CHƯƠNG i: KHÔNG GIAN VĂN HÓA BIEN MIEN TRUNG VÀ l TỤC THO NU THAN BIEN 1. Điều kiện địa lý tự nhiên khu vực mién Trung Miền Trung có diện tích tự nhiên là 90.790 km2 chiếm 28% diện tích tự nhiên cả nước, phía Bắc giáp khu vực đồng bằng sông Hồng và Trung du miền núi Bắc Bộ, phía Nam giáp các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu, phía Đông giáp Biển Đông và phía Tây giáp Tây Nguyên. Khu vực miền Trung ngày nay được chia thành 2 tiểu vùng: Bắc Trung Bộ gồm 6 tỉnh thành (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế) và Nam Trung Bộ gồm8 tỉnh, thành phd (Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận). Khác với đồng bằng Bắc Bộ, địa hình chủ yếu của khu vực miền Trung gồm 3 yếu tố: núi, đồng bằng và ven biển.
Dải đất miền Trung có độ cao thấp đần, được bao bọc bởi những dãy núi chạy dọc bờ phía Tây và sườn bờ biển phía Đông, vùng có chiều ngang theo hướng Đông -Tây hẹp nhất Việt Nam (khoảng 50km) và nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Vệ khí hậu, khu vực ven biên miễn Trung có thé chia ra thành hai tiêu vùng duyên hải Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ: Kh vực u ven biển Bắc Trung Bộ: (bao gồm toàn bộ khu vực ven biển phía Bắc đèo Hải Vân) về mùa đông, do gió mùa thối theo hướng Đông Bắc mang theo hơi nước từ biển vào nên khu vực chịu thời tiết lạnh kèm theo mưa, đây là điểm khác biệt với thời tiết khô hanh vào mùa đông vùng Bắc Bộ. Đến mùa hè, không còn hơi nước từ biển vào nhưng có thêm gió mùa Tây Nam (gió Lào) thổi ngược lên gây nên thời tiết khô nóng, vào những thời điểm này nhiệt độ ngày có khi lên tới trên 40 độ C trong khi đó độ âm không khí lại rất thấp. Vùng ven biển Nam Trung Bộ: (bao gồm khu vực ven biển thuộc phía Nam đèo Hải Vân) gió mùa Đông Bắc khi thổi đến đây thường suy yếu đi do bị chặn lại bởi day 13 Bạch Mã.
Vì vậy, khi về mùa hè có gió mùa Tây Nam thổi mạnh từ vịnh Thái Lan tràn qua dãy Trường Sơn gây nên thời tiết khô nóng cho toàn khu vực. Về hệ thống sông ngòi, các sông ở khu vực Trung Bộ chủ yếu chảy từ phía Tây. và đỗ ra biển Đông. Có thể kể đến một số con sông tiêu biểu như: sông Yên (Thanh Hóa), sông Lam (Nghệ An), sông Thạch Han (Quảng Tri), sông Nhật Lệ (Quảng Bình), sông Hương (Huế), sông Vệ (Quảng Ngãi), sông Đà Rằng (Phú Yên), sông Cái (Nha Trang).
| | Trên các mô dat tại các cửa sông, cửa biên là nơi hội tụ đông đúc dân cư, hình thành các làng chai ven biên mà ngày nay là các đô thị phát triên. Ở miên Trung, có thé kê đên các cửa biên lớn, tập trung nhiêu dân cư như: Sâm Sơn, Cửa Lò, Đông Hới, Cảnh Dương, Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang. Vệ tài nguyên biên: Đây là vùng rat đôi dào các tài nguyên từ biển do địa hình có các núi đá đâm ngang ra biên, đông bang nhỏ hẹp tạo nên nhiều cửa sông, cửa vịnh và cũng là nơi có nhiêu dòng hải lưu nóng lạnh đi qua. Hang năm biên cung cap cho người dân nơi đây hàng trăm nghìn tân hai san: tôm sắt, tôm chì, tôm sú, mực ông, hải sâm, bào ngư.
và đặc biệt là nguôn lợi vô tận từ cá. Với nguôn hải sản phong phú nên ở khu vực ven biên miên Trung có khá nhiêu địa điểm nỗi tiếng với nghề làm mắm như: Thanh Hóa, Nha Trang, Phú Quốc. Ngoai ra, biển miền Trung còn có nhiều vũng, vịnh, đầm phá, phân bố chủ yếu ở các tỉnh Quảng Nam, Bình Định, Nha Trang. trong đó, khoảng 40% diện tích mặt nước rất thuận lợi cho việc nuôi trồng trên biển.
Ở khu vực Quảng Nam và Đà Nẵng, do đặc thù của đáy biển (rạn đá và san hô) cùng nguồn nước sạch, ít bị phù sa đỗ xuống trở thành nơi lý tưởng cho việc nuôi cá lồng trên biển. Do sự ưu đãi về thiên nhiên, ngoài việc khai thác các tài nguyên có sẵn từ biển như hải sản, thủy sản ngập mặn, dâu mỏ, muôi. bờ biên miên Trung còn là nơi rât thuận tiện để xây dựng các cảng lớn, khu du lịch biển. Bên cạnh đó, biển miền Trung 14 ry còn có nhiêu đảo và quan đảo mang ý nghĩa chiên lược về an ninh quốc phòng va là ị nơi cư ngụ của tàu thuyén, là bình phong chắn gió, cát biển cho ven bờ.
Như vậy có thé thấy khu vực miền Trung nước ta có một hệ sinh thái rất đa dang, phong phú. Chính điều nay đã chỉ phối mạnh mẽ đến đời sống sản xuất, chi phối thế ứng xử của con người với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và các sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Đặc biệt là các biểu hiện của văn hóa biển trong đời sống tín ngưỡng của các cư dân sinh sông ở khu vực này. Cơ tang văn hóa biển miền Trung | Bat đầu từ xứ Nghệ, dai đất Việt miền Trung mới “ưỡn” (chữ dùng của GS.
Trần Quốc Vượng) ra phía biển. Suốt từ thời tiền sử, các cư dân đã kế tiếp sinh sống ở vùng đất thuộc miễn Trung Việt Nam ngày nay. Qua hàng ngàn năm sinh sống Ấy, các lớp cư dân đã để lại một kho tàng văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú và đa dạng. Có | thé nói yếu tố biển ở Trung Bộ xuất hiện sớm từ thời kỳ các nền văn hóa Hoa Lộc | | (Thanh Hóa), Quynh Văn (Nghệ An), Bau Tró (Quang Binh), Bau Dũ (Quang Nam), Sa Huynh (Quang Ngãi), Vĩnh Yên, Xóm Cén, Hòa Diém (Khánh Hòa).
cách ngày nay từ 6. Các cư dân này đều có quan hệ mật thiết với biển và thực sự có những hoạt động khai thác các nguồn tài nguyên biển để sinh tồn. Trong các di vật mà các nhà khảo cô học tìm thay có xương cá biến, sò, ốc biển và đặc biệt là các chì lưới có thê là ngư cụ dé đánh bat các loài cá biên. Dong thời họ cũng có những mối quan hệ giao lưu mạnh mẽ với các nước ở khu vực Đông Nam A và châu lục thông qua những con đường thương mại trên biển [20: 155].
Trong không gian văn hóa biển miền Trung, có thể chia các cơ tầng ấy thành ba thời kỳ thuộc trung kì đá mới, hậu kỳ đá mới và sơ kỳ đỗ sắt. Trong các di tích văn hóa khảo cổ trung kì đá mới (7.000 năm BP) thuộc miền Trung Việt Nam có thể kể đến các di tích khảo cổ như: Da Bút (Thanh Hóa), Quỳnh Văn (Nghệ Tĩnh), Bau Dũ (Quảng Nam). Trong các di chỉ văn hóa này, các nhà khảo cổ đã phát hiện một khối lượng lớn các di vật của cả môi trường rừng núi (các hiện vật bằng đá, xương thú, răng thú) và cả môi trường biển (vỏ nhuyễn thể, xương cá). 15 Văn hóa khảo cổ Da Bút ở lưu vực sông Mã được coi là sự phát triển nối tiếp của văn hóa Hòa Bình — Bắc Sơn trong quá trình chỉnh phục đồng bằng ven biển Thanh Hóa thời đá mới cách ngày nay khoảng trên dưới 6000 năm.
Đây cũng là thời kỳ cách mạng đá mới phát sinh nông nghiệp, khai phá đồng bằng, làm quen với biển cả, phát triên gôm cô. Trong khi đó, chủ nhân văn hóa Quỳnh Văn lại là những người hầu như sống bằng kinh tế khai thác nhuyễn thể và các nguồn hải sản biển. Hơn 20 di chỉ cồn sò điệp ven biển Quỳnh Lưu (Nghệ An), Thanh Hà (Nghệ Tĩnh) không chỉ phản ánh định hướng khai thác biển một cách toàn diện, tập trung mà còn chứng tỏ văn hóa Quỳnh Văn là văn hóa có quy mô lớn nhất, độc đáo nhất trong bình tuyến trung tâm văn hóa mới ven biển Việt Nam sau thời Hòa Bình — Bắc Son [53: 127] thậm chí nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng Quỳnh Văn là một mẫu hình văn hóa biển [62: 81]. Với các di tích khảo cổ hậu kỳ đá mới (5.000 năm BP), ở miền Trung nổi lên với các di tích khảo cổ Hoa Lộc (Thanh Hóa) và Bàu Tré (Hà Tĩnh — Quảng Bình).
Tại các di tích này người ta tìm thấy nhiều rìu đá, cuốc đá, mũi lao, chì lưới, ban mài, đồ gốm. Chủ nhân văn hóa khảo cổ hậu kỳ đá mới phân bố ở vùng ven biển nước ta không chỉ dừng lại ở mức khai thác biển và lắn biển mà còn tiến tới chỉnh phục biển. Có lẽ họ đã tạo được thuyền, mảng để ra xa bờ đánh bắt cá [49: 72]. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có thể cư dân các văn hóa ven biển thời kỳ này thuộc về tổ tiên của cư dân nói ngôn ngữ Nam Đảo [63: 166].
Đến thời đại sơ kỳ đồ sắt, cư dân văn hóa Sa Huỳnh nằm dọc duyên hải miền Trung và Nam Trung Bộ từ Thừa Thiên Huế đến Bình Thuận đã từng bước làm chủ các đồng bằng ven biển. Nói đến văn hóa Sa Huỳnh là đề cập đến nền văn hóa vật chất của dân cư Sa Huỳnh luôn gắn liền với biển, mặc dù vẫn có những điểm di tích Sa Huỳnh nằm ở vùng núi nhưng khá ít, trong khi đó dọc theo các cồn cát ven biển và đảo gần bờ có sự bùng nỗ về số lượng các di tích văn hóa Sa Huỳnh. Vì thế trên dải đất miền Trung, tinh hướng biển vẫn là điểm quan trọng cơ bản xuyên suốt trong nền văn hóa của cư dân Sa Huỳnh [35: 227]. 16 Các loại hiện vật của di tích văn hóa này rất phong phú gồm đồ đồng, đồ sắt, đồ gốm đặc biệt là các chum mộ và bãi mộ chum nằm trên bãi cát ven biển.
Trong các mộ chum Sa Huỳnh có các hiện vật trang sức bằng đá mã não và các loại đá quý khác đều có nguồn gốc từ vùng Trung Á. Các loại gương đồng Hán tìm thấy ở vùng trung du Nghĩa Hành (Quảng Ngãi), Bình Yên (Quảng Nam). cùng với tiền đồng Ngũ Thù Hán tìm thấy ở Xóm Oc (Quảng Ngãi) và các di tích Sa Huỳnh ở Hội An đều có nguồn gốc giao lưu, trao đổi với Trung Hoa [85: 229-230]. Ngoài ra, các nhà khảo cổ học còn tim thấy đồ gốm, khuyên tai mau, bùa hai đầu thú.
kiểu Sa Huỳnh ở đảo Phú Quý (Bình Thuận), xa hơn còn thấy ở Thái Lan, Philippine và quần đảo Fitri [62: 82]. Bên cạnh đó, nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng chủ nhân của văn hóa Sa Huỳnh là cư đân nói ngôn ngữ Nam Đảo, sinh sống ở ven biển miền Trung nước ta.