Mở đầu ( 5 trang), Kết luận (3 trang) và Tài liệu tham khảo ( 4 trang). Nội dung Luận văn gồm (89 trang) chia thành 4 chƣơng: Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU (18 trang) Chƣơng 2. QUẦN THỂ DI TÍCH THỜ THÁNH TAM GIANG (25 trang) Chƣơng 3.
PHỤNG THỜ THÁNH TAM GIANG QUA LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC (34 trang) Chƣơng 4. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA TỤC THỜ THÁNH TAM GIANG ( 12 trang) 9 z Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU.Quan niệm dân gian về tục thờ Thánh Tam Giang 1.1 Khái niệm tín ngưỡng sùng bái tự nhiên Tín ngƣỡng sùng bái tự nhiên là gì? Trƣớc hết ta phải đồng ý rằng đây là một loại hình tín ngƣỡng. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, tín ngưỡng là niềm tin tuyệt đối, không chứng minh (không dựa trên các tài liệu khoa học và thực tiễn), vào sự tồn tại thực tế của những bản chất siêu nhiên (thần thánh)2.
Mỗi tín đồ của một tôn giáo đều có niềm tin riêng của mình, nghĩa là tin vào một thế giới siêu linh mà mình tôn thờ. Tín ngưỡng không phải là một tôn giáo mà chỉ là một niềm tin tôn giáo [16, tr.29] Vậy tín ngƣỡng sùng bái tự nhiên có thể hiểu là một hình thái biểu thị đức tin, niềm tin của con người và của cộng đồng ở một trình độ phát triển xã hội và nhận thức nhất định vào các yếu tố khác nhau của tự nhiên. Viện sĩ Trần Ngọc Thêm cho rằng: Sùng bái tự nhiên là một giai đoạn tất yếu trong quá trình phát triển của con ngƣời. Với ngƣời Việt trồng lúa nƣớc thì sự gắn bó với tự nhiên là càng lâu dài và bền chặt.
Việc đồng thời phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của tự nhiên dẫn đến hậu quả trong lĩnh vực nhận thức là lối tƣ duy tổng hợp, và trong hình thức tín ngƣỡng là tín ngƣỡng đa thần [32, tr. Theo Tạ Chí Đại Trƣờng: dấu vết thiên nhiên còn nhiều nên những con vật ở nƣớc đã trở thành thần nƣớc. Rùa thần sẽ có một đại biểu chui vào chuyện xây thành Cổ Loa, những con rắn hoặc còn nguyên vẹn dạng rắn với một vài điểm dị hình hoặc biến thành cái tên truyền kỳ “con thuồng luồng” có tác động nhiều nhất vào mối tin tƣởng của ngƣời dân [22, tr 385].vn 10 z Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009 Ngƣời Việt có câu: Nhất điểu, nhì xà, tam ngư, tứ tượng. Nghĩa là Chim, rắn, cá sấu là những loài động vật phổ biến hơn cả ở vùng sông nƣớc, do vậy, thuộc loại đƣợc sùng bái hàng đầu.
Thiên hƣớng này còn đƣợc đẩy các con vật lên mức tạo thành hai biểu tƣợng Tiên- Rồng, trong đó, tiên đƣợc trừu tƣợng hóa từ giống Chim (cho nên mẹ Âu Cơ đẻ trứng), còn Rồng đƣợc trừu tƣợng hóa từ hai loài bò sát rắn và cá sấu có rất nhiều ở vùng sông nƣớc Đông Nam Á [31, tr71]. Nhƣ vậy, từ lâu, ngƣời Việt đã tin và sùng bái tín ngƣỡng tự nhiên, đặc biệt là tín ngƣỡng thờ rắn. Lịch sử hóa thần tự nhiên Theo tƣ duy nguyên thủy, con ngƣời luôn tự coi mình là trung tâm của vũ trụ. Con ngƣời tạo ra mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, con ngƣời với thế giới tự nhiên.
Một trong những đặc điểm của tín ngƣỡng đa thần là con ngƣời luôn biến những lực lƣợng trong thế giới tự nhiên thành con ngƣời. Việc “nhân hóa” tất cả những lực lƣợng tự nhiên nhƣ thế là nhằm tăng thêm sự gần gũi, thân thiết giữa thiên nhiên và con ngƣời. Ngoài ra, tƣ duy của ngƣời Việt Nam xƣa là luôn muốn thiêng hóa các vị thần. Bằng tấm lòng yêu nƣớc, lòng tự hào dân tộc, thái độ uống nƣớc nhớ nguồn, ngƣời dân các thế hệ đƣa nhiều nhân vật lịch sử, văn hóa của đất nƣớc vào hệ thống các nhân vật đƣợc phụng thờ [2, tr 452].
Thực chất, đây là một quá trình sáng tạo folklore. Khi ngƣời dân kê khai thần tích của vị thần làng mình, chính là lúc ngƣời dân bắt đầu quá trình sáng tạo này. Để có đƣợc quá trình sáng tạo ấy, ngƣời dân đã huy động toàn bộ vốn liếng văn hóa mà họ có… và lúc này, thần tích lại bắt đầu một đời sống của nó trong tâm thức dân gian. Bởi những bản thần tích ấy đều viết bằng chữ Hán, mà đại đa số cƣ dân Việt, thời quân chủ không phải ai cũng biết, cũng đọc đƣợc thứ chữ này.
Vả chăng, trong con mắt những ngƣời dân quê, bản thần tích ấy là vật báu nhà vua ban cho vị Thánh của làng, thành thử nó chứa không ít chất linh thiêng, kì bí 11 z Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009 nên đƣợc cất giữ cẩn thận. Ngƣời dân quê chỉ đƣợc nghe lại, kể lại từ các ông đồ nho, các nhân vật đƣợc xã trao cho quyền cất giữ các thần tích. Việc truyền miệng diễn ra, và đƣơng nhiên, quá trình sáng tạo folklore lại bắt đầu. Cứ nhƣ vậy, qua thời gian, diện mạo của vị thần của làng quê này đƣợc hoàn chỉnh, để trở thành vị thánh của cộng đồng trong tâm thức dân gian [2, tr 447-448].
Quan niệm dân gian về Tục thờ Thánh Tam Giang ở vùng Ngã Ba Xà Ở Việt Nam, tục thờ thánh Tam Giang ra đời trên nền tảng xã hội nông nghiệp cổ truyền. Thánh Tam Giang trở thành thành hoàng của hơn 300 làng vùng sông nƣớc. Ngô Đức Thịnh đã nhận xét rằng “Thành hoàng là một hiện tƣợng văn hóa dân gian tổng thể” và việc thờ cúng thành hoàng, hội làng trở thành biểu tƣợng của cố kết cộng đồng: từ cộng mệnh đến cộng cảm. Và từ góc độ tín ngƣỡng tôn giáo, Giáo sƣ coi thờ thành hoàng như một tín ngưỡng làng xã nói riêng và là một biểu hiện đặc trƣng của văn hóa nông nghiệp Việt Nam nói chung (27, tr.
Phan Đại Doãn cũng cho rằng: tín ngưỡng cao nhất trong một làng là thờ thành hoàng trong đình làng. Theo pháp lệnh tín ngƣỡng, tôn giáo của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội: Hoạt động tín ngƣỡng là “hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tƣởng niệm và tôn vinh những ngƣời có công với nƣớc, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh; biểu tƣợng có tình truyền thống và các hoạt động tín ngƣỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội” [33, tr. Ở Việt Nam, ngay từ đầu, tƣ tƣởng thờ Thánh Tam Giang- vị thần của sông nƣớc- đã thể hiện sự tôn thờ trời đất, giới siêu nhiên và thần thánh. Hiện tƣợng thờ Thánh Tam Giang có đầy đủ các yếu tố nhƣ đối tƣợng thờ, cơ sở và 12 z Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009 điện thờ, nghi thức thờ cúng và các trò chơi, trò diễn mang tính nghi lễ.
Vì thế, tục thờ thánh Tam Giang chính là một loại hình tín ngưỡng của cƣ dân nông nghiệp nói chung và cƣ dân vùng Ngã Ba Xà nói riêng.Tổng quan về tình hình nghiên cứu. Nghiên cứu về tín ngƣỡng Việt Nam, từ lâu đã thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ Dân tộc học, Sử học, Xã hội học. Các tác phẩm của các nhà khoa học này với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã tạo nên một kho tƣ liệu khá phong phú. Về đại thể, có thể chia các công trình nghiên cứu này thành hai nhóm.
Nhóm thứ nhất là nghiên cứu về tín ngƣỡng dân dã và nhóm thứ hai là các công trình nghiên cứu về sự biến đổi của văn hóa nói chung và tín ngƣỡng nói riêng. Các công trình nghiên cứu về tín ngƣỡng dân gian nói chung và tục thờ TTG nói riêng có từ rất sớm và có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị nhƣ các công trình: Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên soạn năm 1479; Tiếp đó là các cuốn: Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh- Kiều Phú, đƣợc soạn năm 1492; Việt Nam văn hóa sử cương (1938) của Đào Duy Anh. Dƣới cách tiếp cận sử học và văn hoá dân gian, các nhà nghiên cứu đi trƣớc đã cung cấp những tƣ liệu quý giá về truyền thuyết, thần tích cũng nhƣ một số tập tục, sinh hoạt văn hoá- tín ngƣỡng dân gian của dân tộc. Tình hình nghiên cứu tín ngƣỡng dân gian ở Việt Nam vẫn tiếp tục đƣợc duy trì một cách khá đều đặn trong những năm tiếp theo.
Nhƣng phải đến sau 1986 việc nghiên cứu này mới thực sự khởi sắc và có bƣớc phát triển rõ rệt khi mà những bí ẩn của cõi tâm linh đƣợc chú ý nhiều. Từ những biểu hiện cụ thể của nghi lễ, của phong tục, của lễ hội diễn ra thƣờng xuyên trong giai đoạn này, các nhà khoa học đã cố công tìm hiểu, nghiên cứu và giải mã niềm tin sâu xa mà con ngƣời gửi gắm trong tín ngƣỡng để cho ra đời hàng loạt những công trình, 13 z Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009 những bài viết giá trị về tín ngƣỡng dân gian nhƣ: Tín ngưỡng làng xã (Vũ Ngọc Khánh, 1993), Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam (Nguyễn Duy Hinh, 1996), Từ điển lễ tục Việt Nam (Bùi Xuân Mỹ, Bùi Thiết và Phạm Minh Thảo, 1996), Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay (Đặng Nghiêm Vạn chủ biên, 1996), Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam của Nguyễn Minh San (1998); Từ cái nhìn văn hoá của Đỗ Lai Thuý; Văn hoá Việt Nam- tìm tòi và suy ngẫm của cố Gs. Trần Quốc Vƣợng; Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam (Nhiều tác giả; 2000); Tín ngưỡng thờ Thành hoàng của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ (Vũ Ngọc Khánh chủ biên, 2000), Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam (Nguyễn Đăng Duy, 2001); Từ điển Việt Nam văn hoá tín ngưỡng phong tục (Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo, 2005) và đặc biệt là cuốn Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam của GS. Ngô Đức Thịnh (2001).
Tác giả đã đƣa ra một nghiên cứu toàn diện và sâu sắc về tín ngƣỡng thành hoàng. Tác giả đã tiếp cận vấn đề từ góc độ tín ngƣỡng tôn giáo, coi thờ thành hoàng nhƣ một tín ngƣỡng làng xã nói riêng và là một biểu hiện đặc trƣng của văn hóa nông nghiệp Việt Nam. Thịnh đã nhận xét rằng thành hoàng là một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể và việc thờ cúng thành hoàng, hội làng trở thành biểu tƣợng của cố kết cộng đồng: từ cộng mệnh đến cộng cảm [26, tr.