chương 1 dành cho việc dịch Kinh Phật ra Hán văn và giá trị văn học của các bản Kinh Phật được dịch. Trung Quốc có lịch sử phiên 17 dịch, tiếp nhận lâu dài với Kinh Phật, trong khi phiên dịch, giới dịch thuật đã chú ý tới giá trị văn chương của các bộ Kinh [163]1. Tác giả A Liên trong Phật giáo văn học quan cho rằng văn học Phật giáo có ba bộ phận cấu thành. Bộ phận thứ nhất là kinh điển Phật giáo gồm các bài giảng kinh của Phật tổ khi tại thế.
Sau này các lời giảng của Phật tổ được các đệ tử ghi chép và nhuận sắc trở thành các tác phẩm văn học đầu tiên của lịch sử Phật giáo – nền văn học của Phật kinh. Bộ phận thứ hai là các sáng tác của các tăng nhân, thường cùng các văn nhân học sĩ qua lại bàn luận những ý nghĩa uyên áo của Phật pháp và xướng họa. Các tăng nhân thường dùng hình thức thi kệ để biểu đạt sự cảm ngộ của bản thân trong việc tu Thiền. Nhiều sáng tác của tăng nhân qua hình thức văn học để diễn giải Phật lý Thiền ý, biểu đạt kiến giải về tu hành.
Bộ phận thứ ba là sáng tác của các văn nhân, những người có mối giao duyên gắn bó với Phật giáo như Tạ Linh Vận, Lý Bạch, Vương Duy, Tô Thức… Họ chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo, đưa những quan niệm tư tưởng Phật giáo vào sáng tác của mình, dùng thi văn để hoằng dương Phật pháp, biểu đạt sự lý giải của mình đối với Phật giáo và sự cảm ngộ tu hành. Trong lịch sử văn học Trung Quốc, số lượng tác phẩm thi văn liên quan Phật lý của các văn nhân là rất lớn [153, 2-3]. Đối với Thiền tông, tác giả A Liên chú ý phân tích về vị trí của nó trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc cũng như các đặc điểm của văn học Thiền tông: “Trong quá trình phát triển của Phật giáo tại Trung Quốc, Thiền tông là một tông phái Phật giáo nhận được sự yêu mến của văn nhân sĩ đại phu, và từng cực thịnh một thời. Là một tông phái có những khác biệt với các tôn phái khác trong phương thức tu trì, lối ngôn ngữ “cơ phong”2 機 鋒 語 là một nét đặc sắc nổi 1 ) Cuốn sách đã được Nguyễn Đức Sâm dịch ra tiếng Việt (chưa xuất bản) và chúng tôi dẫn theo bản dịch tiếng Việt đó.
2 Nguyễn Đăng Thục trong Thiền học Việt Nam đọc là “cơ bổng”, như những câu vấn đáp giữa một vị tăng với Thiền sư Viên Chiếu. 18 bật của Thiền tông”. Lối nói cơ phong về sau được ghi chép, chỉnh lý thành Thiền tông ngữ lục, có nhiều giá trị tư tưởng và giá trị văn học đặc sắc. Cùng với ngữ lục là các công án giàu triết lý nhân sinh của Phật.
Trong phạm vi nghiên cứu của văn học Phật giáo, tác giả còn nhắc đến các loại câu đối (doanh liên) tại các Phật tự như một bộ phận tổ thành của văn học Phật giáo, biểu đạt Thiền lý Phật ý, góp phần huân đào văn hóa Phật giáo cho khách vãn cảnh chùa. Đây là gợi ý cho một cái nhìn rộng mở về văn học Phật giáo có thể bao gồm cả câu đối tại chùa chiền. Do lịch sử phiên dịch Kinh Phật ở Trung Quốc rất phong phú, có nhiều bài học quý giá về các phương thức xử lý giá trị văn học của các bộ Kinh đó nên giới nghiên cứu Trung Quốc đưa nội dung và giá trị văn học của các bộ Kinh Phật vào đối tượng khảo sát một cách tự nhiên. Các công trình nghiên cứu của Tôn Xương Vũ hay A Liên đã phân tích xác đáng những nét đặc sắc nghệ thuật của nhiều bộ Kinh Phật.
Điều này khác với tình hình nghiên cứu văn học Phật giáo Việt Nam, mặc dù có nhắc đến việc Kinh Luật Luận cũng thuộc về phạm trù văn học Phật giáo nhưng không có nhà nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu tính chất văn chương của Kinh Phật, kể cả một số nhà tu hành. Sau khi tham khảo các quan niệm về khái niệm “văn học Phật giáo” đã nêu, cân nhắc mọi mặt, trong luận án này, chúng tôi giới hạn khái niệm văn học Phật giáo trong phạm vi: 1) những tác phẩm (thơ, văn xuôi, các thể loại chức năng như kệ, tụng…) được thực hiện bởi các nhà tu hành và những người có mối quan tâm sâu sắc với đạo Phật; 2) nội dung các tác phẩm đó phải thể hiện tư tưởng triết học, đạo đức, thẩm mỹ của văn học Phật giáo. Luận án không nghiên cứu văn học Phật giáo theo nghĩa rộng như quan niệm của một số nhà nghiên cứu đã nói trên mà chỉ nghiên cứu sáng tác văn học Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần. Văn học Phật giáo và văn học Phật giáo Thiền tông Nói đến văn học Phật giáo Lý - Trần, phần lớn các công trình nghiên cứu coi nền văn học Phật giáo này là văn học Phật giáo Thiền tông.
Trong Phật giáo Đại Việt, Thiền tông là tông phái chủ yếu. Đinh Gia Khánh viết: “Trong Phật giáo của nước Đại Việt thì Thiền tông là dòng đạo chính thức. Nhưng trong thực tế thì Thiền tông đã kết hợp với Mật tông, Tịnh Độ tông. Nhiều thiền sư tu luyện cả các phép Tổng trì tam ma địa, tụng niệm cả Đại bi tâm đà la ni kinh, tức là những phép tu luyện và tụng niệm của Mật tông” [48, 49-50].
Nhà nghiên cứu giải thích: “Việc Thiền tông để ngỏ cửa cho sự thâm nhập của Mật tông như vậy đã từng bị một số thiền sư phê phán. Nhưng muốn có uy thế trong nhân dân thời xưa vốn tin ở thần linh thì nhà chùa phải sử dụng đến các thuật mê tín của Mật tông, cần phải đem lại cho Phật tổ và môn đệ của Phật tổ ánh hào quang kỳ diệu. Chính cũng vì lý do này mà bên cạnh Mật tông, thì Tịnh Độ tông cũng có ảnh hưởng lớn. Tịnh Độ Tông đi vào quần chúng bằng con đường từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn” [48, 50].
Đinh Gia Khánh cũng thừa nhận trong văn học đời Lý thì không thấy dấu vết của Tịnh Độ tông [48, 51]. Còn yếu tố Mật Tông trong văn học Phật giáo được xác định như thế nào không đơn giản vì ảnh hưởng của Mật tông trong văn học Thiền tông đời Lý rất hiếm và “trong văn học Thiền tông thường ít thấy vết tích những tín ngưỡng dung tục hoặc những tình cảm thông thường của tín đồ đối với tông giáo. Thiền tông không gắn với mê tín và phương thuật như Mật tông, cũng không thiên về tín ngưỡng và tình cảm như Tịnh Độ tông. Thiền tông giữ được bản chất của triết lý Phật giáo ở quan niệm phiếm thần luận.
Và đó chính là cơ sở tư tưởng của văn học Thiền tông đời Lý” [48, 54]. Như vậy, danh xưng văn học Phật giáo Thiền tông khi bàn về văn học Phật giáo Lý - Trần có căn cứ khoa học, tuy nhiên trong thực tế để cho gọn, rất ít khi giới nghiên cứu dùng khái niệm văn học Phật giáo Thiền tông. 20 Nguyễn Phạm Hùng viết về “khuynh hướng văn học mang cảm hứng “Thiền” thời Lý”: “Nói tới văn học thời Lý - Trần trước hết phải nói tới khuynh hướng văn học mang cảm hứng “Thiền”. Đây là khuynh hướng văn học lớn nhất thời Lý, và tiếp tục có một vị trí quan trọng trong văn học thời Trần.
Nghệ thuật ngôn từ thời Lý cũng không thể không hòa chung vào dòng chảy lớn lao của đời sống Phật giáo Việt Nam. Văn học Phật giáo, mà ở đây chủ yếu là nói tới văn học mang cảm hứng Thiền, trở thành chủ lưu” [45, 77]. Trong bài viết này, Nguyễn Phạm Hùng tuy thận trọng nói văn học mang cảm hứng Thiền là chủ lưu của văn học Phật giáo, song thường dùng văn học Phật giáo và văn học Thiền như hai khái niệm đồng nghĩa. Nguyễn Công Lý đề xuất khái niệm: “Văn học Phật giáo Thiền tông”: “Khái niệm “văn học Phật giáo Thiền tông” dùng để chỉ một bộ phận văn học được viết dưới ánh sáng tư tưởng của Phật giáo Thiền đạo” [69, 127].
“Về đề tài và nội dung tác phẩm, những sáng tác này trực tiếp hay gián tiếp thể hiện giáo lý tư tưởng nhà Phật, mang cảm quan, cảm hứng về Phật về Thiền, hoặc viết về Phật, về Thiền, về chùa chiền sư sãi” [69, 128]. Tuy nhiên, trong lần tái bản thứ 3 Văn học Phật giáo thời Lý - Trần (năm 2017), ông lại viết “Khái niệm “văn học Phật giáo” có nội hàm và ngoại diên rộng hơn khái niệm văn học Thiền”; khái niệm “văn học Phật giáo” bao hàm “văn học Thiền”, và do thế “văn học Thiền” chỉ là một thành tố, một bộ phận đặc biệt quan trọng của “văn học Phật giáo” [70, 22]. Dù diễn đạt lần này mềm dẻo hơn, song Nguyễn Công Lý vẫn nhấn mạnh vai trò quan trọng của văn học Thiền đối với văn học Phật giáo Lý - Trần. Một bộ phận quan trọng của văn học Phật giáo nước ta cho đến hết đời Lý còn tồn tại nhờ có Thiền uyển tập anh ngữ lục, cuốn sách gồm nhiều tiểu truyện giàu nghệ thuật tự sự về các vị thiền sư cùng với các bài thi kệ giàu chất văn học.
Trong Thiền uyển tập anh, Từ Đạo Hạnh có biểu hiện ảnh hưởng của Mật tông nhưng về cơ bản được xem như thiền sư. Sang đời Trần, dù Nho giáo 21 ngày càng được củng cố và dòng văn chương nhà nho ngày càng mạnh lên, song khuynh hướng văn học Phật giáo Thiền tông đại diện cho văn học Phật giáo vẫn tiếp tục khẳng định vị thế, thậm chí xuất hiện một số tác giả tiêu biểu với nội dung sáng tác đậm chất Thiền còn lưu lại khá phong phú của Trần Tung, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Huyền Quang… Thể loại văn học Phật giáo thời Trần cũng đa dạng hơn với các tác phẩm ngữ lục, thực lục, văn bia, luận thuyết… Nghiên cứu sự vận động, chuyển biến của văn học Phật giáo từ đời Lý sang đời Trần là nội dung được hầu hết các công trình khảo cứu. Nói đến văn học Phật giáo Lý - Trần là nói đến văn học Phật giáo Thiền tông. Như vậy, có thể dùng tư tưởng Thiền tông làm chìa khóa chính yếu phân tích các tác phẩm văn học Phật giáo Lý - Trần.
Về khái niệm “thời Lý - Trần” Thời Lý - Trần là một khái niệm quy ước đã từng được giới nghiên cứu vận dụng. Mỗi cách định danh có ưu điểm và nhược điểm riêng. Có hai cách định danh giai đoạn văn học đối với văn học trung đại: định danh theo phân kỳ lịch sử và định danh theo các triều đại.