Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm công cụ * Giá trị Theo Ngô Đức Thịnh Giá trị (value) là một khái niệm của nhiều bộ môn khoa học khác nhau như toán học, xã hội học, nghệ thuật, triết học, văn hoá học. Do vậy, trong mỗi bộ môn khoa học khái niệm này mang những hàm nghĩa khác nhau. Chúng tôi tiếp cận khái niệm giá trị từ góc độ văn hoá học, một bộ môn nghiên cứu liên ngành, nên giá trị được hiểu theo ý nghĩa sau: Giá trị cũng như chuẩn mực, tập quán, tri thức.
đều là sản phẩm của quá trình tư duy, sản xuất tinh thần của con người, nó là yếu tố cốt lõi nhất của văn hoá. Giá trị văn hoá là một hình thái của ý thức, của đời sống tinh thần, tuy nhiên nó phản ánh và kết tinh những giá trị của đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người [53,tr.21] Tuy nhiên, tuỳ theo mỗi bộ môn khoa học, mỗi góc độ tiếp cận, thậm chí tuỳ vào mục đích nghiên cứu riêng, người ta có thể nhấn mạnh hay chỉ quan tâm đến giá trị tinh thần hay giá trị vật chất của các hiện tượng văn hoá. Khi nghiên cứu vai trò của chùa Vĩnh Tràng trong đời sống văn hóa của người dân, chúng tôi đặt khái niệm giá trị trên cả hai yếu tố giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Giá trị vật chất gắn với kiến trúc, hệ thống trang trí, tượng thờ của Chùa và giá trị tinh thần của người dân địa phương.
Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Tác giả Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [51, tr. 15 Văn hóa là sản phẩm của quá trình tồn tại của con người. Văn hoá không phải là một giá trị đơn lẻ mà là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần. Hay còn gọi là văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể.
Theo Luật Di sản văn hóa ngày 29 tháng 6 năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa ngày 18 tháng 6 năm 2009 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể được hiểu như sau: + Văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. + Văn hóa phi vật thể: là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. Tuy nhiên sự phân chia này chỉ mang tính tương đối, vì giữa văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể có mối quan hệ khắng khít, gắn bó với nhau. Không thể tách rời yếu tố vật thể ra khỏi phi vật thể.
Và ngược lại văn hoá phi vật thể cũng sẽ không thể tồn tại độc lập với văn hoá vật thể. Có thể nói nếu xem phi vât thể là yếu tố nội dung thì vật thể là cái áo hình thức của nội dung đó. Văn hóa phi vật thể sẽ được thể hiện qua vật thể và trong văn hóa vật thể sẽ chứa đựng yếu tố văn hoá phi vât thể. Cơ sở lý luận về đời sống văn hóa Theo Từ điển Tiếng Việt, đời sống là “Toàn bộ nói chung những hoạt động trong một lĩnh vực nào đó của con người, của xã hội.
Đời sống riêng, đời sống tinh thần, đời sống văn hoá” [43, tr. Với cách hiểu này thì văn hoá chỉ là một lĩnh vực trong đời sống của con người theo cách phân chia: văn hoá, xã hội, kinh tế…. Văn hoá luôn hiển hiện 16 trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: Văn hoá ăn, văn hoá mặc, văn hoá giao tiếp, văn hoá ứng xử, văn hoá giao thông, văn hoá nhà ở, văn hoá công sở. Theo tác phẩm Đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam của Bộ Văn hoá được xuất bản năm 1987 đã đưa ra khái niệm “đời sống văn hoá chính là những hành vi sống biểu hiện một trình độ văn hoá, bao gồm các hoạt động của xã hội, của tập thể, của từng cá nhân, nhằm mục đích văn hoá tức là hoàn thiện con người” [12,tr 218, 219].
Theo tác phẩm Đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam của Bộ Văn hoá – Thông tin được xuất bản năm 1995 Đảng nhận định đời sống văn hoá là một bộ phận của đời sống xã hội, mà đời sống xã hội bao gồm những hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của con người. Đáp ứng nhu cầu vật chất giúp con người tồn tại, thoả mãn nhu cầu tinh thần thì giúp hình thành nhân cách con người. Xã hội phát triển lên cao thì nhu cầu vật chất và tinh thần cũng phát triển tương ứng hình thành nhu cầu văn hoá. Nhóm tác giả Trần Văn Ánh, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Văn Hy đã phân tích khái niệm đời sống văn hoá [4,tr 21-24]: Đời sống văn hoá là bộ phận cấu thành thích hợp và có thể coi là “mặt cắt ngang’ trong đời sống chung của con người và xã hội.
Nó gồm một tổng hợp những thành tố văn hoá tác động qua lại với đời sống của những cá nhân và cộng đồng, khả dĩ để đáp ứng nhu cầu, tinh thần của con người và thúc đẩy sự tiến triển của đời sống xã hội. Đời sống văn hoá cũng có khi được hiểu như “mội trường văn hoá” là khâu nối liền giữa văn hoá của xã hội và văn hoá của cá nhân. Nó là một tổng thể những yếu tố văn hoá vật thể, phi vật thể và nhân cách văn hoá bao quanh con người, gây ra sự tác động lẫn nhau giữa các cá nhân trên phạm vi không gian nào đó, trực tiếp hình thành nếp sống và lối sống của con người ở đó. Thể thống nhất này của đời sống văn hoá thường gồm 4 loại yếu tố: 17 - Những yếu tố văn hoá vật thể và phi vật thể hiện diện ở mỗi cộng đồng: các thiết chế văn hoá, các tác phẩm và sản phẩm văn hoá, các phương tiện thông tin đại chúng và truyền bá văn hoá, lễ hội, văn hoá, văn nghệ dân gian, các trường học, các nhóm văn hoá….
- Những yếu tố cảnh quan văn hoá (tự nhiên và xây dựng) hiện diện ở mỗi cộng đồng: di tích lịch sử - văn hoá, phong cảnh, công viên, quy hoạch và kiến trúc, tượng, đài… - Những yếu tố văn hoá cá nhân ở mỗi cộng đồng – những con người biểu hiện văn hoá: trình độ học vấn, mức phát triển nhu cầu, sở thích và thị hiếu văn hoá, định hướng giá trị, các sinh hoạt và xử lý thời gian lao động và thời gian tự do, văn hoá ứng xử, nếp sống văn hoá, lễ nghi, lễ phép…. - Những yếu tố văn hoá của các vi môi trường trong những cộng đồng (gia đình, tập thể nhỏ về lao động, học tập, quân ngũ…) Như vậy khái niệm đời sống văn hoá mà chúng ta hiểu ở đây, căn cứ vào khái niệm văn hoá là nền tảng tinh thần của đời sống con người (trong sự khu biệt với kinh tế là nền tảng vật chất của đời sống con người), là một trong những phương tiện và phương thức thoả mãn các nhu cầu chính yếu của đời sống xã hội, đó là nhu cầu tồn tại nhân tính (sống và bảo vệ cuộc sống theo hướng chuẩn mực hoá). Văn hoá còn được coi là hình thức sống. Khái niệm đời sống văn hoá là khái niệm chỉ quá trình hoạt động văn hoá thoả mãn các nhu cầu văn hoá, bao gồm hoạt động văn hoá tự thân và sáng tạo sản phẩm văn hoá nhắm thoả mãn các nhu cầu về thoả mãn thẩm mỹ và giải trí, về xây dựng môi trường văn hoá và về phát triển và hoàn thiện nhân cách con người.
Đời sống văn hoá là hệ quả của mối quan hệ biện chứng giữa môi trường văn hoá và chủ thể văn hoá (cộng đồng và cá nhân). Đời sống văn hoá không chỉ thể hiện mức sống và chất lượng sống mà còn thể hiện tập trung ở lối sống và nếp sống thông qua: 18 - Hoạt động văn hoá tự thân: (ứng xử trong quan hệ cộng đồng, hoạt động tín ngưỡng, tâm linh, tham gia lễ thức, lệ tục và lễ hội), - Hoạt động văn hoá sáng tạo (sáng tác văn học nghệ thuật, dân gian và bác học) nhằm tạo ra các loại sản phẩm văn hoá (vật thể và phi vật thể) đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá. - Hoạt động xây dựng môi trường văn hoá (cộng đồng và gia đình) và hoàn thiện nhân cách (cá nhân) Với phân tích trên đã nêu rõ hơn về đời sống văn hoá. Vì vậy, chúng ta nhận thấy rằng vai trò của Chùa Vĩnh Tràng trong đời sống văn hoá của người dân thành phố Mỹ Tho, có nghĩa là chùa Vĩnh Tràng có vai trò gì trong hoạt động văn hoá tự thân, hoạt động văn hoá sáng tạo và hoạt động xây dựng môi trường văn hoá.
Cụ thể sẽ nhận định chùa Vĩnh Tràng có tác động như thế nào đến quan hệ cộng đồng, hoạt động tâm linh, nhu cầu hưởng thụ văn hoá và sự hoàn thiện nhân cách con người…. Việc nhận định này sẽ căn cứ trên việc phân tích giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể của Chùa Vĩnh Tràng. Giá trị Văn hoá vật thể sẽ được biểu hiện thông qua hệ thống kiến trúc, trang trí, hoành phi, bao lam, liễn đối, tượng thờ và các di vật khác… Các hoạt động lễ hội, các nghi thức thờ cúng Phật, các hoạt động xã hội…. sẽ hàm chứa giá trị văn hoá phi vật thể.
Cơ sở thực tiễn Mỹ Tho là một trong những vùng đất được khai phá sớm của khu vực Nam bộ, được hình thành cách nay hơn 330 năm. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo thành phố Mỹ Tho Là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của tỉnh Tiền Giang, Mỹ Tho có lịch sử hình thành cách nay trên 330 năm.