CHƯƠNG 1. TONG QUAN TINH HÌNH VÀ DIA BAN NGHIÊN CỨU.Quan niệm dân gian về tục thờ Thanh Tam Giang 1.1 Khai niệm tín ngưỡng sung bai tự nhiên Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là gì? Trước hết ta phải đồng ý rằng đây là một loại hình tín ngưỡng. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, fín ngưỡng là niềm tin tuyệt đối, không chứng minh (không dựa trên các tài liệu khoa học và thực tiễn), vào sự tồn tại thực tế của những bản chất siêu nhiên (thần thánh)”. Mỗi tín đồ của một tôn giáo đều có niềm tin riêng của mình, nghĩa là tin vào một thế giới siêu linh mà mình tôn thờ.
Tín ngưỡng không phải là một tôn giáo mà chỉ là một niêm tin tôn giáo [16, tr.29] Vậy tín ngưỡng sùng bái tự nhiên có thé hiểu là một hình thái biểu thị đức tin, niềm tin của con người và của cộng đồng ở một trình độ phát triển xã hội và nhận thức nhất định vào các yếu to khác nhau của tự nhiên. Viện sĩ Trần Ngọc Thêm cho rằng: Sùng bái tự nhiên là một giai đoạn tất yếu trong quá trình phát triển của con người. Với người Việt trồng lúa nước thì sự gắn bó với tự nhiên là càng lâu dài và bền chặt. Việc đồng thời phụ thuộc vào nhiều yếu tô khác nhau của tự nhiên dẫn đến hậu quả trong lĩnh vực nhận thức là lỗi tư duy tổng hợp, và trong hình thức tín ngưỡng là tín ngưỡng đa thần [32, tr.
Theo Tạ Chí Đại Trường: dau vết thiên nhiên còn nhiều nên những con vật ở nước đã trở thành thần nước. Rùa thần sẽ có một đại biểu chui vào chuyện xây thành Cổ Loa, những con rắn hoặc còn nguyên vẹn dạng rắn với một vài điểm dị hình hoặc biến thành cái tên truyền kỳ “con thuồng luồng” có tác động nhiều nhất vào mối tin tưởng của người dân [22, tr 385].vn 10 Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009 Người Việt có câu: Nhát điểu, nhì xà, tam ngư, tứ tượng. Nghĩa là Chim, ran, cá sấu là những loài động vật phổ biến hơn cả ở vùng sông nước, do vậy, thuộc loại được sùng bái hàng đầu. Thiên hướng này còn được đây các con vật lên mức tạo thành hai biểu tượng Tiên- Rong, trong đó, tiên được trừu tượng hóa từ giống Chim (cho nên mẹ Âu Cơ đẻ trứng), còn Rồng được trừu tượng hóa từ hai loài bò sát rắn và cá sấu có rất nhiều ở vùng sông nước Đông Nam A [31, tr71].
Như vậy, từ lau, người Việt đã tin va sung bái tín ngưỡng tự nhiên, đặc biệt là tín ngưỡng thờ rắn. Lịch sử hóa thần tự nhiên Theo tư duy nguyên thủy, con người luôn tự coi mình là trung tâm của vũ trụ. Con người tạo ra mối quan hệ giữa con người với con người, con người với thé giới tự nhiên. Một trong những đặc điềm của tín ngưỡng đa than là con người luôn biến những lực lượng trong thế giới tự nhiên thành con người.
Việc “nhân hóa” tất cả những lực lượng tự nhiên như thế là nhăm tăng thêm sự gần gũi, thân thiết giữa thiên nhiên và con người. Ngoài ra, tư duy của người Việt Nam xưa là luôn muốn thiêng hóa các vị thần. Bằng tắm lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, thái độ uống nước nhớ nguồn, người dân các thế hệ đưa nhiều nhân vật lịch sử, văn hóa của đất nước vào hệ thống các nhân vật được phụng thờ [2, tr 452]. Thực chất, đây là một quá trình sáng tạo folklore.
Khi người dân kê khai thần tích của vị thần làng mình, chính là lúc người dân bắt đầu quá trình sáng tạo này. Dé có được quá trình sáng tao ấy, người dân đã huy động toàn bộ vốn liéng văn hóa mà họ có. và lúc này, thần tích lại bắt đầu một đời sống của nó trong tâm thức dân gian. Bởi những bản thần tích ấy đều viết bằng chữ Hán, mà đại đa số cư dân Việt, thời quân chủ không phải ai cũng biết, cũng đọc được thứ chữ này.
Vả chăng, trong con mắt những người dân quê, bản thần tích ấy là vật báu nhà vua ban cho vị Thánh của làng, thành thử nó chứa không ít chất linh thiêng, kì bí 11 Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009 nên được cất giữ can thận. Người dân quê chỉ được nghe lại, ké lại từ các ông đồ nho, các nhân vật được xã trao cho quyền cất giữ các thần tích. Việc truyền miệng diễn ra, và đương nhiên, quá trình sáng tạo folklore lại bắt đầu. Cứ như vậy, qua thời gian, diện mạo của vị thần của làng quê này được hoàn chỉnh, dé trở thành vị thánh của cộng đồng trong tâm thức dân gian [2, tr 447-448].
Quan niệm dân gian về Tục thờ Thánh Tam Giang ở vùng Ngã Ba Xà Ở Việt Nam, tục thờ thánh Tam Giang ra đời trên nền tảng xã hội nông nghiệp cổ truyền. Thánh Tam Giang trở thành thành hoàng của hơn 300 làng vùng sông nước. Ngô Đức Thịnh đã nhận xét răng “Thành hoàng là một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể” và việc thờ cúng thành hoàng, hội làng trở thành biểu tượng của cố kết cộng đồng: từ cộng mệnh đến cộng cam. Và từ góc độ tín ngưỡng tôn giáo, Giao su coi tho thành hoàng như một tín ngưỡng làng xã nói riêng và là một biểu hiện đặc trưng của văn hóa nông nghiệp Việt Nam nói chung (27, tr.
Phan Đại Doãn cũng cho rang: tin ngưỡng cao nhất trong một làng là thờ thành hoàng trong đình làng. Theo pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Hoạt động tín ngưỡng là “hoạt động thể hiện sự tôn thờ tô tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng: thờ cúng thần, thánh; biểu tượng có tình truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những gia tri tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội” [33, tr. Ở Việt Nam, ngay từ đầu, tư tưởng thờ Thánh Tam Giang- vị thần của sông nước- đã thể hiện sự tôn thờ trời đất, giới siêu nhiên và thần thánh. Hiện tượng thờ Thánh Tam Giang có đầy đủ các yếu tô như đối tượng thờ, cơ sở và 12 Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009 điện thờ, nghi thức thờ cúng và các trò chơi, trò diễn mang tính nghi lễ.
Vì thế, tục thờ thánh Tam Giang chính là một loại hình tín ngưỡng của cư dan nông nghiệp nói chung và cư dân vùng Ngã Ba Xà nói riêng.Tổng quan về tình hình nghiên cứu. Nghiên cứu về tín ngưỡng Việt Nam, từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như Dân tộc học, Sử học, Xã hội học. Các tác phẩm của các nhà khoa hoc nay với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã tạo nên một kho tư liệu khá phong phú. Về đại thể, có thể chia các công trình nghiên cứu này thành hai nhóm.
Nhóm thứ nhất là nghiên cứu về tín ngưỡng dân dã và nhóm thứ hai là các công trình nghiên cứu về sự biến đối của văn hóa nói chung và tín ngưỡng nói riêng. Các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian nói chung và tục thờ TTG nói riêng có từ rất sớm và có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị như các công trình: Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên soạn năm 1479; Tiếp đó là các cuốn: Linh Nam chích quái của Vũ Quỳnh- Kiều Phú, được soạn năm 1492; Việt Nam văn hóa sử cương (1938) của Đào Duy Anh. Dưới cách tiếp cận sử học và văn hoá dân gian, các nhà nghiên cứu đi trước đã cung cấp những tư liệu quý giá về truyền thuyết, thần tích cũng như một số tập tục, sinh hoạt văn hoá- tín ngưỡng dân gian của dân tộc. Tình hình nghiên cứu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam vẫn tiếp tục được duy trì một cách khá đều đặn trong những năm tiếp theo.
Nhưng phải đến sau 1986 việc nghiên cứu nay mới thực sự khởi sắc và có bước phát triển rõ rệt khi mà những bí ẩn của cõi tâm linh được chú ý nhiều. Từ những biểu hiện cụ thé của nghi lễ, của phong tục, của lễ hội diễn ra thường xuyên trong giai đoạn này, các nhà khoa học đã có công tìm hiểu, nghiên cứu và giải mã niềm tin sâu xa mà con người gửi gam trong tín ngưỡng dé cho ra đời hàng loạt những công trình, 13 Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009 những bài viết giá trị về tín ngưỡng dân gian như: Tín ngưỡng làng xã (Vũ Ngọc Khánh, 1993), Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam (Nguyễn Duy Hinh, 1996), Từ điển lễ tục Việt Nam (Bùi Xuân Mỹ, Bùi Thiết và Pham Minh Thảo, 1996), Vé tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay (Đặng Nghiêm Vạn chủ biên, 1996), Tìiép cận tín ngưỡng dan đã Việt Nam của Nguyễn Minh San (1998); Từ cái nhìn văn hoá của Đỗ Lai Thuý; Văn hoá Việt Nam- tìm tòi và suy ngẫm của cô Gs. Trần Quốc Vượng; Kho tang lễ hội cổ truyền Việt Nam (Nhiều tác giả; 2000); Tín ngưỡng thờ Thành hoàng của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ (Vũ Ngọc Khánh chủ biên, 2000), Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam (Nguyễn Đăng Duy, 2001); Tir điển Việt Nam văn hoá tín ngưỡng phong tục (Vũ Ngọc Khanh, Phạm Minh Thảo, 2005) và đặc biệt là cuốn Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam của GS. Ngô Đức Thịnh (2001).
Tác giả đã đưa ra một nghiên cứu toàn diện và sâu sắc về tín ngưỡng thành hoàng. Tác giả đã tiếp cận vấn đề từ góc độ tín ngưỡng tôn giáo, coi thờ thành hoàng như một tín ngưỡng lang xã nói riêng và là một biéu hiện đặc trưng cua văn hóa nông nghiệp Việt Nam. Thịnh đã nhận xét răng thanh hoàng là một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thé và việc thờ cúng thành hoàng, hội làng trở thành biéu tượng của cố kết cộng đồng: từ cộng mệnh đến cộng cảm [26, tr. 296) Ngoài ra, không thé không kế đến cuốn Thdn, người và dat Việt của Tạ Chí Đại Trường (2006- tái bản).
Những thông tin của cuốn sách rất có giá trị với tôi khi nghiên cứu về TTG. Tác gia chỉ ra rang: 7# nhất, Trương Hồng, Trương Hát là hai thần sông. Thi hai, anh em Trương Hồng, Trương Hat là nhiên than, sau bị nhân hóa thành Nhân thần. Thi? ba, từ phân tích nghiên cứu các tài liệu 14 Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009 nghiên cứu đến các sự kiện lịch sử.