ánh thế giới quan của cư dân nông nghiệp lúa nước đồng bằng sông Hồng. Các vị thần trong Tứ Phủ tương ứng với các yếu tố tự nhiên thiết yếu của sản xuất nông nghiệp: Mẫu Thượng Thiên (mây mưa, sấm chớp), Mẫu Thượng Ngàn (rừng núi, lâm thổ sản), Mẫu Thoải (sông nước, thủy lợi), Mẫu Địa Phủ (đất đai, nguồn sống).

Thứ hai, Chầu Văn phản ánh tâm linh mang tính thực chứng của người Việt. Khác với Phật giáo hướng tới giải thoát ở kiếp sau, Đạo Mẫu và Chầu Văn hướng tới đời sống hiện tại: cầu mong sức khỏe, bình an, tài lộc ("Một chút lộc Thánh, còn hơn một gánh lộc trần"). Trạng thái thăng hoa âm nhạc và vũ đạo trong lên đồng đóng vai trò như một cơ chế giải tỏa các dồn nén tâm lý xã hội.

Thứ ba, Chầu Văn gắn bó hữu cơ với hai trung tâm tín ngưỡng lớn tại Nam Định:

  • Quần thể di tích Phủ Giầy (xã Kim Thái, Vụ Bản): Trung tâm thờ Mẫu Liễu Hạnh với các công trình Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát, lăng Mẫu, Công Đồng từ, đền Lý Nam Đế, chùa Linh Sơn. Lễ hội diễn ra vào tháng 3 âm lịch ("tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ") là không gian thực hành Chầu Văn và hầu đồng quy mô nhất.
  • Di tích Đền Trần (phường Lộc Vượng, TP. Nam Định): Gồm 3 công trình Đền Thiên Trường (đền Thượng), Đền Cố Trạch (đền Hạ) và Đền Trùng Hoa; tổ chức lễ hội và nghi lễ khai ấn vào ngày 15 tháng Giêng (bắt đầu từ giờ Tý).

Chương 3 cũng ghi nhận sự thay đổi của Chầu Văn khi bước ra sân khấu ca múa nhạc chuyên nghiệp và kiến nghị các giải pháp quản lý, bảo tồn văn bản cổ, truyền nghề cho thế hệ trẻ nhằm phát huy giá trị di sản.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Cung cấp số liệu khảo sát thực địa toàn diện về thực hành Chầu Văn tại Nam Định (tính đến tháng 8/2012): 287 di tích liên quan, 470 người thực hành trực tiếp (246 người hầu đồng, 245 cung văn, 162 nhạc công, hơn 240 người hát được văn cổ, 6 câu lạc bộ hoạt động thường xuyên).
  • Hệ thống hóa cấu trúc thi pháp và âm nhạc Chầu Văn Nam Định: thống kê và phân tích quy cách sử dụng của 13 làn điệu cốt lõi (Bỉ, Miễu, Thống, các điệu Phú, Đưa thơ, Vãn, Dọc, Cờn, Hãm, Dồn), các thể thơ (lục bát, song thất lục bát, hát nói) cùng kỹ thuật gõ phách - cảnh đặc trưng của cung văn.
  • Làm rõ tính chất phân tầng trong diễn xướng nghi lễ: phân định ranh giới kỹ thuật giữa hầu tráng mạn (giá Mẫu) và hầu mở khăn (hàng Quan, Chầu, Hoàng, Cô, Cậu); chỉ ra sự khác biệt phong cách địa phương giữa Chầu Văn Nam Định và Hà Nội.
  • Đóng góp so với các công trình trước: Khắc phục hạn chế của các nghiên cứu trước đây (vốn chỉ khảo cứu Chầu Văn chung chung hoặc thuần túy âm nhạc) bằng việc tiếp cận Chầu Văn như một hiện tượng văn hóa tổng thể gắn chặt với không gian văn hóa bản địa Nam Định.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực địa của khóa luận chủ yếu tập trung sâu tại hai trung tâm lớn là Phủ Giầy (Vụ Bản) và Đền Trần (TP. Nam Định); các di tích và nhóm thực hành tại các huyện ven biển (Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng) chưa được phân tích so sánh chi tiết.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Nghiên cứu so sánh đối sánh diện rộng giữa phong cách Chầu Văn Nam Định với các trung tâm Chầu Văn lân cận thuộc châu thổ sông Hồng (Hà Nam, Thái Bình, Hải Phòng); khảo sát sâu hơn sự biến đổi của ca từ và kỹ thuật diễn xướng Chầu Văn trong bối cảnh thương mại hóa du lịch tâm linh hiện nay.

Giá trị tham khảo

Công trình là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Việt Nam học, Văn hóa học, Văn hóa dân gian, Âm nhạc dân tộc học khi tìm hiểu về Đạo Mẫu và nghệ thuật diễn xướng nghi lễ.
  • Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý văn hóa trong việc tham khảo tư liệu thực địa, hệ thống làn điệu và số liệu thống kê để xây dựng hồ sơ di sản, quy hoạch bảo tồn văn hóa phi vật thể tại địa phương.
  • Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 (phân tích cấu trúc làn điệu, kỹ thuật nhạc khí, thi pháp văn chầu) và phần tư liệu khảo sát di tích, nhân sự thực hành tại Nam Định trong Chương 1.

Câu hỏi thường gặp

1. Điểm khác biệt căn bản giữa hát Văn thờ và hát Văn hầu đồng trong nghi lễ là gì?
Hát Văn thờ là nghi thức hát lễ trước các buổi hầu hoặc vào các ngày tiệc, ngày tứ quý nhằm thỉnh Thánh chứng giám; sử dụng dàn nhạc 3 người (đàn nguyệt, phách - cảnh - trống ban, trống cái) và tuyệt đối không sử dụng thanh la. Hát Văn hầu đồng là hát trực tiếp phục vụ các giá nhập đồng của thanh đồng, sử dụng đầy đủ nhạc cụ (bao gồm thanh la) và biến đổi làn điệu theo từng hành động, tính cách của vị Thánh giáng nhập.

2. Kỹ thuật "Hạ tứ tự" trong làn điệu Hãm được thực hiện như thế nào?
Trong điệu Hãm (hát liền thể thơ song thất lục bát), "Hạ tứ tự" là kỹ thuật cung văn mượn trước 4 chữ của trổ sau để hát, khi chuyển hẳn sang trổ mới thì thực hiện hoàn trả lại 4 chữ đó, đòi hỏi kỹ năng xử lý hơi và nhịp phách phức tạp.

3. Khóa luận ghi nhận số lượng người thực hành Chầu Văn tại Nam Định năm 2012 là bao nhiêu?
Theo số liệu kiểm kê tháng 8/2012 được nêu trong khóa luận, Nam Định có 470 người trực tiếp thực hành nghi lễ Chầu Văn; trong đó có 246 người hầu đồng (52,34%), 245 cung văn (52,12%), 162 người sử dụng nhạc cụ (34,46%) và hơn 240 cung văn có khả năng hát các bài văn cổ.

4. Nghi thức "Hầu tráng mạn" khác "Hầu mở khăn" như thế nào trong diễn xướng?
Hầu tráng mạn là hình thức người hầu trùm khăn đỏ kín đầu trong suốt giá hầu, cung văn chỉ tụng kinh theo tiếng chuông mõ, áp dụng riêng cho các giá Thánh Mẫu. Hầu mở khăn áp dụng cho các giá từ hàng Quan Lớn trở xuống, khi Thánh đã nhập thực sự và mở khăn diện kiến, ban lộc, phán truyền cho tín đồ.

5. Vì sao làn điệu Miễu tuyệt đối không được sử dụng trong các giá hầu bóng?
Làn điệu Miễu có tính chất rất nghiêm trang, đĩnh đạc, được quy định theo lề lối truyền thống chỉ dành riêng cho việc hát thi và hát thờ tại cửa đền, không tương thích với tính chất vũ đạo và trạng thái nhập hồn biến đổi liên tục của các giá hầu bóng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Lan đã phục dựng một bức tranh toàn diện và có hệ thống về nghệ thuật Chầu Văn tại vùng đất Nam Định từ góc độ văn hóa học. Tác phẩm làm rõ cấu trúc thi pháp, hệ thống 13 làn điệu âm nhạc, lề lối diễn xướng và mối liên hệ mật thiết giữa Chầu Văn với tín ngưỡng Đạo Mẫu Tứ Phủ tại Phủ Giầy và Đền Trần. Thông qua các số liệu khảo sát thực chứng, công trình khẳng định Chầu Văn Nam Định là một di sản văn hóa phi vật thể mang tính nguyên hợp cao, chứa đựng bản sắc văn hóa và tâm thức tâm linh sâu sắc của cư dân nông nghiệp châu thổ sông Hồng.