phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, trong phần Nội dung chính của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết. KHÁI QUAT CHUNG VE DIA BAN NGHIÊN CỨU PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGUONG THỜ CUNG TO TIEN XÃ ĐẠI DONG HUYEN THACH THAT, HA NOI HIEN NAY 1. Khái quát chung về điều kiện địa lý, tự nhiên, chính trị, lich sử, văn hóa Phật giáo tại xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà Nội 1. Khái lược về điều kiện lịch sw, chính trị, van hóa, xã hội xã Đại Dong, huyện Thạch That, Hà Nội Xã Dai Đồng, huyện Thạch That, tỉnh Hà Tây trước đây từ 2008 là thuộc ngoại thành, Thành phố Hà Nội là cộng đồng dân cư nông nghiệp cổ, nhân dân có truyền thống văn hóa tốt đẹp.
Đảng bộ và nhân dân xã Đại Đồng đã được Nhà nước hai lần phong tặng danh hiệu đơn vị anh hùng: Anh hùng Lực lượng vũ trang thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954) và Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. Đến năm 2013, xã Đại Đồng đã hoàn thành xây dựng nông thôn mới. Xã Dai Đồng nam ở cực Bắc của huyện Thạch That, phía Bắc giáp xã Phúc Hòa và thị tran Phúc Thọ, phía Đông giáp xã Phụng Thượng (huyện Phúc Thọ), phía Nam giáp xã Lại Thượng và xã Phú Kim, phía Tây giáp xã Câm Yên. Năm 2015, điện tích tự nhiên của xã là 530,68 ha, trong đó đất nông nghiệp là 388,20 ha, dat phi nông nghiệp 142,48 ha.
Dân cư trong xã gồm 2.935 nhân khâu, xã Đại Đồng gồm 11 thôn, cụm dân cư. Với vị trí thuận lợi, phía Bắc xã giáp với tuyến đường quốc lộ 32, cách trung tâm Hà nội 30km, chạy dọc xã là tỉnh lộ 419, trung tâm xã là chợ Đại Đồng, được thành lập năm Thành Thái thứ 3 (1891), là điều kiện để nhân dân giao lưu kinh tế, xã hội với bên ngoài; Thực tế từ xưa đến nay, ngoài san xuât nông nghiệp việc buôn bán nông sản, san xuât ngành nghê, 10 tiêu thủ công nghiệp của xã luôn có điều kiện phát triển. Nhất là từ sau đôi mới đến năm 2015, tỷ trọng giá trị sản xuất tiêu thủ công nghiệp, thương mai của xã Dai Đồng chiếm 78,6%, giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 21,4% cơ cau kinh tế xã. Xã Đại Đồng thuộc vùng có hệ thống nông giang của huyện Thạch That, địa hình ruộng đồng tương đối bằng phang, nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
Một số gò cao, là nơi dan cư quan tụ lâu đời sinh sống hình thành nên các làng xóm mật độ dân cư đông đúc. Đất canh tác của xã bằng phẳng, chất đất thuộc hệ phù sa cổ của sông Hồng và sông Đáy, với những đặc tính tƠI xp, độ màu cao; bên cạnh đó, đồng ruộng canh tác của xã rất thuận lợi cho việc tưới tiêu; phía Bắc và phía Nam là hệ thống tưới, dẫn nước từ sông Hồng, vì vậy đồng ruộng của xã tiếp tục được bồi đắp phù sa. Với đặc điểm trên đây, Dai Dong là xã rất thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp. Từ xưa đến nay là địa phương dẫn đầu về năng suất lúa của cả huyện Thạch That.
Về lịch sử, thông qua các chỉ dẫn di chỉ khảo cổ trong vùng: chiếc trống đồng tại xã Lại Thượng giáp phía tây xã Đại Đồng) có niên đại 2 đầu công nguyên; mũi đao, mũi giáo có niên đại đầu công nguyên (-+ 300 năm) tại di chỉ Quán Sải (xã Phú Kim, phía nam xã Đại Đồng ). Theo bản thần phả Quán Sải (xã Phú Kim) do Đại học sỹ Nguyễn Bính soạn năm 1572, thì vào đời Vua Hán Hiến Đề (năm 189-220), 3 anh em họ Chu, khi đến Thạch Thất định cư đã chọn Trang lai Hạ, nay thuộc Phú kim) là Chánh cung, lấy địa phận các xã hiện nay là Dai Đồng, Hương Ngai, Kim Quan, Chi Quan.làm hành cung. Đồng thời qua khảo cứu tại đị phương về ngôn ngữ người Việt cổ, có thé khẳng định lịch sử tụ cư, định cư từ sớm của cộng đồng dân cư cổ thuộc địa bàn xã Đại Đồng ngày nay, khi xưa, gồm có: Kẻ Đòng (ấp Cự Đồng, làng Đại Đồng), Kẻ Chàm (Hương Lam), Kẻ Ngạnh (Ngọc Lâu), Kẻ Doi (Lai Khánh). Trải qua hàng ngàn năm biến đổi do chiến tranh, giăc đã II dịch bệnh.thành phan dân cư thay đôi thay đổi nhiều lần.
Đến khoảng thé kỷ XIV, thì có đợt dân cư từ nhiều nơi khác quần tụ về địa phận xã Đại Đồng sinh sống cho đến ngày nay. Năm 1903 làng Lại Khánh tách ra thành lập xã mới. Đến trước Cách mang tháng 8/1945 xã Đại Đồng thuộc vào Tổng Đại Đồng và có 5 thôn: Đại Đồng. Hương Lam, Ngọc Lâu, Minh Nghĩa, Minh Đức vẫn còn giữ nhiều tập tục, ngôn ngữ cổ.
- Làng Dai Đồng: Ở trung tâm xã, diện tích trên 150 mẫu, cổ xưa tên là là Kẻ Đòng, ấp Cự Đồng, sau đổi là Đồng Thôn, đến đời Nguyễn (thế kỷ XIX) tên làng đổi là Đại Đồng như hiện nay. Dân cư ban đầu còn it, tập trung ở những nơi có địa thế cao như xóm Chính, xóm Giữa, xóm Trong và xóm Đoài. Sau này dân cư phát triển hình thành nên các xóm khác. Làng Đại Đồng trước đây được chia thành 7 thôn dân cư gồm: Rộc Đoài, Tây Trong, Hàn Chùa, Đình Rối, Lươn Trong, Lươn Ngoài và Đồng Cầu.
Năm 2015, làng Đại Đồng có 1. Làng có 15 xóm: xóm Đình, xóm Rộc, xóm Doai, xóm Chính, xóm Giữa, xóm Trong, Lươn Ngoài, Cầu Bồi, Đồng Ai và xóm Chính Ngọc. Xưa kia làng Dai Đồng có 4 cổng chính: công phía Tây (cổng Rộc), công phía Đông (giáp đường 419), cổng xóm Lươn và công Đình Rối; trong đó cổng phía Tây và công phía Đông có tuần phiên canh giữ, coi trông đồng điền và tài sản cho nhân dân trong làng. - Thôn Hương Lam: Cổ xưa gọi là Kẻ Chàm, sau gọi là Chàm Thôn.
Đến đời Tự Đức (1847-1883) tên Lang được đổi thành Hương Lam như hiện nay. Xưa kia Chàm Thôn là một làng biệt lập, xung quanh là đồng trũng gọi là Rộc Chăm, đi vào làng phải qua 9 cầu tre. Đến năm 2015 có 282 hộ, với 1.056 nhân khẩu; thôn có 4 xóm gồm: xóm Đông, xóm Giữa, xóm Nam, xóm Bắc. - Thôn Ngọc Lâu: Ở phía Tây Bắc xã Đại Đồng, cổ xưa tên là Kẻ Ngạnh, Ngạnh Thôn, dân cư từ làng Đại Đồng và một số người từ huyện Phúc 12 Thọ về tập trung sinh sống trên dai đất cao, đẹp tựa như ngôi lầu trên đất ngọc, đến thế kỷ XIX tên làng đổi là Ngọc Lâu.
Đến năm 2015 có 232 hộ và 838 nhân khẩu. - Thôn Minh Nghĩa: Ở phía Bắc xã Đại Đồng, giáp quốc lộ 32. Thôn Minh Nghĩa hình thành vào những năm 1975. Do yêu cầu bảo vệ đồng điền, xã cử một số gia đình có nhiều con trai, đại diện các dòng họ tộc lên lập trại tại cánh đồng Miéng, đến năm 1768 gọi là trại Minh Nghĩa, đến thế kỷ XIX gọi là thôn Minh Nghĩa.
Đến năm 2015 thôn có 442 hộ, 1637 nhân khẩu. - Thôn Minh Đức: Ở phía Bắc xã Đại Đồng, được hình thành vào thế ky thứ XVII (thời Hậu Lê). Cô xưa là trạm đưa tin tức nên có tên là Trạm sau đó một số nhân dân trong xã đên sinh sống thành xóm và có nghề làm quạt, nên gọi là Trạm Quạt, phố Quạt. năm 1920 được đổi là Minh Đức như ngày nay.Đến năm 2015 thôn Minh Đức có 113 hộ và 432 nhân khẩu.
Dân cư các làng của xã Dai Đồng hiện nay hau hết là từ làng Dai Đồng phát triển di chuyển đến sinh cơ lập nghiệp, nên đều có quan hệ họ hàng, phong tục tập quán, ứng xử đều giống nhau, nhân dân trong xã chủ yếu tin và theo đạo Phật thực hành tín ngưỡng truyền thống. Xưa kia nghề nghiệp chính là sản xuất nông nghiệp, một số nhân làm nghề thủ công, buôn bán nhỏ. Người dân trong xã có lỗi sống nông thôn giản dị, that thà, chat phát, quan hệ trong ứng xử cộng đồng nặng về tình cảm, tương thân, tương ái. Khái lược về Phật giáo * Quá trình hình thành của Phật giáo - Diéu kiện xã hội Một tôn giáo, không luận là giáo lý cao siêu hay thâm thúy đến đâu, cũng vẫn là kết quả sản phẩm của xã hội.
Là sản phẩm của xã hội, tất nhiên tôn giáo ảnh hưởng đến các lĩnh vực xã hội và đồng thời chịu ảnh hưởng ngược lại. Đó là điều phổ biến. 13 Phật giáo có nguồn gốc từ văn hóa Ấn Độ cô đại tới nay, có một lịch sử trên hai ngàn năm, Đông — Tây truyền bá, lan tỏa ảnh hưởng khắp cả các châu lục. Trong quá trình truyền bá ấy, qua mỗi nền văn hóa, Phật giáo lại tùy theo hoàn cảnh xã hội của mỗi dân tộc, mỗi địa phương mà có ít nhiều biến đổi về bản sắc.
Vì thế, trước hết muốn nói đến nội dung giáo lý của Phật giáo, không thể không di sâu phân tích vào bối cảnh lich sử văn hóa An Độ cổ đại. Đạo Phật ra đời vào khoảng thế kỷ VI — V trước Công nguyên ở phía Bắc nước An Độ cổ đại, trên vùng Nêpan ngày nay, An Độ là một nước có văn minh tối cô lớn, điều kiện tự nhiên đa dạng, đất rộng, người đông ở miền nam Châu Á, là nước có lịch sử lâu đời, là một trong những nên văn minh lớn nhất và rực rỡ nhất trên thế giới. Theo tài liệu của khảo cô học, trước tiên là thời đại “đồ đồng”, hình thành vào khoảng ba nghìn năm trước Tây lịch. Phạm vi địa lý của Ấn Độ cổ chủ yếu gom một phần các nước Ấn Độ, Pakixtan, Bangladet và Nepan ngày nay.
An Độ chia làm hai miền Bắc — Nam với dãy núi Viađia làm ranh giới. Ân Độ có hai con sông lớn chảy qua là sống An và sông Hang. Sông An có năm nhánh nên vùng đồng bằng lưu vực sông Ấn gọi là Penjap (năm nhánh sông). Chính tên con sông An, người địa phương gọi là Hindu, người Hy Lạp gọi là Inđốt, người Anh gọi là India, India dịch qua tiếng Hán là An Độ.
Người Trung Quốc gọi An Độ là Thiên Trúc hay Tây Trúc. Dân tộc định cư ở Ấn Độ như: Mundian, Sumerian., đặc biệt là Đravidian, hầu như đã hình thành một nền văn hóa “nông nghiệp” là văn minh An — Hà, (Induscivilization). Theo nhà khảo cô học A.Wardẻ, trong tập sách “Phật giáo An D6” thì nền văn minh Án — Hà trải dài về phía đông đến thung lũng sông Hằng và Đông Nam vượt qua Gujarat. Bấy giờ đã có hai thành phố lớn, hai trung tâm chính, một ở PuJab và một ở Sindh.