Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu văn hóa chầu văn Nam Định

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp nghiên cứu chầu văn nam định dưới góc nhìn văn hóa, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp cụ thể cho vấn đề .

Chuyên ngành

Việt Nam Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2014

72
13
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Chầu Văn

Chầu Văn, hay còn gọi là hát Văn, là một loại hình nghệ thuật âm nhạc diễn xướng tâm linh của người Việt, đặc biệt phổ biến ở Nam Định. Chầu Văn không chỉ đơn thuần là một hình thức nghệ thuật mà còn là một phần không thể thiếu trong các nghi lễ thờ Mẫu, phản ánh sâu sắc đời sống tâm linh và văn hóa của người Việt. Theo các nhà nghiên cứu, Chầu Văn đã tồn tại từ lâu đời, gắn liền với các nghi lễ thờ cúng tại đền, miếu, và phủ chùa. Sự phát triển của Chầu Văn không chỉ diễn ra trong nước mà còn lan tỏa ra nước ngoài, phục vụ nhu cầu tâm linh của cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Năm 2012, Chầu Văn được công nhận là một trong những di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam, khẳng định giá trị văn hóa và lịch sử của nó trong đời sống tinh thần của người dân.

1.1. Nguồn gốc và lịch sử phát triển của Chầu Văn

Có nhiều giả thuyết về nguồn gốc của Chầu Văn. Một số ý kiến cho rằng Chầu Văn ra đời từ việc các con nhang đệ tử thực hiện các nghi lễ thờ cúng, trong khi một số khác cho rằng nó bắt nguồn từ việc thờ Thánh Mẫu. Thời kỳ thịnh vượng nhất của Chầu Văn diễn ra vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, khi các cuộc thi hát được tổ chức để tìm kiếm những cung văn tài năng. Tuy nhiên, sau những biến động lịch sử, Chầu Văn đã bị mai một, nhưng từ năm 1986 trở đi, nó đã có cơ hội phục hồi và phát triển trở lại, đặc biệt ở Nam Định, nơi được coi là cái nôi của Chầu Văn.

II. Đặc điểm của Chầu Văn Nam Định

Chầu Văn Nam Định có những đặc điểm riêng biệt, phản ánh bản sắc văn hóa của vùng đất này. Chầu Văn không chỉ là một hình thức nghệ thuật mà còn là một phương tiện để truyền tải các giá trị văn hóa, tín ngưỡng và tâm linh của người dân. Các đề tài chủ yếu trong Chầu Văn thường xoay quanh các nhân vật lịch sử, thần thánh và các truyền thuyết dân gian. Nghệ thuật Chầu Văn thể hiện qua các hình thức diễn xướng phong phú, từ hát thờ đến hát thi, mỗi hình thức đều mang một ý nghĩa và giá trị riêng. Môi trường diễn xướng của Chầu Văn thường diễn ra trong các lễ hội, đền, miếu, tạo nên không khí linh thiêng và trang trọng.

2.1. Nghệ thuật diễn xướng Chầu Văn

Nghệ thuật diễn xướng của Chầu Văn rất đa dạng, bao gồm nhiều hình thức như hát thờ, hát thi và hát hầu đồng. Mỗi hình thức đều có những quy định và cách thức thể hiện riêng. Hát thờ thường được thực hiện trong các nghi lễ, trong khi hát thi là dịp để các cung văn thể hiện tài năng của mình. Đặc biệt, hát hầu đồng không chỉ là một hình thức nghệ thuật mà còn là một nghi lễ tâm linh, nơi người hát kết nối với các thánh thần. Âm nhạc trong Chầu Văn không chỉ mang tính giải trí mà còn chứa đựng những thông điệp tâm linh sâu sắc, thể hiện lòng thành kính của người dân đối với các vị thánh.

III. Chầu Văn dưới góc nhìn văn hóa

Nghiên cứu Chầu Văn dưới góc nhìn văn hóa giúp hiểu rõ hơn về vai trò và ý nghĩa của nó trong đời sống tâm linh của người Việt. Chầu Văn không chỉ là một loại hình nghệ thuật mà còn là một phần quan trọng trong tín ngưỡng dân gian, phản ánh tâm linh và bản sắc văn hóa của người dân. Nghi thức hầu đồng, một phần không thể thiếu trong Chầu Văn, thể hiện sự kết nối giữa con người và thần thánh, giữa thế giới vật chất và thế giới tâm linh. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của Chầu Văn không chỉ giúp gìn giữ di sản văn hóa phi vật thể mà còn góp phần nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa của dân tộc.

3.1. Giá trị văn hóa và thực tiễn của Chầu Văn

Giá trị văn hóa của Chầu Văn không chỉ nằm ở nghệ thuật biểu diễn mà còn ở khả năng kết nối cộng đồng, tạo ra không gian giao lưu văn hóa. Chầu Văn giúp người dân ôn lại lịch sử, truyền dạy các giá trị văn hóa cho thế hệ sau. Hơn nữa, việc nghiên cứu và bảo tồn Chầu Văn còn có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển du lịch văn hóa, thu hút du khách đến với Nam Định, từ đó góp phần phát triển kinh tế địa phương. Như vậy, Chầu Văn không chỉ là một di sản văn hóa mà còn là một tài sản quý giá cho sự phát triển bền vững của cộng đồng.

10/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu trong những buổi hầu bóng có quy mô lớn. Ngày tiệc là ngày quy hóa của vị thánh mà đền là nơi thờ chính hoặc thờ vọng, như tiệc Mẫu Liễu Hạnh (3-3), tiệc Cô Bơ (12-6), tiệc Quan Tam Phủ (24-6), tiệc Ông Hoàng Bảy (17-7), tiệc Đức Trần Triều (20-8), tiệc Đức Vua Cha (22-8), tiệc Ông Hoàng Mười (10-10), tiệc Quan Đệ Nhị (11-11). Tứ quý là bốn ngày lễ chính trong một năm: Thượng nguyên (tháng Giêng), nhập Ha (tháng Tw), tán Hạ (tháng Bảy) và tất niên (tháng Mười Hai). Việc thờ cúng vào ngày tứ quý của tín ngưỡng Tứ phủ có ảnh hưởng từ nghi lễ của nhà Phật.

Lễ thượng nguyên quan trọng nhất vì là lễ trình, lễ cúng đầu tiên trong năm. Lễ nhập Hạ để cầu chư thần chư thánh giải bệnh tật cho mùa Hè. Lễ tán Hạ là hết mùa Hè, cảm tạ thần linh phù hộ cho qua ba tháng Hè và cầu cho ba tháng mùa Thu được yên lành. Lễ tất niên là lễ tạ chuẩn bị bước sang năm mới.

Nghi thức cúng của bốn lễ chính ấy nhìn chung giống nhau, riêng lễ thượng nguyên gồm cúng sao giải hạn và lễ nhập hạ có cúng quan ôn quan dịch để giải trừ dịch bệnh, vì mùa Hè là mùa nhiều bệnh tật nhất trong năm. Hát Văn thờ thường do ba cung văn thực hiện. Một người đánh đàn nguyệt, một người đảm nhiệm các nhạc cụ gõ gồm phách, cảnh, trống ban và một người đánh trống cái. Ba người này có thé luân phiên nhau hát.

Không sử 11 dụng thanh la trong thành phần bộ gõ là điểm khác biệt giữa hát Văn thờ và hát Văn hau. Hát Văn nơi cửa đền: thường gặp tại các đền phủ trong những ngày đầu Xuân, ngày lễ hội. Các cung văn hát Chầu Văn phục vụ khách hành hương đi lễ. Thường thì cung văn sẽ hát Văn về vị thánh thờ tại đền, và hát theo yêu cầu của khách hành hương.

Nhiều khi lời ca tiếng hát được coi như một bài văn khấn nguyện cầu các mong ước của khách hành hương. Một đoạn văn thường hát thí dụ như: "Con đi cầu lộc cầu tài. Cầu con cầu của gái trai đẹp lòng. Gia trung nước thuận một dòng.

Thuyền xuôi một bến vợ chồng ấm êm. Độ cho cầu được ước nên. Đắc tài sai lộc ấm êm cửa nhà. Lộc gần cho chí lộc xa.

Lộc tài lộc thọ lộc đà yên vui." Cùng với hai hình thức hát Văn trên, trong truyền thống, còn có hình thức hát Văn thi. Hát Văn thi ngoài mục đích thống nhất bài bản cho từng thời ky phát triển của nghệ thuật hát Văn, còn là dip dé các cung văn đua tài. Nội dung thi bắt buộc gồm: “Văn Công đồng”, khi hát tuyệt đối không phạm “Huy” và phải liên tục thay đổi các biến thé của điệu phú (Phú Nói — Phú Bình — Phú Chénh — Phú Rau — Phú ràng — Phú Dựng. Ngoài ra các cung văn còn phải hát một bản Văn với nhiều làn điệu khác nhau (như Ngâm vịnh ~ Phú — Doc — Cờn — Xá - Nhịp một - Bỏ bộ — Chèo đò).

để Hội đồng đánh giá về giọng hát và tay đàn của cung văn. Tuy nhiên, cho đến nay thì gần như hình thức này đã bị thất truyền bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. 12 Hát hầu đồng thực chất là sự tái diễn lại những cử chỉ, động tác của các "yj Thánh" cùng với lời hat, tiếng đàn của cung văn. Những động tác, nghi lễ này còn được coi là một phức thể văn hóa, nó tạo ra một không gian "ao" với bóng dáng của các vị Thánh thần; do đó không thể tách rời riêng từng giá trị của làn điệu , lời ca hay độn g tác, mà là một sự ton g hoa tro ng một ngh i thứ c, được đúc kết, lưu truyền trong dân gian.

Do bản hát Văn kế các sự tích và tính cách của các vị giáng đồng khác nhau, nên mỗi giá đồng được quy định bởi một hình thức nghệ thuật tương hợp. Như giá các Quan lớn, Ông Hoàng phải thể hiện sự uy nghiêm, hùng dũng, có múa kiếm đi kèm hát phú, lưu thủy nhịp một. Giá chầu Bà phải thể hiện sao cho duyên dáng, dịu dàng với múa quạt dệt gam thêu hoa, chèo đò kèm theo hát duyên dáng, hát xá, hòa khoan. Trinh tự thực hiện nghỉ lễ hát chau văn phục vụ hầu đồng có thé chia thành bốn phan chính: e Mời thánh nhập e© Kế sự tích và công đức e Xin thánh phù hộ e Đưatiễn Bài hát thường chấm dứt với câu: "Thánh giá hồi cung!".

Trong các hình thức trên thì hát hầu đồng là phổ biến nhất của nghệ thuật chau Văn Nam Định, bởi nó gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần. Những năm gần đây, còn có hát thi trong lễ hội Phủ Giây. Các nhạc cụ chính gồm đàn nguyệt ( đàn kìm) , trống ban ( trống con), phách, cảnh, thanh la. Ngoài ra, hát Chầu Văn còn sử dụng nhiều nhạc cụ khác như: trông cái, sáo, đàn thập lục, nhị, kèn tàu, chuông, m6.

Hát Chau Văn được coi là một cuộc diễn xướng có độ dài nhất trong các nghỉ lễ tâm linh ở Việt Nam, với những lễ thức kéo dài đến gần tám tiếng 13 đồng hồ. Trong suốt khoảng thời gi an đó , nh ữn g ng ườ i há t Vă n, ng ườ i ch ơi nhạc cụ, những nghỉ lễ, nghi thức. được thực hiện liên tục không ngừng nghỉ, tất cả hòa vào nha u the o nhị p điệ u của trố ng, đàn , phá ch.t ạo nên sự cuốn hút cho người xem. Cũng chính bởi lẽ đó mà đòi hỏi những người hát Châu Văn phải nhanh nhạy, linh hoạt, biết chuyển lời, nhạc và giọng sao cho ăn khớp với nhau, những chỗ đòi hỏi độ khó như luyến láy, kéo dài câu ca phải thật chuẩn sao cho bộc lộ và diễn tả được tâm trạng và cảm xúc trong bài Chau Van.

Van Chau mang tính mở, qua thời gian có sự thay đổi, thêm bớt nên Châu Văn có nhiêu dị bản. Dị bản là đặc điểm của văn học đân gian do tính tập thể và tính truyền miệng tạo nên, dị bản là có sự thay đôi về cách dùng từ ngữ cho phù hợp với mục đích sử dụng. Tùy thuộc vào các tình huống tế lễ, màu sắc của văn hóa địa phương, mà sự sáng tác, và ứng biến, các bản Văn Chau được cải biên, được sửa chữa, thêm thắt trong quá trình biểu diễn và lưu truyền, với sự tham gia đồng sáng tác của nhân dân. Ví như có nhiều bản Văn Chầu "Chúa Thác Bờ", các bản Văn có nội dung giông nhau, nhưng có một sô sự khác biệt vê từ ngữ: "Vang nhật nguyệt đêm ngày soi tỏ Chúa Thác Bờ rực rỡ càn khôn _ Non xanh ngắt biện long hang khúc Nước sông Đà bến ngọc lung linh Có ai đi lễ Mẫu trên hòa bình Chúa về đồng làm lễ dâng nhang Dâng lên tam bảo chín mười phương độ trì Tay dâng nhang niệm phật từ bi Tam tòa tiên thánh chứng tâm cho thanh đồng" (Hatvan.vn sưu tầm ) 14 "Vang nhật nguyệt đêm ngày soi tỏ Cảnh thác Bờ rực rỡ càn khôn Lô xô đá mọc đầu nguồn iii Khen ai khéo tac bên luồng chơi vơi, _ Cảnh thác Bờ là nơi thánh tích Lập đền thờ thanh lịch biết bao Sông Đà nước chảy rì rào iil Sau đền đá mọc thấp cao may tầng Cảnh thanh xuân thiều quang soi tỏ Chúa thác Bờ tiên nữ giáng sinh Họ Mường, áo trắng đai xanhi i i" (Câu lạc bộ bảo tồn phục dựng văn hóa tâm linh và đạo Mẫu Việt Nam theo lối cổ sưu tầm) 1.

Giới thiệu chung về Chầu Văn Nam Định 1. Khái quát về tỉnh Nam Định 1. Vi trí dia ly Nam Dinh la tinh ven bién phia Đông Nam đồng bằng châu thé sông Hồng, tọa độ địa lý từ 19 độ 55 phút đến 20 độ 16 phút vĩ độ Bắc và 106 độ đến 106 độ 33 phút kinh độ Đông. Phía Đông giáp tỉnh Thái Bình, phía Tây giáp tỉnh Ninh Bình, phía Nam và Đông Nam giáp biển Đông, phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam.

Nam trong vùng ảnh hưởng của khu vực tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Nam Định cách thủ đô Hà Nội 90km, cách cảng Hải Phòng 100km, đó là các trọng điểm kinh tế lớn trong giao lưu, tiêu thụ 15 ao đô i k ỹ th uậ t, c ô n g ng hệ , t h ô n g ti n v à k i n h n g h i ệ m q u a n lý k i n h hàng hóa, tr doanh.tự nhiên Nam Định là 1.637 km”, bằng khoảng 0,5% diện tích tự nhiên cả nước. Dân số Nam Định là 1.300 người (theo Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 2009), bằng khoảng 2,47% dân số cả nước, mật độ dân số là 1105ngudi/km’. Hiện nay tỉnh Nam Định gồm 10 đơn vị hành chính với 1 thành phố và 9 huyện, đó là thành phố Nam Định, các huyện Mỹ Lộc, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường, Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Ý Yên, Vụ Bản.

Vị trí địa lý có ảnh hưởng quan trọng đối với sự ra đời và phát triển của Chau Văn. Với vị trí nằm trong vùng châu thé đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp với các tỉnh giàu truyền thống văn hóa nghệ thuật, Chau Văn Nam Định có sự giao thoa và tiếp thu nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau để tạo nên sự phong phú, đa dạng nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng. Lịch sử - xã hội Nam Định là nơi con người xuất hiện khá sớm, ở nhiều nơi còn lưu lại dấu tích của nguoi tiền sử như ở các dãy núi thuộc huyện Vụ Bản và huyện Y Yên nằm về phía Tay Bắc của tinh. Tại đây đã tìm thấy những chiếc riu đá có vai mài lưỡi, các hòn nghè, chày đá và bàn nghiền.

Đó là những dấu tích của những cư dân thuộc thời kỳ đồ đá mới hoặc sơ kỳ đồ đồng đã từ vùng rừng núi tiến xuống khai phá vùng đồng bằng ven biển dé sinh sống và dan dan tiến tới lập các làng xóm. Vào lúc cực thịnh của thời kỳ đồ đá, ở tỉnh Nam Định cũng như nhiều địa điểm khác trên đất nước, đã nở rộ những nền văn hoá nguyên thuỷ. Ngoài kinh tế hái lượm những sản phẩm sẵn có trong tự nhiên, người nguyên thuý trên đất Nam Định đã bắt đầu sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia câm. 16 Thời Bắc thuộc, sau khi nước Âu Lạc bị Triệu Đà đánh chiếm vào năm 179 TCN, đất nư ớc bư ớc và o thờ i kỳ Bắ c thu ộc ké o dài hơ n mộ t ngh ìn nă m.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu văn hóa chầu văn Nam Định" mang đến cái nhìn sâu sắc về một trong những di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc của Việt Nam. Chầu văn không chỉ là một hình thức nghệ thuật biểu diễn mà còn chứa đựng nhiều giá trị tâm linh và xã hội. Bài viết phân tích nguồn gốc, ý nghĩa và vai trò của chầu văn trong đời sống cộng đồng, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về sự kết nối giữa văn hóa và tín ngưỡng trong xã hội Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh văn hóa khác, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ văn học hệ thống văn bản văn chầu ở phủ giầy vụ bản nam định tiếp cận từ góc độ nhân học văn hóa, nơi cung cấp cái nhìn sâu hơn về văn chầu. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ tín ngưỡng thờ mẫu liễu hạnh ở phủ giày qua tư liệu hán nôm cũng sẽ giúp bạn khám phá thêm về tín ngưỡng thờ mẫu, một phần không thể thiếu trong văn hóa tâm linh của người Việt. Cuối cùng, bài viết Luận án tiến sĩ văn hoá ẩm thực của người chăm ahiér ở huyện ninh phước tỉnh ninh thuận sẽ mang đến cho bạn cái nhìn đa dạng về văn hóa ẩm thực của một cộng đồng khác, từ đó làm phong phú thêm hiểu biết về văn hóa Việt Nam.