Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Tôn giáo, tín ngưỡng của cư dân vùng ven biển Bạc Liêu" do nghiên cứu sinh Trương Thu Trang thực hiện thuộc chuyên ngành Văn hóa học tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Quỳnh Phương và TS. Trần Văn Nam (bảo vệ năm 2017).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tôn giáo, tín ngưỡng là thành tố phản ánh nếp cảm, nếp nghĩ và nhận thức của con người trước vũ trụ. Thực tế đời sống của ngư dân và cư dân vùng duyên hải luôn đối mặt với môi trường thiên nhiên nhiều hiểm nguy, bấp bênh và rủi ro khôn lường, dẫn đến việc các thực hành cầu cúng diễn ra dày đặc nhằm tìm kiếm sự an định tinh thần. Bạc Liêu là tỉnh duyên hải thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, sở hữu đường bờ biển dài 56 km (chiếm 1,72% chiều dài bờ biển cả nước) chạy qua thành phố Bạc Liêu, huyện Hòa Bình, huyện Đông Hải, cùng vùng lãnh hải rộng hơn 20.000 km². Vùng ven biển là nơi định cư đầu tiên của các lớp cư dân khai hoang và hiện là trung tâm kinh tế - văn hóa sôi động nhất của tỉnh.

Khoảng trống nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn những năm gần đây, khi các điểm thực hành tôn giáo, tín ngưỡng ven biển Bạc Liêu thu hút lượng lớn khách hành hương từ nhiều nơi (ước tính trên dưới 400.000 lượt người mỗi năm tại khu vực Quán Âm Phật Đài). Mặc dù văn hóa biển và tín ngưỡng dân gian Nam Bộ đã có một số công trình nghiên cứu, nhưng các hiện tượng tôn giáo, tín ngưỡng cụ thể tại dải ven biển Bạc Liêu – nơi có sự cộng cư đan xen suốt hơn 300 năm của ba dân tộc Kinh, Khmer, Hoa – vẫn chưa được khảo sát một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống dưới góc độ văn hóa học.

Câu hỏi nghiên cứu

Tác giả xác định ba câu hỏi nghiên cứu trọng tâm được đánh số trong văn bản:

  1. Thứ nhất: Vì sao có sự gia tăng đáng kể về số lượng người đến vùng ven biển Bạc Liêu thực hành tín ngưỡng? Đời sống người dân nhiều bất an nên họ phải đến đây cầu an, giải nạn, hay do đời sống kinh tế phát triển hơn nên xuất hiện nhu cầu du lịch tâm linh?
  2. Thứ hai: Vì sao một số tôn giáo, tín ngưỡng vốn mang tính chất biển cận duyên như tín ngưỡng Quán Âm Nam Hải lại trở thành đối tượng tín ngưỡng chung của cư dân trong và ngoài tỉnh, khi người dân không chỉ cầu mong phò trợ đi biển mà xem đây là vị cứu rỗi mọi chúng sinh? Nguyên nhân, tiến trình biến đổi và đặc trưng hình thành từ sự biến đổi đó là gì?
  3. Thứ ba: Vì sao tín ngưỡng thờ Mẫu và Nữ thần tại vùng này rất nổi trội, và phần lớn các lễ hội, ngày vía (Quán Âm Nam Hải, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Bà Chúa Xứ, Vạn Ban Ngũ Hành, Bà Thủy) đều tập trung vào ngày 23 tháng 3 âm lịch (vốn là ngày sinh của Bà Thiên Hậu trong văn hóa người Hoa)? Sự nổi trội của nhân vật Bà Thiên Hậu được giải thích ra sao dưới góc độ giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa ba tộc người Kinh – Khmer – Hoa?

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là nhận diện và lý giải các hiện tượng tôn giáo, tín ngưỡng tại vùng ven biển Bạc Liêu; làm rõ sắc thái văn hóa tộc người và các chiều cạnh sinh kế của con người nơi vùng đất mới, đóng góp một nghiên cứu trường hợp về vai trò của tôn giáo, tín ngưỡng trong đời sống văn hóa cư dân ven biển.

Ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể gồm:

  • Nhận diện khái quát diện mạo tôn giáo, tín ngưỡng vùng ven biển Bạc Liêu.
  • Phân tích đặc điểm, vai trò và các chức năng của tôn giáo, tín ngưỡng trong đời sống cư dân và ngư dân ven biển.
  • Tìm hiểu những biểu hiện giao lưu, tiếp biến văn hóa và sự biến đổi của các thực hành tôn giáo, tín ngưỡng tại địa bàn nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các truyền thuyết, lễ hội, di tích và các thực hành liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng của cư dân và ngư dân ven biển Bạc Liêu, tập trung vào ba hiện tượng tiêu biểu: Quán Âm Nam Hải, Thiên Hậu Thánh Mẫu, thờ cúng Cá Ông và Thần Biển.
  • Khách thể nghiên cứu: Cộng đồng cư dân ba dân tộc Kinh – Khmer – Hoa sinh sống tại dải ven biển, trong đó phần lớn làm nghề khai thác, đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản và một số ngành nghề nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
  • Phạm vi không gian: Trải dài trên 56 km bờ biển Bạc Liêu thuộc thành phố Bạc Liêu, huyện Hòa Bình và huyện Đông Hải, giới hạn trong bán kính 10 km tính từ mép nước biển vào đất liền. Các điểm khảo sát trọng điểm gồm: Quán Âm Phật Đài (phường Nhà Mát, TP. Bạc Liêu), Lăng Ông Duyên Hải (xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình), Lăng Ông Nam Hải và Miếu thờ Thiên Hậu (thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải), khu vực lễ hội Cúng Biển của người Khmer (xã Hiệp Thành, TP. Bạc Liêu).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát các thực hành tín ngưỡng truyền thống trong lịch sử định cư kết hợp khảo sát thực địa các biến đổi đương đại đến thời điểm thực hiện luận án (2017).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu liên quan theo năm nhóm chủ đề chính:

Nhóm chủ đề Tác giả, công trình và năm công bố tiêu biểu Nội dung học thuật đã đạt được
Lý luận chung về tôn giáo, tín ngưỡng - Nhiều tác giả (2005), Tôn giáo – Lý luận xưa và nay
- Trác Tân Bình (2007), Lý giải tôn giáo
- Đỗ Minh Hợp chủ biên (2009), Tôn giáo học nhập môn
- Đặng Nghiêm Vạn (2001), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam
- Ngô Đức Thịnh & Phạm Quỳnh Phương (2007), Nhìn lại một thế kỉ nghiên cứu tín ngưỡng dân gian
- Đỗ Quang Hưng (2008), Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam
- Nguyễn Thanh Xuân (2008), Một số tôn giáo ở Việt Nam
- Nguyễn Minh Khải (2013), Tín ngưỡng tôn giáo và thực hiện chính sách...
Làm rõ bản chất, nguồn gốc, chức năng, phân loại hình thái tín ngưỡng dân gian và tôn giáo thể chế trong bối cảnh Việt Nam.
Văn hóa biển và cộng đồng ngư dân Việt Nam - Phan Ngọc (2006), Nguyễn Thị Hải Lê (2010), Nguyễn Văn Kim (2011) về nhận thức biển đảo
- Nguyễn Công Bằng (2007), Dư Văn Toản (2010), Lâm Thị Mỹ Dung (2011), Lại Văn Tới (2011) về lịch sử biển đảo
- Ngô Đức Thịnh & Nguyễn Việt (1984), Li Tana (2002), Nguyễn Viết Trung (2007) về phương tiện, phương thức khai thác biển
- Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian (2000), Văn hóa dân gian làng ven biển
- Nguyễn Đăng Vũ (2003) tại Quảng Ngãi; Phạm Thanh Tịnh (2012) tại Hà Tĩnh
- Nguyễn Duy Thiệu (2002), Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam
- Trần Hồng Liên chủ biên (2004), Cộng đồng ngư dân Việt ở Nam Bộ
Mô tả diện mạo văn hóa dân gian làng biển, tri thức dân gian, văn hóa ứng xử với biển của ngư dân từ Bắc vào Nam, đặc biệt là trường hợp Phước Tỉnh (Bà Rịa – Vũng Tàu) và Vàm Láng (Tiền Giang).
Tín ngưỡng ven biển và tục thờ thần biển, Cá Ông - Lê Quang Nghiêm (1970), Nghi thức khấn bái và hội hè của ngư phủ Việt Nam
- Phan An & Đinh Văn Hạnh (2004), Dương Hoàng Lộc (2009), Nguyễn Xuân Hương (2009), Phạm Tấn Thiên (2012)
- Nguyễn Thanh Lợi (2002, 2014) về tục thờ Cá Ông
- Phan Thị Yến Tuyết (2006, 2010) về tôn giáo, tín ngưỡng ven biển Nam Bộ
Khẳng định tính phổ quát của các hình thức thờ Mẫu, thờ Cá Ông, thờ Thần Biển, thờ âm hồn; phân tích sự chuyển biến tâm thức của ngư dân trên con đường tiến về phương Nam.
Tín ngưỡng thờ Mẫu và Nữ thần - Văn Đình Hy (1978), Nguyễn Văn Huyên (1996), Nguyễn Hữu Thông (2001), Trần Hồng Liên (2006), Vũ Ngọc Khánh (2012)
- Ngô Đức Thịnh chủ biên (2012), Đạo Mẫu Việt Nam
Ứng dụng lý thuyết hiện tượng xã hội tổng thể của Marcel Mauss nghiên cứu hệ thống thờ Mẫu từ Bắc vào Nam; chỉ ra tính bản địa và bản sắc riêng của tục thờ Nữ thần/Mẫu tại Việt Nam.
Văn hóa và tín ngưỡng tại Nam Bộ và Bạc Liêu - Viện KHXH tại TP.HCM (2000), Văn hóa Nam Bộ trong không gian xã hội Đông Nam Á (Trần Hồng Liên, Ngô Văn Lệ, Huỳnh Quốc Thắng, Trần Kim Dung)
- Hội Văn học Nghệ thuật Bạc Liêu (2005), Văn học dân gian Bạc Liêu
- Phan Trung Nghĩa (2012), Bạc Liêu trong mắt tôi
- Trần Thuận (2002, 2007, 2012) về chùa chiền và tín ngưỡng dân gian Bạc Liêu
Phân tích tính hỗn dung văn hóa Nam Bộ; cung cấp tư liệu bước đầu về chùa, đình, miếu, truyền thuyết dân gian và sự giao lưu văn hóa giữa ba tộc người Kinh, Khmer, Hoa trên địa bàn Bạc Liêu.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình tổng quan về Đạo Mẫu và văn hóa biển trước đây chủ yếu tập trung vào dải duyên hải miền Bắc, miền Trung hoặc một số địa bàn Đông Nam Bộ. Hiện tượng tín ngưỡng Mẹ Nam Hải và thực hành cúng Thần Biển tại Bạc Liêu hầu như chưa được khảo cứu thấu đáo. Luận án định vị là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện, liên ngành về toàn bộ hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng của cư dân ven biển Bạc Liêu, giải mã hiện tượng gia tăng tín đồ, cơ chế giao lưu tiếp biến văn hóa ba tộc người và sự tương tác giữa tín ngưỡng với kinh tế thị trường, du lịch tâm linh đương đại.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm công cụ

  • Tôn giáo và Tín ngưỡng: Luận án điểm lại hai khuynh hướng học thuật: (1) Tách biệt tôn giáo và tín ngưỡng, coi tín ngưỡng ở cấp độ thấp hơn (Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Thanh Xuân, Hoàng Văn Thành); (2) Đồng nhất hoặc không phân biệt cao – thấp giữa tôn giáo và tín ngưỡng, nhìn nhận tín ngưỡng dân gian chính là tôn giáo theo nghĩa nhân học (Léopold Cadière, Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Quốc Tuấn). Luận án lựa chọn cách tiếp cận không phân định đẳng cấp cao – thấp, sử dụng song song hai thuật ngữ phù hợp với Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo (2004) và thực tiễn học thuật Việt Nam.
  • Vùng ven biển: Kế thừa khái niệm "biển cận duyên" của Ngô Đức Thịnh (vùng biển và đất liền chạy dọc bờ biển), luận án xác định không gian nghiên cứu cụ thể là dải đất liền kéo dài 56 km bờ biển với bán kính 10 km từ mép nước vào nội địa tỉnh Bạc Liêu.

Khung lý thuyết phân tích

  1. Thuyết Chức năng (Functionalism):
    • Vận dụng quan điểm của Bronislaw Malinowski trong Magic, Science and Religion (1925): ma thuật và nghi lễ tôn giáo có chức năng tâm lý nhằm giải tỏa lo âu, trấn an con người trước những hoàn cảnh bất an, nguy hiểm và rủi ro vượt khỏi tầm kiểm soát (như nghề đánh bắt xa bờ).
    • Vận dụng quan điểm của A.R. Radcliffe-Brown: chức năng cấu trúc – xã hội của tôn giáo trong việc duy trì trật tự, tính liên kết hữu cơ và sự ổn định của cộng đồng xã hội.
    • Tham chiếu các quan niệm của S.A. Tokarev về các hình thức tôn giáo sơ khai, James George Frazer, quan điểm mác-xít (C. Mác, Đặng Nghiêm Vạn) về nhu cầu bù đắp tâm lý, và Talal Asad về sự tương tác của bối cảnh kinh tế - xã hội.
  2. Thuyết Vùng văn hóa (Cultural Area Theory):
    • Vận dụng lý thuyết của Clark Wissler, A.L. Kroeber và định nghĩa vùng văn hóa của Ngô Đức Thịnh để làm rõ sự tác động của môi trường địa lý sinh thái biển ngập mặn cận duyên đối với sự hình thành lối sống, tập quán và các thực hành văn hóa tâm linh đặc thù của cư dân địa phương.
  3. Thuyết Giao lưu và tiếp biến văn hóa (Acculturation):
    • Dựa trên khung lý thuyết của nhân học văn hóa (Nguyễn Thừa Hỷ, Phan Thị Yến Tuyết, Huỳnh Ngọc Thu, Thompson) để giải thích quá trình tiếp xúc lâu dài giữa ba cộng đồng Kinh, Khmer, Hoa; làm rõ các hình thức giao thoa, hỗn dung thần điện, tích hợp nghi lễ và chia sẻ không gian thiêng.

Phương pháp nghiên cứu và mẫu khảo sát

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và tiếp cận liên ngành (Văn hóa học, Dân tộc học/Nhân học, Lịch sử, Tâm lý học tôn giáo). Phương pháp thực địa bao gồm điền dã dân tộc học, quan sát tham dự tại các lễ hội, ngày vía và phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhanh bán cấu trúc.

Nhóm đối tượng phỏng vấn Phương pháp lấy mẫu Số lượng (người) Thành phần chi tiết
Người thực hành và tham dự nghi lễ Mẫu ngẫu nhiên / thuận tiện (phỏng vấn nhanh đến điểm bão hòa thông tin) 52 - Người đi lễ tại 4 lễ hội lớn: 38
- Người tham gia thực hiện nghi lễ (Cung nữ, Hội bà, Quân sĩ): 10
- Người chuẩn bị thức cúng: 04
Nhân vật am hiểu và quản lý cơ sở Chọn mẫu có chủ đích (phỏng vấn sâu theo chủ đề chuẩn bị trước) 33 - Chủ lễ: 04
- Người trông coi cơ sở thờ tự: 09
- Ban hương lễ: 06
- Ban tổ chức lễ hội: 06
- Nhà nghiên cứu văn hóa tại Bạc Liêu: 04
- Người am hiểu tôn giáo, tín ngưỡng địa phương: 04
Tổng cộng mẫu điền dã 85

Nguồn tư liệu thứ cấp được thu thập từ sách, báo, tạp chí chuyên ngành (Văn hóa Dân gian, Nghiên cứu Tôn giáo), tài liệu lưu hành nội bộ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bạc Liêu, Ban Tôn giáo tỉnh Bạc Liêu và các công trình địa chí địa phương.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu

Chương này thiết lập cơ sở lý thuyết, điểm luận tài liệu và phác thảo bối cảnh lịch sử - địa lý - nhân văn của vùng đất Bạc Liêu:

  • Nguồn gốc địa danh Bạc Liêu: Khảo cứu hai luồng quan điểm: (1) Từ tiếng Khmer Pô Loeu (nghĩa là cây bồ đề/lâm vồ trên cao, gắn với truyền thuyết "Dải đất Phật" khô ráo, linh thiêng); (2) Từ tiếng Hoa Triều Châu Pò Léo (nghĩa gốc là xóm nghèo, chòi lá thưa thớt, sau được dịch thêm nghĩa xóm làm nghề hạ bạc/chài lưới). Cả hai cách lý giải đều phản ánh dấu ấn lịch sử định cư gian khổ buổi đầu của cộng đồng lưu dân.
  • Điều kiện tự nhiên và lịch sử khai phá: Bạc Liêu có diện tích tự nhiên 2.570 km²; bờ biển thấp phẳng, nước biển phù sa màu nâu đen, thềm bùn mở rộng hàng km khi triều rút. Hệ sinh thái rừng ngập mặn (đước, vẹt, mắm, bần) đóng vai trò lá chắn sóng. Lịch sử ghi nhận từ năm 1680, Mạc Cửu chiêu tập lưu dân lập ấp; cuối thế kỷ XIX, người Hoa Triều Châu di cư ồ ạt tạo nên sự chuyển biến kinh tế - xã hội sâu sắc.
  • Đặc điểm cộng cư ba tộc người:
    • Người Kinh: Giữ vai trò nòng cốt trong nghề biển đánh bắt xa bờ và canh tác lúa nước. Tại ấp 2 và ấp 3 thị trấn Gành Hào, người gốc miền Bắc và miền Trung định cư theo xóm, duy trì cơ cấu tự quản thành 4 nhóm với các trưởng nhóm phụ trách tương tế và lễ hội.
    • Người Khmer: Chiếm đa số tại vùng ven biển xã Vĩnh Trạch Đông (9.806/13.667 nhân khẩu). Gắn bó với canh tác hoa màu trên đất giồng cát, chùa Xiêm Cán là trung tâm sinh hoạt tâm linh Phật giáo Nam tông; ngư cụ đánh bắt truyền thống gần bờ gồm xịp, ân choong, som nạnh, môông.
    • Người Hoa (chủ yếu Triều Châu): Định cư dọc ven biển, đóng góp lớn vào nghề làm muối, chế biến thủy hải sản khô, lập miếu thờ Thiên Hậu và Ông Bổn.

Chương 2: Nhận diện tôn giáo, tín ngưỡng của cư dân vùng ven biển Bạc Liêu

Tác giả khảo sát diện mạo hệ thống đền miếu, cơ sở thờ tự dày đặc ven biển (thống kê toàn tỉnh có 94 ngôi chùa, 59 ngôi đình, 5 am thờ lớn cùng nhiều miếu xóm) và đi sâu vào ba hình thái tiêu biểu:

  • Tín ngưỡng Quán Âm Nam Hải: Trung tâm là Quán Âm Phật Đài tại phường Nhà Mát (TP. Bạc Liêu). Tượng Quán Thế Âm Bồ Tát ngự hướng ra biển cả. Khởi nguyên từ nhu cầu che chở cho ngư dân vượt qua sóng gió, vị Bồ Tát này dần được bản địa hóa thành "Mẹ Nam Hải" hay "Bà", tích hợp chức năng cứu độ toàn diện đời sống trần thế. Lễ vía chính diễn ra vào các ngày 22, 23, 24 tháng 3 âm lịch.
  • Tín ngưỡng Thiên Hậu Thánh Mẫu: Phổ biến trong cộng đồng người Hoa và lan tỏa sang người Kinh, người Khmer tại Gành Hào, Nhà Mát. Ngày vía 23 tháng 3 âm lịch trở thành trung tâm quy tụ sinh hoạt tín ngưỡng của toàn vùng ven biển.
  • Tục cúng Thần Biển và thờ Cá Ông: Khảo sát Lăng Ông Duyên Hải (Vĩnh Thịnh) và Lăng Ông Nam Hải (Gành Hào) cùng lễ hội Cúng Biển của người Khmer tại xã Hiệp Thành. Nghi lễ Nghinh Ông thể hiện lòng tri ân sâu sắc đối với "Nam Hải Đại Tướng Quân", phản ánh niềm tin vào sự cứu giúp thiêng liêng khi tàu thuyền gặp nạn trên biển.

Chương 3: Đặc điểm và chức năng của tôn giáo, tín ngưỡng vùng ven biển Bạc Liêu

  • Đặc điểm nổi bật:
    • Tính trọng Mẫu và Nữ thần: Sự áp đảo của các vị thần nữ (Mẹ Nam Hải, Thiên Hậu, Bà Chúa Xứ, Bà Thủy Long, Cửu Thiên Huyền Nữ, Ngũ Hành Nương Nương), phản ánh tâm thức tôn vinh tính nữ bao dung, che chở của cư dân nông nghiệp lúa nước và môi trường sông nước phương Nam.
    • Triết lý âm dương dung hợp: Sự kết hợp giữa yếu tố Đất – Nước, Mẹ – Cha trong cấu trúc thần điện và quan niệm phong thủy đền miếu.
    • Tôn vinh văn hóa truyền thống: Gắn kết chặt chẽ với lịch sử mở đất, truyền thống tương thân tương ái giữa các tộc người.
  • Các chức năng xã hội – văn hóa:
    • Bảo trợ thiêng liêng và cân bằng tâm lý: Giải tỏa nỗi ám ảnh về rủi ro, tai nạn biển khơi (như ký ức về bão số 5 năm 1997 khiến hàng trăm người thiệt mạng, tạo nên các "làng góa phụ").
    • Hòa hợp tộc người và kết nối cộng đồng: Tạo dựng không gian sinh hoạt chung, xóa nhòa ranh giới tộc người giữa Kinh, Khmer và Hoa.
    • Khẳng định và bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người: Giúp mỗi cộng đồng gìn giữ các nghi thức, biểu tượng cổ truyền thông qua lễ hội.
    • Điều chỉnh hành vi và bồi dưỡng đạo đức: Giáo huấn tinh thần "bác ái, vị tha", củng cố các chuẩn mực đạo đức xã hội.
  • Du lịch tôn giáo, tín ngưỡng đương đại: Sự bùng nổ của khách hành hương tạo động lực phát triển kinh tế dịch vụ địa phương, nhưng đồng thời đặt ra thách thức về quản lý trật tự, vệ sinh môi trường và bảo tồn tính thiêng.

Chương 4: Giao lưu và tiếp biến văn hóa qua tôn giáo, tín ngưỡng vùng ven biển Bạc Liêu

  • Biểu hiện tiếp biến văn hóa:
    • Truyện tích: Sự tích hợp các môtip huyền thoại về phép thuật, sự linh ứng cứu nạn trên biển của các vị thần từ nhiều nguồn gốc khác nhau.
    • Hình thức phối thờ: Hiện tượng đa thần trong cùng một cơ sở thờ tự (miếu của người Hoa thờ thêm Phật Bà Quán Âm, chùa Khmer có biểu tượng tôn kính chung, đình của người Việt phối thờ Thiên Hậu và Ngũ Hành).
    • Nghi lễ và lễ hội: Hiện tượng "hội tụ ngày vía" vào ngày 23 tháng 3 âm lịch cho hầu hết các vị Nữ thần tại địa phương; sự tham gia chéo của người Kinh vào lễ cúng biển Khmer, người Khmer tham gia lễ Nghinh Ông và vía Thiên Hậu.
  • Nhân tố tác động: Môi trường sinh thái biển ngập mặn; lịch sử cộng cư đan xen không có xung đột tộc người; sự phát triển của kinh tế thị trường và chính sách tự do tín ngưỡng.
  • Biến đổi và vấn đề đặt ra: Hiện tượng thương mại hóa lễ hội, sự xuất hiện của các dịch vụ buôn bán đồ cúng mang tính trục lợi, nguy cơ phai nhạt các nghi thức truyền thống và vấn đề quản lý các thực hành mang yếu tố ma thuật, lên đồng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Cung cấp một nghiên cứu trường hợp chuyên sâu về sức sống và chức năng của tôn giáo, tín ngưỡng tại một vùng biển cận duyên Nam Bộ trong đời sống Việt Nam đương đại.
  • Bổ sung luận cứ khoa học giải thích cơ chế giao lưu, tiếp biến văn hóa hòa hợp giữa ba dân tộc Kinh – Khmer – Hoa; chứng minh tính dung hợp, cởi mở và khoan dung văn hóa trong đời sống tâm linh của cư dân vùng đất mới.
  • Làm rõ sự chuyển hóa chức năng của biểu tượng tôn giáo: từ một vị Bồ Tát mang tính chất cứu trợ ngư dân cận duyên (Quán Âm Nam Hải) trở thành trung tâm thực hành tín ngưỡng đa chức năng cho mọi tầng lớp xã hội.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Là công trình chuyên khảo đầu tiên khảo sát hệ thống, cung cấp bức tranh toàn cảnh về di tích, lễ hội, thần điện và phong tục thờ cúng tại dải ven biển Bạc Liêu.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và nguồn dữ liệu điền dã xác thực cho các cơ quan quản lý nhà nước (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Tôn giáo tỉnh Bạc Liêu) trong việc hoạch định chính sách quản lý văn hóa tâm linh, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và định hướng phát triển du lịch sinh thái – tâm linh bền vững.

Kiến nghị và giải pháp của tác giả

  • Cần có sự phân định rõ ràng giữa việc phát triển du lịch tâm linh với bảo tồn không gian thiêng và tính trang nghiêm của các cơ sở thờ tự, hạn chế xu hướng thương mại hóa lễ hội.
  • Nâng cao năng lực quản lý của Ban quản trị các di tích, kết hợp hài hòa giữa hương ước cộng đồng với quy định pháp luật của Nhà nước.
  • Tiếp tục duy trì và tạo điều kiện cho các sinh hoạt văn hóa lễ hội truyền thống của cả ba dân tộc Kinh, Khmer, Hoa nhằm củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát chủ yếu tại dải ven biển 56 km thuộc tỉnh Bạc Liêu trong bán kính 10 km, chưa có điều kiện mở rộng khảo sát so sánh đối sánh toàn diện với tất cả các tiểu vùng ven biển khác của bán đảo Cà Mau và khu vực Tây Nam Bộ. Các thực hành mang tính kín đáo như lên đồng, nhập xác khi ra khơi Nghinh Ông hoặc lễ cúng khuya còn gặp rào cản tâm lý từ phía người dân khi tiếp cận điều tra dân tộc học.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh liên vùng về văn hóa biển giữa Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ; nghiên cứu sâu hơn về tác động lâu dài của biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đối với sự biến đổi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân ven biển.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Thuộc các ngành Văn hóa học, Nhân học văn hóa, Dân tộc học, Tôn giáo học, Lịch sử Việt Nam và Xã hội học văn hóa khi nghiên cứu về văn hóa biển đảo, tôn giáo Nam Bộ và lý thuyết tiếp biến văn hóa tộc người.
  • Nhà quản lý văn hóa và cán bộ hoạch định chính sách: Cung cấp tư liệu thực chứng phục vụ công tác quản lý tôn giáo, bảo tồn di sản lễ hội dân gian và quy hoạch không gian du lịch văn hóa tâm linh tại tỉnh Bạc Liêu và vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Khung phân tích chức năng của tôn giáo theo hướng tiếp cận Malinowski và Radcliffe-Brown ứng dụng vào môi trường biển; hệ thống dữ liệu phỏng vấn sâu điền dã tại Quán Âm Phật Đài, Lăng Ông Nam Hải và miếu Thiên Hậu.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn gốc tên gọi "Bạc Liêu" được luận án phân tích dựa trên những cứ liệu ngôn ngữ và tộc người nào?

Luận án trình bày hai giả thuyết chính: (1) Xuất phát từ tiếng Khmer Pô Loeu (nghĩa là cây bồ đề/lâm vồ trên gò cao), gắn với truyền thuyết "Dải đất Phật" khô ráo linh thiêng nơi xây dựng chùa Xiêm Cán; (2) Xuất phát từ tiếng Hoa Triều Châu Pò Léo (nghĩa đen là chòi/nhà nhỏ nghèo nàn), gắn với bối cảnh khai hoang lập ấp ban đầu của lưu dân làm nghề chài lưới (nghề hạ bạc). Dù theo nguồn gốc nào, tên gọi đều phản ánh lịch sử cộng cư đoàn kết của ba dân tộc Kinh – Khmer – Hoa.

2. Dữ liệu điền dã dân tộc học của luận án được thu thập với quy mô mẫu như thế nào?

Tác giả đã phỏng vấn trực tiếp tổng cộng 85 người tại thực địa ven biển Bạc Liêu, bao gồm:

  • 52 người phỏng vấn nhanh ngẫu nhiên: 38 người đi lễ tại 4 lễ hội lớn, 10 người tham gia thực hiện nghi thức lễ (Cung nữ, Hội bà, Quân sĩ), 04 người chuẩn bị thức cúng.
  • 33 người phỏng vấn sâu: 04 chủ lễ, 09 người trông coi cơ sở thờ tự, 06 thành viên ban hương lễ, 06 thành viên ban tổ chức lễ hội, 04 nhà nghiên cứu văn hóa địa phương và 04 người am hiểu tôn giáo, tín ngưỡng.

3. Ba hiện tượng tôn giáo, tín ngưỡng tiêu biểu nhất được khảo sát sâu trong luận án là gì?

Ba hiện tượng được khảo sát trọng điểm gồm:

  1. Tín ngưỡng Quán Âm Nam Hải tại Quán Âm Phật Đài (phường Nhà Mát, TP. Bạc Liêu).
  2. Tín ngưỡng Thiên Hậu Thánh Mẫu tại thị trấn Gành Hào (huyện Đông Hải).
  3. Tục cúng Thần Biển và thờ Cá Ông tại Lăng Ông Duyên Hải (Vĩnh Thịnh), Lăng Ông Nam Hải (Gành Hào) và lễ hội Cúng Biển của người Khmer tại xã Hiệp Thành.

4. Luận án lý giải chức năng tâm lý của tôn giáo, tín ngưỡng đối với ngư dân ven biển Bạc Liêu ra sao?

Vận dụng lý thuyết của Malinowski, luận án chỉ ra rằng nghề biển luôn đối mặt với hiểm nguy, bấp bênh và rủi ro sinh mạng khôn lường (như các cơn bão biển, sóng ngầm, trúng gió độc, tai nạn lật thuyền). Khi kỹ thuật và khả năng con người không thể kiểm soát được hoàn toàn tự nhiên, các thực hành ma thuật và tín ngưỡng (cầu cúng Mẹ Nam Hải, Nghinh Ông, xin keo) đóng vai trò là cơ chế tâm lý thiết yếu giúp ngư dân trấn an tinh thần, tìm kiếm điểm tựa thiêng liêng để can trường bám biển mưu sinh.

5. Hiện tượng chọn ngày 23 tháng 3 âm lịch làm ngày lễ vía chung của nhiều cơ sở thờ tự ven biển Bạc Liêu thể hiện điều gì?

Hiện tượng nhiều đền miếu tại Bạc Liêu cùng chọn ngày 23 tháng 3 âm lịch (vốn là ngày sinh của Thiên Hậu Thánh Mẫu của người Hoa) để tổ chức vía Mẫu, vía Bà Chúa Xứ, vía Quán Âm Nam Hải, Ngũ Hành Nương Nương là biểu hiện sinh động của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa. Điều này phản ánh sự dung hợp, chia sẻ không gian thiêng và tinh thần khoan dung văn hóa giữa ba cộng đồng Kinh, Hoa, Khmer trong tiến trình cộng cư lâu dài.


Kết luận

Luận án "Tôn giáo, tín ngưỡng của cư dân vùng ven biển Bạc Liêu" của Trương Thu Trang là công trình khoa học chuyên sâu, phục dựng diện mạo văn hóa tâm linh của cư dân vùng duyên hải Bạc Liêu thông qua nguồn tư liệu điền dã thực chứng phong phú. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa thuyết chức năng luận, lý thuyết vùng văn hóa và lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa, tác giả đã làm sáng tỏ vai trò của tôn giáo, tín ngưỡng trong việc bảo trợ tinh thần, duy trì trật tự xã hội và củng cố khối đoàn kết giữa ba tộc người Kinh – Khmer – Hoa. Công trình đóng góp thiết thực cho hệ thống lý luận văn hóa học biển đảo Nam Bộ và cung cấp cơ sở khoa học giá trị cho công tác quản lý văn hóa, phát triển du lịch tâm linh bền vững tại địa phương.