đặt vấn đề khác với các quan niệm phát triển chạy theo tăng trưởng. Phát triển cộng đông là tổng thể những quá trình làm cho cộng đồng biến dạng và có thé dẫn tới những thay đổi về chất. Những biến dạng và đổi thay về chat nào cũng phải đảm bảo những yêu cầu phát triển chung của xã hội, tức là phải đảm bảo sự bên vững của cộng đồng, sự công bằng xã hội cho các nhóm xã hội vốn có những lợi ích riêng, hướng tới xây dựng năng lực tu tổ chức, tự quản ly các vấn dé của cong đồng trên cơ sở hội nhập được các nguồn lực bên trong và bên ngoài, đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội [15, tr 10] ' Tiếp cận này đã phản ánh các gid tri cần được tôn trọng trong phát triển cộng đồng, đó là: (1) Nhân quyên: bảo đảm cho mọi người quyền được phát triển, có nhân phẩm, được tôn trọng và được bảo vệ; (2) Công bằng xã hội đề bảo đảm các cơ hội ngang nhau cho mọi người thoả mãn nhu cầu cơ bản, gìn giữ giá trị và nhân phẩm của minh, bảo đảm sự tham gia của mọi lực lượng xã hội vào tiễn trình ra các quyết định quan trọng trong cộng đồng: (3) Nâng cao trách nhiệm xã hội của mỗi cá nhân dé cùng nhau giải quyết các van dé xã hội chung. Lý thuyết phát triển cộng đồng về mặt xã hội: Nhu cầu phát triển của các cộng đồng nhỏ ở nông thôn đòi hỏi phải có những cách đặt van đề mới xuất phát từ những nhu cầu được thức tinh từ chính họ.
Tính bền vững của các hoạt động phát triển cần phải có những nguyên tắc làm việc mới, những phương pháp mới đáp ứng những đòi hỏi hở cấp độ phát triển cộng đồng, khái niệm phát triển được thao tác hoá bằng một loạt các chỉ báo đo như: (1) Các nhóm thiệt thòi có thé cải thiện điều kiện sống và thoả mãn các nhu cầu cơ bản như việc làm, nhà ở, có khả năng trả các phí dịch vụ xã hội cơ bản như học hành, chữa bệnh; (2) Phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng: (3) Tăng quyền lực của người dân trong các quyết định của cộng đồng: (4) Giảm nghèo, giảm thất nghiệp, quyền con người và công bằng xã hội được củng cô (UN Centre for Regional Development. 1988) 20 của thực tiễn cuộc sống. Quá trình xác định nhu cầu, lập kế hoạch can thiệp đã dựa trên một tư duy mới là: thay vì bên ngoài làm hộ, người dân ở mỗi cộng đồng phải tự mình đứng ra giải quyết những vấn đề của riêng mình, sự giúp đỡ của bên ngoài chỉ có tính chất hỗ trợ, không mang tính quyết định. Thiếu hụt sự hưởng ứng, ý chí và nỗ lực của nhân dân là một trong những nguyên nhân cho sự thất bại của nhiều chương trình phát triển cộng đồng.
Ngoài nguyên nhân là quá chú trọng các biện pháp hỗ trợ mang tính cấp cứu, từ thiện hơn là các biện pháp hỗ trợ phát triển, tính bền vững của các chương trình không được duy trì sau khi các dự án rút di là do cach đặt van đề có tinh áp đặt từ trên xuống (Top down), thay vì cần có một cách đặt van đề từ dưới lên (Bottom up). Về mặt tư tưởng, thói quen tư duy và phương pháp làm việc, cách làm việc mới nay van còn khá xa lạ với cách nghĩ, cách làm mệnh lệnh, mang tính áp đặt từ trên xuống, bên dưới chỉ có một cách thực hiện chúng. Phái triển cộng đồng khuyến khích sáng kiến từ dưới lên, với sự kết hợp với chính người dân dé giải quyết van dé của cộng đồng. Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt.
Nhiều hình thức hợp tác tự nguyện mới như các tổ liên kết ở nông thôn, các hợp tác xã ngành nghề, buôn bán ở thành thị là dấu hiệu rất tích cực cho giai đoạn phát triển mới. Nhiều mô hình do người dân địa phương tự liên kết để giải quyết nhu cầu của mình hay tham gia vào các chương trình từ bên ngoài đưa vào, một số mô hình đã chứng minh tính hiệu quả của nó. Truyền thông “tinh làng nghĩa xóm, tương thân tương trọ, lá lành dum lá rach" cũng là những cơ sở xã hội-lịch sử quan trọng cho các hoạt động này. Cơ cấu tô chức trên địa bàn cơ sở cũng là một thuận lợi cho vận động quan chúng.
Hệ thống tổ dân phó, thôn (ấp) tuy còn rơi vào các hoạt động quan liêu nhưng là đơn vi tap hop, liên lạc thông tin rất thuận lợi. Các tô 21 chức chính trị xã hội như phụ nữ, đoàn thành niên, nông dân, cựu chiến binh, chữ thập đỏ. có mạng lưới rộng khắp và chân rết tại cơ sở. Đây là cơ chế tổ chức tốt dé chuyền tải các chính sách chủ trương từ trên xuống cũng như phản ánh tâm tư nguyện vọng của người dân từ dưới lên.
Thoát khỏi sự “cương cứng” trong những năm bao cấp, các đoàn thê này đã đa dạng hoá các hoạt động dé hướng về phúc lợi xã hội, kinh tế gia đình chăm sóc sức khoẻ, tín dụng tiết kiệm, xúc tiến việc làm, xoá đói giảm nghèo. rất gần gũi với phát triển cộng đồng. Vấn đề đặt ra là nếu áp dụng đúng phương pháp phát triển cộng đồng các hoạt động xã hội tại cộng đồng sẽ có hiệu quả hơn nhiều. Với gần 80% dân cư sống ở nông thôn, đất nước không thé đi lên với một nông thôn nghèo nàn lạc hậu.
Phát triển cộng đồng ở nước ta gắn chặt với tiễn trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Gan đây, các Chỉ thị, Nghị quyết của Nhà nước đã nhân mạnh đến phát triển nông thôn toàn diện, bởi nông thôn không thể thoát khỏi nghèo đói để vươn lên nếu không có những hoạt động đồng bộ về văn hóa, giáo dục, xã hội, sức khoẻ bên cạnh chương trình kinh tế. Đối tượng của các chương trình lớn ké trên đều là người nghèo thất học, người nghèo. Cần phát huy hon nữa tính chủ động của quần chúng bằng cách không chỉ dạy chữ, dạy nghề mà còn giúp cho người dân khả năng phân tích tình hình, giác ngộ về hoàn cảnh của mình, kỹ năng tô chức để tự quản và đi lên bằng chính sức của mình.
Phát triển cộng đồng là ngành khoa học đáp ứng yêu cầu này. Các chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu, xoá đói giảm nghèo là những ví dụ điển hình của cách làm này. Sự tự nguyện mới có thé khắc phục được tình trạng nghèo, bệnh tật và thất học băng nỗ lực của toàn cộng đồng. Sự biến chuyển chỉ có nhờ thay đổi phương pháp luận và phương pháp tiến hành cụ thê.
22 Nhu cầu từ thực tiễn đặt ra là cần phải có quan điểm và phương pháp vận động và tô chức quần chúng, những phẩm chat của các nhà hoạt động xã hội cho mỗi cán bộ làm công tác phát triển cộng đồng. Phát triển cộng đồng sẽ đóng góp tích cực cho giai đoạn phát triển mới, là tinh than và kỹ năng hợp tác, kiến thức, kỹ năng tổ chức, quản lý. Đặc biệt, với triết lý tham dự, các hoạt động phát triển cộng đồng đã có một hướng phát triển mới, nhân mạnh đến việc thu hút người dân vào các hoạt động phat triển. Bảo tồn di sản có sự tham dự của cộng đồng: Trong lĩnh vực văn hóa, lý thuyết phát triển cộng đồng được thắm sâu và thực hành một cách sâu rộng trong các van dé bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong đời sống đương đại.
Các lý thuyết mới trong nhân học hiện đại, đặc biệt là lý thuyết tương đối văn hóa đã góp phan vào quá trình này. Trên thế giới hiện nay, khái niệm di sản thế giới là di chỉ hay di tích của một quốc gia như rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thê kiến trúc hay thành phố. do các nước có tham gia Công ước di sản thé giới đề cử cho Chương trình quốc tế Di sản thế giới, được công nhận và quản lý bởi UNESCO. Chương trình DI sản thế giới sẽ lập danh mục, đặt tên và bảo tồn những vi tri nổi bật về văn hóa hay đặc điểm tự nhiên cho di sản nhân loại chung theo Công ước di sản thế giới, được Đại hội đồng UNESCO chấp nhận ngày 16 tháng II năm 1972.
Nhằm bảo vệ các di sản văn hóa ngày càng có nguy cơ xâm phạm, năm 2001, Luật Di sản Văn hóa được Quốc hội thông qua, gồm 74 điều quy định về bảo vệ các di sản văn hóa ở Việt Nam. Luật này được sửa đôi năm 2009, bổ sung thêm những điều luật mới. Luật quy định về các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; xác định quyền và nghĩa vụ của tô chức, cá nhân đối với di sản văn hoá. Luật áp dụng đối với tô chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cu ở nước ngoai đang hoạt động tại Việt Nam; trong 23 trường hợp điều ước quốc tế mà nước ta ký kết hoặc tham gia có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế [27, tr 5].
Như vậy, cho đến nay, Việt Nam đã ký kết các công ước liên quan đến bảo vệ di sản văn hóa, đồng thời nha nước cũng hết sức quan tâm đến di sản văn hóa dân tộc. Điều đó chứng tỏ, đi sản có vị trí quan trọng trong chiến lược củng có, phát huy giá trị vật thể và phi vật thê đối với thế hệ mai sau của đất nước. Ở Việt Nam hiện nay, di sản văn hóa được chia làm 3 loại, trong đó có di sản văn hóa phi vật thé, di sản văn hóa vật thé và báu vật nhân văn song. - Di san văn hoá phi vật thé là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bang truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, được học cô truyền, về văn hoá âm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.
- Di sản văn hoá vật thé là sản pham vật chat có giá tri lịch sử, văn hoá, khoa học, gồm di tích lịch sử-văn hoá, danh thắng, di vật, cô vật, bảo vật quốc gia.