Luận án tiến sĩ về tôn giáo và tín ngưỡng của cư dân vùng ven biển Bạc Liêu

Đề tài khảo sát tôn giáo và tín ngưỡng của cư dân ven biển Bạc Liêu với dữ liệu thực nghiệm, giải pháp cụ thể cho bài toán thực tế chuyên ngành

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

174
8
2

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2. CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG CỦA CƯ DÂN VÙNG VEN BIỂN BẠC LIÊU

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ CHỨC NĂNG CỦA TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG VÙNG VEN BIỂN BẠC LIÊU

4. CHƯƠNG 4: GIAO LƯU VÀ TIẾP BIẾN VĂN HÓA QUA TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG VÙNG VEN BIỂN BẠC LIÊU

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về tôn giáotín ngưỡng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng tôn giáotín ngưỡng là những yếu tố không thể thiếu trong đời sống con người, phản ánh nếp sống và tâm tư của họ. Đặc biệt, trong bối cảnh cư dân ven biển Bạc Liêu, các hoạt động tín ngưỡng dân gian như cúng Thần Biển hay thờ Quán Âm Nam Hải đã trở thành những biểu hiện văn hóa đặc trưng. Những nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng tôn giáotín ngưỡng không chỉ là nhu cầu tinh thần mà còn là phương tiện để cư dân kết nối với nhau và với môi trường xung quanh. Việc tìm hiểu về tôn giáotín ngưỡng ở Bạc Liêu không chỉ giúp nhận diện các đặc điểm văn hóa mà còn góp phần lý giải sự giao lưu văn hóa giữa các tộc người như Kinh, Khmer và Hoa.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của tôn giáo tín ngưỡng

Khái niệm về tôn giáotín ngưỡng vẫn còn gây tranh luận trong giới nghiên cứu. Một số học giả cho rằng tín ngưỡng là niềm tin vào cái thiêng, trong khi tôn giáo bao hàm nhiều hơn, bao gồm cả các hệ thống niềm tin và thực hành. Sự phân định này rất quan trọng trong việc hiểu rõ các hình thức tín ngưỡng dân gian ở Bạc Liêu, nơi mà các hoạt động tôn giáo thường gắn liền với đời sống hàng ngày của cư dân. Các lễ hội như lễ hội Quán Âm Nam Hải không chỉ là dịp để cầu an mà còn là cơ hội để cộng đồng gắn kết và thể hiện bản sắc văn hóa của mình.

II. Nhận diện tôn giáo tín ngưỡng của cư dân vùng ven biển Bạc Liêu

Cư dân ven biển Bạc Liêu có một hệ thống tôn giáotín ngưỡng phong phú, phản ánh sự giao thoa văn hóa giữa các tộc người. Các tín ngưỡng dân gian như cúng Thần Biển và thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu không chỉ thể hiện niềm tin vào sự bảo trợ của các vị thần mà còn là cách để cư dân thể hiện lòng biết ơn đối với thiên nhiên. Những hoạt động này không chỉ mang tính tâm linh mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc, giúp củng cố mối quan hệ cộng đồng. Sự hiện diện của các tôn giáo như Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu cho thấy sự đa dạng trong đời sống tâm linh của cư dân nơi đây. Điều này cũng cho thấy sự hòa hợp giữa các tôn giáo và tín ngưỡng khác nhau, tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng và phong phú.

2.1. Một số tôn giáo tín ngưỡng tiêu biểu

Trong số các tôn giáotín ngưỡng tiêu biểu ở Bạc Liêu, Quán Âm Nam HảiThiên Hậu Thánh Mẫu nổi bật với vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của cư dân. Quán Âm Nam Hải được xem như một vị cứu tinh cho ngư dân, giúp họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Các lễ hội diễn ra quanh năm không chỉ thu hút người dân địa phương mà còn cả du khách từ nơi khác đến tham gia. Điều này không chỉ thể hiện sự tôn kính đối với các vị thần mà còn là cơ hội để cộng đồng thể hiện bản sắc văn hóa của mình.

III. Đặc điểm và chức năng của tôn giáo tín ngưỡng vùng ven biển Bạc Liêu

Các tôn giáotín ngưỡng ở Bạc Liêu có những đặc điểm riêng biệt, thể hiện sự kết hợp giữa các yếu tố văn hóa truyền thống và hiện đại. Sự tôn vinh nữ thầntín ngưỡng thờ Mẫu là một trong những đặc điểm nổi bật, phản ánh vai trò của phụ nữ trong xã hội. Các lễ hội như lễ hội Cúng Biển không chỉ mang tính tôn giáo mà còn là dịp để cộng đồng gắn kết, thể hiện sự đoàn kết và hỗ trợ lẫn nhau. Chức năng của tôn giáotín ngưỡng không chỉ dừng lại ở việc cầu an mà còn bao gồm việc điều chỉnh hành vi và bồi dưỡng tình cảm đạo đức trong cộng đồng.

3.1. Chức năng của tôn giáo tín ngưỡng

Chức năng của tôn giáotín ngưỡng ở Bạc Liêu rất đa dạng. Chúng không chỉ giúp cư dân tìm kiếm sự an lành trong cuộc sống mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa. Các hoạt động tín ngưỡng như lễ hội và nghi lễ không chỉ là dịp để cầu nguyện mà còn là cơ hội để các thế hệ trẻ hiểu và tiếp nối truyền thống văn hóa của cha ông. Điều này góp phần tạo nên sự bền vững trong đời sống văn hóa của cư dân ven biển Bạc Liêu.

IV. Giao lưu và tiếp biến văn hóa qua tôn giáo tín ngưỡng vùng ven biển Bạc Liêu

Sự giao lưu và tiếp biến văn hóa qua tôn giáotín ngưỡng ở Bạc Liêu là một hiện tượng đáng chú ý. Các tộc người khác nhau như Kinh, Khmer và Hoa đã có những ảnh hưởng lẫn nhau trong việc hình thành các tín ngưỡng và thực hành tôn giáo. Những câu chuyện về nguồn gốc của các tín ngưỡng và các hình thức phối thờ cho thấy sự hòa quyện giữa các nền văn hóa khác nhau. Các lễ hội và nghi lễ không chỉ là dịp để thể hiện niềm tin mà còn là cơ hội để các cộng đồng khác nhau giao lưu, học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm sống.

4.1. Những biểu hiện giao lưu và tiếp biến văn hóa

Các biểu hiện giao lưu và tiếp biến văn hóa qua tôn giáotín ngưỡng ở Bạc Liêu rất phong phú. Các hình thức phối thờ, nghi lễ và lễ hội không chỉ thể hiện sự tôn kính đối với các vị thần mà còn là minh chứng cho sự hòa hợp giữa các nền văn hóa. Những nhân tố như lịch sử, xã hội và môi trường tự nhiên đã tạo điều kiện cho sự giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ. Điều này không chỉ làm phong phú thêm đời sống tâm linh của cư dân mà còn góp phần tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng và sinh động.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỐNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Tôn giáo, tín ngưỡng, thuộc lĩnh vực văn hóa tâm linh, vốn có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với nhiều nhà nghiên cứu. Tôn giáo, tín ngưỡng là một bộ phận không thể thiếu trong đời sống con người, nó cũng quan trọng như các yếu tố vật chất cần thiết cho con người. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu xoay quanh lĩnh vực này, chẳng hạn như một số công trình nghiên cứu những vấn đề cơ bản, mang tính lý luận về tôn giáo, tín ngưỡng, như: Tôn giáo – Lý luận xưa và nay [Nhiều tác giả, 2005], Lý giải tôn giáo [Trác Tân Bình, 2007], Tôn giáo học nhập môn [Đỗ Minh Hợp chủ biên, 2009], Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam [Đặng Nghiêm Vạn, 2001], “Nhìn lại một thế kỉ nghiên cứu tín ngưỡng dân gian” [Ngô Đức Thịnh và Phạm Quỳnh Phương, 2007], Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam – Lý luận và thực tiễn [Đỗ Quang Hưng, 2008], Một số tôn giáo ở Việt Nam [Nguyễn Thanh Xuân, 2008], Tín ngưỡng tôn giáo và thực hiện chính sách tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam hiện nay [Nguyễn Minh Khải, 2013].

Những công trình này, từ nhiều góc độ khác nhau, đã lý giải rõ khái niệm, bản chất, đặc trưng, chức năng, vai trò. của tôn giáo, tín ngưỡng. Bên cạnh đó, nghiên cứu về văn hóa biển và tôn giáo, tín ngưỡng ven biển ở Việt Nam tuy chưa nhiều nhưng đến nay cũng đã có ít nhiều thành tựu. Nhiều công trình đã chú ý khảo sát thực địa, điền dã dân tộc học để nắm thực tiễn.Tìm hiểu về văn hóa biển Việt Nam đã có nhiều công trình quan tâm đến các khía cạnh khác nhau như lý giải nhận thức về văn hóa biển, đảo [Phan Ngọc 2006, Nguyễn Thị Hải Lê 2010, Nguyễn Văn Kim 2011]; Nghiên cứu lịch sử các vùng biển, đảo Việt Nam [Nguyễn Công Bằng 2007, Dư Văn Toản 2010, Lâm Thị Mỹ Dung 2011, Lại Văn Tới 2011]; Khảo sát đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc điểm, văn hóa ứng xử với biển của ngư dân và cư dân ven biển [Trần Hồng Liên 2004, Phan Thị Yến Tuyết 2010, Nguyễn Hữu Nghị 2010]; Tìm hiểu các phương tiện và phương thức di 7 luan an chuyển, khai thác nguồn lợi từ biển [Ngô Đức Thịnh - Nguyễn Việt 1984, Li Tana 2002, Nguyễn Viết Trung 2007].

Trong các công trình nêu trên, chúng tôi khảo sát thấy một số vấn đề nổi bật liên quan đến việc giải quyết vấn đề nghiên cứu của luận án. Thứ nhất, vấn đề khái niệm về tôn giáo, tín ngưỡng, đến nay vẫn còn gây tranh luận, hoặc nói khác đi là còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về các thuật ngữ này. Chẳng hạn, Léopold Cadière [1997] không dùng từ Tín ngưỡng, ông dùng từ Tôn giáo với nghĩa từ này đã bao hàm tín ngưỡng; Đặng Nghiêm Vạn [2001] dùng từ Tín ngưỡng với nghĩa đó là niềm tin tôn giáo, và ông cho rằng không nên phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng, cũng không nên có sự phân định thấp – cao giữa tín ngưỡng và tôn giáo; Ngô Đức Thịnh [2001] cũng đồng quan điểm với việc hiểu tín ngưỡng là niềm tin vào cái thiêng, tuy nhiên tác giả cho rằng có sự phân biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo, chẳng hạn như thờ Mẫu, thờ cúng Tổ tiên. là tín ngưỡng, còn Đạo Phật, Thiên Chúa Giáo.

là tôn giáo; Nhiều học giả khác ở Việt Nam cũng đồng quan điểm với tác giả Ngô Đức Thịnh, như Nguyễn Thanh Xuân (2008) khi biên soạn công trình Một số tôn giáo ở Việt Nam, đã kể đến các tôn giáo: Đạo Phật, Đạo Công Giáo, Đạo Tin lành, Đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Đạo Hồi. Trong những ý kiến tranh luận nêu trên, mỗi tác giả đều có cơ sở lý luận riêng. Tất cả những tranh luận đó đều là những tri thức bổ ích giúp chúng tôi nhìn nhận vấn đề từ nhiều chiều kích khác nhau, là cơ sở lý luận quan trọng để chúng tôi tham khảo trong việc hiểu và lý giải về đối tượng nghiên cứu. Thứ hai, vấn đề đặc trưng đời sống tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam.

Các tác giả đều nhận thấy rằng Việt Nam dung hợp nhiều hình thức tôn giáo, tín ngưỡng [Toan Ánh 1992, Léopold Cadière 1997, Đặng Nghiêm Vạn 2001, Ngô Đức Thịnh 2001. Nguyễn Thừa Hỷ (2012) đã đặc biệt nhấn mạnh đến tính cộng đồng đa nguyên trong tín ngưỡng tâm linh người Việt, còn Léopold Cadière (1997) đã nhìn nhận, phân tích một cách thấu đáo về tôn giáo, tín ngưỡng của người An Nam theo cách gọi xưa. Tác giả đã chỉ ra rằng những thực hành tôn giáo, tín ngưỡng của người dân nơi đây có sự dung hợp, tiếp nhận nhiều hình thức tôn giáo, tín ngưỡng 8 luan an trên thế giới, theo tinh thần khoan dung văn hóa, đấy cũng là nét đẹp trong tín ngưỡng Việt Nam. Như vậy, tại Bạc Liêu, sự giao thoa văn hóa giữa ba dân tộc vùng ven biển, Kinh – Khmer – Hoa được biểu hiện qua việc họ tiếp nhận những hình thức tôn giáo, tín ngưỡng của nhau cũng là một biểu hiện của tinh thần khoan dung văn hóa.Tuy nhiên nguyên nhân của việc giao thoa, tiếp xúc và tiếp biến các tôn giáo, tín ngưỡng giữa ba dân tộc nêu trên tại vùng ven biển Bạc Liêu cũng còn nhiều điều phải bàn thêm.

Chẳng hạn quá trình khai hoang mở đất và bắt đầu sự cộng cư cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến việc giao thoa văn hóa. Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi cũng sẽ lưu ý đến những điều này. Thứ ba, vấn đề mối quan hệ giữa tôn giáo với các tác nhân bên ngoài, trong đó có kinh tế thị trường, cũng là một vấn đề nổi lên hiện nay và được thể hiện trong nhiều nghiên cứu. Nếu như trước đây, Léopold Cadière [1997] đã nhận thấy rằng, tại Việt Nam, mọi hình thức tín ngưỡng được thực hành bằng những nghi lễ khác nhau thường nhằm mục đích trong sáng là tìm sự an định tinh thần trong một thế giới quá nhiều khổ ải.

Thì bây giờ, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam đang phải chịu tác động từ nhiều phía, mà kinh tế thị trường là nhân tố ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ. Sự tác động đó có tính hai mặt; Một mặt khiến cho nhiều người quan tâm nhiều hơn đến tôn giáo, tín ngưỡng, góp phần khôi phục, gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống; Mặt khác khiến cho nhiều người thực hiện việc cầu cúng, hoặc việc tổ chức các nghi lễ trong tôn giáo, tín ngưỡng, không còn nhằm mục đích trong sáng là tìm sự an định tinh thần, mà còn vì nhiều nguyên do khác, chẳng hạn là vì mục đích sinh lợi cho một tổ chức hoặc một cá nhân nào đó, mà việc thương mại hóa lễ hội là một trong những minh chứng [Ngô Đức Thịnh 2002, Lê Hồng Lý 2008, Nguyễn Xuân Hồng 2010, Lê Thanh Tùng 2012, Nguyễn Xuân Kính 2013]. Các tác giả trong khi bàn luận còn đặt ra một vấn đề là, làm thế nào để giữ vững vẻ đẹp tinh túy, truyền thống của những thực hành tôn giáo, tín ngưỡng. Trả lời cho câu hỏi đó, chúng tôi nghĩ, là trách nhiệm không của riêng ai.

Và từ những nghiên cứu này, chúng tôi cũng có thêm nhiều suy nghĩ về những biểu hiện thương mại hóa lễ hội tín ngưỡng hiện nay, phải chăng lễ hội tín 9 luan an ngưỡng ở Bạc Liêu với những biểu hiện đang có cũng là một hình thức thương mại hóa?, và nếu vậy thì điều đó có ảnh hưởng gì đến vẻ đẹp của một lễ hội tín ngưỡng truyền thống không?. Thứ tư, vấn đề thờ Mẫu và Nữ thần là một đối tượng nghiên cứu nổi bật trong suốt thời gian qua. Kể cả hiện nay đối tượng này vẫn chưa giảm sức hút đối với nhiều nhà nghiên cứu. Có thể kể đến một số tác giả có đóng góp cho lĩnh vực này như: Văn Đình Hy (1978), Nguyễn Văn Huyên (1996), Nguyễn Hữu Thông (2001), Trần Hồng Liên (2006), Vũ Ngọc Khánh (2012).

Trong đó, Ngô Đức Thịnh vốn là tác giả có nhiều đóng góp trong việc nhìn nhận, phân tích, lý giải những vấn đề xoay quanh tôn giáo, tín ngưỡng. Trong đó, Đạo Mẫu là một chủ đề nghiên cứu xuyên suốt trong nhiều năm của tác giả này. Đạo Mẫu Việt Nam [Ngô Đức Thịnh (Chủ biên) 2012] là công trình được tái bản lần thứ tư. Với tên sách mới này (lần 1 và 2 là Đạo Mẫu ở Việt Nam; lần 3 là Đạo Mẫu), tác giả nhằm khẳng định “Tuy thờ Mẫu là hiện tượng khá phổ biến trên thế giới, nhưng ở Việt Nam đã hình thành và định hình một tín ngưỡng thờ Mẫu (nữ thần) của mình, với những bản sắc riêng” [112 ;IO].

Lần này tác giả đã ứng dụng lý thuyết xã hội tổng thể của M.Mauss để nghiên cứu các chiều kích khác nhau, sự ảnh hưởng khác nhau của môi trường, xã hội và văn hóa đến Đạo Mẫu Việt Nam. Do đó sách là một nguồn tài liệu quý giá giúp tham chiếu những vấn đề về đạo Mẫu từ Bắc chí Nam, cung cấp những cứ liệu khoa học và thực tiễn cho việc lý giải tục thờ Mẫu, trong đó có các nữ thần ven biển. Tuy nhiên do vấn đề nghiên cứu của đề tài là rất rộng, điều kiện khảo sát thực tiễn tại ba vùng Bắc, Trung, Nam chưa đầy đủ, nên dù trải qua hơn 10 năm, sau nhiều lần tái bản thì một số hiện tượng thờ Mẫu tiêu biểu ở miền Nam vẫn chưa được đề cập, và thờ Mẫu – Mẹ Nam Hải ở Bạc Liêu là một trong những khoảng trống đó. Nhìn chung, các công trình đều khẳng định, tôn giáo, tín ngưỡng cần cho cuộc sống con người.

Dù khoa học kỹ thuật phát triển, xã hội hiện đại thì tôn giáo, tín ngưỡng, những yếu tố “ma thuật” cũng không vì thế mà mất đi, thậm chí còn có xu hướng phát triển. Tôn giáo, tín ngưỡng trong đời sống hiện đại vẫn phát huy vai trò của mình trong an định tinh thần cho con người. 10 luan an Như vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng, cả ở Việt Nam và trên thế giới. Những công trình này đã nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng từ nhiều góc độ khác nhau.

Đó sẽ là những tiền đề lý luận giúp soi chiếu vấn đề nghiên cứu của chúng tôi. Bên cạnh đó, nghiên cứu về văn hóa biển và tôn giáo, tín ngưỡng ven biển ở Việt Nam tuy chưa nhiều nhưng đến nay cũng đã có ít nhiều thành tựu. Nhiều công trình đã chú ý khảo sát thực địa, điền dã dân tộc học để nắm thực tiễn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về tôn giáo và tín ngưỡng của cư dân vùng ven biển Bạc Liêu" của tác giả Trương Thu Trang, dưới sự hướng dẫn của PGS. Phạm Quỳnh Phương và TS. Trần Văn Nam, được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội vào năm 2017. Bài luận án này tập trung vào việc nghiên cứu các tôn giáo và tín ngưỡng đặc trưng của cư dân ven biển Bạc Liêu, từ đó làm rõ vai trò của chúng trong đời sống văn hóa và xã hội của người dân nơi đây. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về sự giao thoa giữa văn hóa địa phương và các yếu tố tôn giáo, cũng như cách mà tín ngưỡng ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về tín ngưỡng và tôn giáo trong bối cảnh Việt Nam, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Nghiên Cứu Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Qua Các Đền Ở Hà Nội Hiện Nay, nơi nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu, một phần quan trọng trong văn hóa tôn giáo Việt Nam. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở Phủ Giày cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về một tín ngưỡng nổi bật khác trong văn hóa Việt. Cuối cùng, Luận văn đối với đời sống tín ngưỡng người Hmong sẽ giúp bạn hiểu thêm về sự đa dạng trong tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều góc nhìn mới về tôn giáo và tín ngưỡng trong xã hội hiện đại.