Nghiên cứu sự phát triển tín ngưỡng thờ mẫu ở Lâm Đồng (1900-2018)

Chuyên khảo phân tích Luận án quá trình du nhập và phát triển của tín ngưỡng thờ mẫu ở lâm đồng từ đầu thế kỷ xx đến năm, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

320
1
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TRÌNH BÀY MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ CƠ SỞ LÝ VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN

2. CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở LÂM ĐỒNG TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN 1975

3. CHƯƠNG 3: SỰ THÀNH LẬP VÀ PHÁT TRIỂN CÁC CƠ SỞ THỜ MẪU Ở LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN 1976 ĐẾN NĂM 2018

4. CHƯƠNG 4: NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở LÂM ĐỒNG TRONG BỨC TRANH TOÀN CẢNH CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM

Tóm tắt

I. Giới thiệu về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng

Tín ngưỡng thờ Mẫu (TNTM) là một phần quan trọng trong văn hóa dân gian Việt Nam, đặc biệt là ở Lâm Đồng. Từ đầu thế kỷ XX, TNTM đã bắt đầu du nhập và phát triển mạnh mẽ tại đây. Nghiên cứu cho thấy, TNTM không chỉ phản ánh sự tôn thờ các vị thần linh mà còn thể hiện những giá trị văn hóa, tâm linh của người dân địa phương. Sự phát triển của TNTM ở Lâm Đồng gắn liền với các yếu tố tự nhiên, xã hội và lịch sử. Đặc biệt, các cơ sở thờ tự đã trở thành nơi lưu giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Theo thống kê, đến năm 2018, Lâm Đồng đã có 144 cơ sở thờ Mẫu, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của tín ngưỡng này.

1.1. Đặc điểm tự nhiên và xã hội ảnh hưởng đến TNTM

Lâm Đồng có điều kiện tự nhiên phong phú, với khí hậu mát mẻ và cảnh quan đa dạng. Những yếu tố này đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của TNTM. Bên cạnh đó, đặc điểm dân cư với sự đa dạng về văn hóa cũng góp phần làm phong phú thêm tín ngưỡng này. Các nghi lễ thờ Mẫu thường được tổ chức trong các dịp lễ hội, thu hút đông đảo người dân tham gia. Sự kết hợp giữa các yếu tố tự nhiên và xã hội đã tạo nên một bức tranh đa dạng về TNTM ở Lâm Đồng.

II. Quá trình du nhập và phát triển của TNTM từ đầu thế kỷ XX đến 1975

Giai đoạn đầu thế kỷ XX, TNTM bắt đầu xuất hiện tại Lâm Đồng, đặc biệt là trên cao nguyên Lang Biang. Nghiên cứu cho thấy, vào giữa những năm 20, hai dạng thức thờ Mẫu miền Bắc và miền Trung đã đồng thời xuất hiện. Tuy nhiên, số lượng cơ sở thờ Mẫu còn hạn chế, chỉ có 34 cơ sở được ghi nhận. Sự phát triển của TNTM trong giai đoạn này được đánh dấu bởi sự ra đời của Việt Nam Thánh Mẫu hội, một tổ chức quan trọng trong việc phát triển tín ngưỡng này. Sự kiện này không chỉ thúc đẩy số lượng cơ sở thờ Mẫu mà còn thu hút nhiều thanh đồng từ các tỉnh khác đến tham gia.

2.1. Sự hình thành và phát triển của các cơ sở thờ Mẫu

Trong giai đoạn này, các cơ sở thờ Mẫu chủ yếu tập trung tại Đà Lạt, Đơn Dương và Bảo Lộc. Sự xuất hiện của các cơ sở này không chỉ đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của người dân mà còn góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Các nghi lễ thờ Mẫu được tổ chức thường xuyên, tạo nên không khí sôi động và thu hút sự tham gia của đông đảo người dân. Sự phát triển này đã tạo nền tảng vững chắc cho sự bùng nổ của TNTM trong các giai đoạn tiếp theo.

III. Sự phát triển của TNTM từ 1976 đến 2018

Giai đoạn 1976-2018 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của TNTM ở Lâm Đồng. Sau giai đoạn khó khăn từ 1976 đến 1990, với 17 cơ sở mới được thành lập, TNTM đã bước vào thời kỳ đổi mới. Từ năm 1991 đến 2018, số lượng cơ sở thờ Mẫu đã tăng lên đáng kể, với 93 cơ sở mới được thành lập. Sự đổi mới trong chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của TNTM. Hiện tại, Lâm Đồng có 144 cơ sở thờ Mẫu, trong đó dạng thức thờ Mẫu miền Bắc chiếm ưu thế.

3.1. Đặc điểm và xu hướng phát triển của TNTM

TNTM ở Lâm Đồng hiện nay không chỉ tồn tại dưới dạng thức thờ Mẫu miền Bắc mà còn có sự giao thoa với các hình thức thờ Mẫu miền Trung. Sự đa dạng này không chỉ thể hiện sự phong phú của tín ngưỡng mà còn phản ánh sự thích nghi của TNTM với môi trường văn hóa địa phương. Các nghi lễ thờ Mẫu ngày càng được tổ chức thường xuyên hơn, thu hút sự tham gia của nhiều tầng lớp trong xã hội. Điều này cho thấy sự phát triển bền vững của TNTM trong bối cảnh hiện đại.

IV. Đánh giá và khuyến nghị về TNTM ở Lâm Đồng

Luận án đã chỉ ra những giá trị và hạn chế của TNTM ở Lâm Đồng trong bối cảnh toàn cảnh tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam. Sự phát triển của TNTM không chỉ góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống mà còn tạo ra những cơ hội mới cho sự phát triển kinh tế địa phương thông qua du lịch văn hóa. Tuy nhiên, cần có những biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị của TNTM, tránh những tác động tiêu cực từ sự phát triển kinh tế. Các cơ quan chức năng cần có những chính sách hỗ trợ để bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa này.

4.1. Khuyến nghị cho các cơ quan chức năng

Để bảo tồn và phát huy giá trị của TNTM, các cơ quan chức năng cần xây dựng các chương trình giáo dục về văn hóa tín ngưỡng cho cộng đồng. Đồng thời, cần có các hoạt động nghiên cứu và bảo tồn di sản văn hóa liên quan đến TNTM. Việc tổ chức các lễ hội thờ Mẫu cũng cần được chú trọng, nhằm tạo cơ hội cho người dân tham gia và tìm hiểu về tín ngưỡng này. Những biện pháp này sẽ góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của TNTM trong tương lai.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

lời mở đầu cuốn sách Lên đồng: Hành trình của thần linh và thân phận; lẽ ra tên cuốn sách phải là “Lên đồng” mới đúng. Tuy nhiên lúc đó, việc xuất bản cuốn sách với cái tên nhƣ vậy là chƣa thể. Trong Hát văn, các tác giả kết luận rằng từ góc độ folklore, lên đồng là một hiện tƣợng văn hóa dân gian tổng thể và là một hình thức sinh hoạt TN - văn hóa cộng đồng. Tiến thêm một bƣớc trong việc tìm hiểu và nghiên cứu về TNTM, năm 1996, Ngô Đức Thịnh và một nhóm tác giả khác tiếp tục hoàn thành công trình Đạo Mẫu ở Việt Nam.

Trong tác phẩm này, lần đầu tiên TNTM của ngƣời Việt đƣợc giới thiệu một cách có hệ thống từ nguồn gốc hình thành, thần điện cho tới thực hành TN. Đến nay, cuốn sách này đã đƣợc tái bản nhiều lần bởi nhiều NXB khác nhau. Trong hai lần xuất bản năm 1996 và 2001 không có thay đổi; lần tái bản thứ 3 năm 2007, sách đƣợc đổi tên là Đạo Mẫu. Tuy nhiên trong cả ba lần xuất bản, nội dung cuốn sách về cơ bản vẫn không thay đổi: ngoài phần chung trình bày hệ thống thờ Mẫu (mà đó chủ yếu là Mẫu Tam phủ, Tứ phủ), phần còn lại ở các chƣơng sau đi vào các hiện tƣợng thờ Mẫu ở các địa phƣơng, từ Bắc bộ, tới Trung bộ và Nam bộ.

Năm 2009, sách đƣợc tái bản lần thứ tƣ với tên gọi mới là Đạo Mẫu Việt Nam gồm hai tập. 13 Đó không phải là thay đổi hình thức chữ nghĩa, mà là một bƣớc tiến về nhận thức… tuy thờ Mẫu là hiện tƣợng khá phổ biến trên thế giới, nhƣng ở Việt Nam đã hình thành và định hình một thứ TNTM (Nữ thần) của mình, với những bản sắc riêng. Nói cách khác, Đạo Mẫu Việt Nam đã trở thành một khái niệm khoa học thực sự (Ngô Đức Thịnh, 2009a, tr. Trong tác phẩm Đạo Mẫu Việt Nam (2009 a,b), tác giả đã xây dựng hệ thống thờ Mẫu với 3 cấp độ: - Thờ nữ thần, Mẫu thần và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, sự tác động và chuyển hoá giữa chúng; - Khái quát 3 dạng thức thờ Mẫu tiêu biểu cho Bắc, Trung và Nam với các đặc trƣng địa phƣơng của chúng.

- Tại mỗi vùng nhƣ vậy, tác giả đã tập trung nghiên cứu các vị Thánh Mẫu tiêu biểu, nhƣ Thánh Mẫu Liễu Hạnh ở Bắc bộ, Thiên Y A Na/Pô Inƣ Nƣgar ở Trung bộ và Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Thiên Hậu… Cũng trong tác phẩm này, tác giả còn cung cấp nhiều tƣ liệu thành văn liên quan tới các vị Thánh Mẫu, nhất là Mẫu Liễu Hạnh. Năm 2001, Tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung Việt Nam do Nguyễn Hữu Thông (chủ biên) đƣợc NXB Thuận Hóa ấn hành. Trong công trình này, các tác giả tiếp tục khẳng định TNTM là một loại hình TN bản địa của ngƣời Việt với sự phát triển từ việc thờ Mẹ đến hệ thống thần linh trong Tứ phủ. Cuốn sách còn đi sâu vào tìm hiểu và phân tích Thần nữ Thiên Y A Na và những di tích thờ phụng Bà rất nổi tiếng ở miền Trung nhƣ Điện Hòn Chén, Tam Thai Điện, Phước Quang Điện… Cùng với đó, công trình này còn đề cập đến hiện tƣợng đồng bóng vấn đề chầu văn… với những đặc trƣng của tục thờ Mẫu miền Trung.

Sách Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và châu do Ngô Đức Thịnh chủ biên (2004) cũng có nhiều bài viết của các học giả trong nƣớc liên quan đến đề tài: - Với bài viết Tín ngưỡng thờ Mẫu trong tâm thức người Việt Nam và lễ hội Phủ Dầy, Trịnh Quang Khanh (2004) đã khẳng định “từ cuối thế kỷ XVI cho tới nay nhân dân Việt Nam luôn tôn thờ một ngƣời mẹ thứ hai mang tình phổ biến đó là Mẫu Liễu Hạnh” (tr. 14 - Trong bài Ông Đồng, bà Đồng: Họ là ai? tác giả Nguyễn Thị Hiền đã chia động cơ mở phủ của họ theo 5 tiêu chí hay biểu hiện của các triệu chứng bị thánh đày nhƣ (kết tóc, bị điên, rơi vào trạng thái ngây ngất tự phát, bị ốm, lợi lộc trần thế) (xem Nguyễn Thị Hiền, 2004, tr. - Ở bài viết Về hai hình thức hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Nam bộ, các tác giả Nguyễn Chí Bền và Hồ Tƣờng (2004) khẳng định: Chính sự khác biệt trong thời điểm đến Nam bộ định cƣ của lớp cƣ dân Việt đã khiến cho TNTM của cƣ dân Việt Nam bộ có hai dòng khác nhau: Dòng thứ nhất đã có sự “giao lƣu và tiếp biến với văn hóa của ngƣời Chăm ở miền Trung rồi đƣợc mang từ miền Trung vào Nam bộ… Dòng thứ hai lại là “bản sao tƣơng đối trung thực của TNTM ở châu thổ Bắc bộ” (tr. Trên cơ sở đó, các tác giả cũng đi đến nhận xét về sự khác biệt giữa hai hình thức hầu đồng ở hai dòng thờ Mẫu ở Nam bộ trên các phƣơng diện trang phục, báo hiệu thánh nhập, động tác múa, phán truyền và phát lộc.

- Bài viết Theo bước chân của Vân Cát nữ thần, tác giả Phạm Quỳnh Phƣơng (2004) đã điểm qua những địa danh, di tích nơi mà Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã từng giáng (theo Truyền kỳ tân phả của Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm) nhƣ làng An Thái (nay thuộc quần thể di tích Phủ Dầy - Nam Định), Phố Cát, Đền Sòng (Thanh Hóa), Lạng Sơn, Tây Hồ… Gắn liền với các di tích ấy là những hiện thân của Mẫu: “Khi thì Mẫu bán hàng nƣớc, bán chè ở Đèo Ngang, bán hoa quả quà bánh ở Đèo Ba Dội, khi thì bán rƣợu ở Tây Hồ, có lúc lại bán thực phẩm ở Phố Cát…” (tr. Theo tác giả: Sự “di chuyển” của Nữ thần Vân Cát gợi cho ta hình dung về một vị tƣớng có tài thao lƣợc, quán xuyến đƣợc cả giang sơn đất nƣớc, đồng thời cũng gợi cho ta hình ảnh về một tầng lớp thƣơng nhân mới, một ngƣời phụ nữ Việt Nam buôn chuyến giỏi giang (tr. - Bằng phƣơng pháp life story (tiểu sử bản thân) - cho bà đồng tự kể chuyện về bản thân họ từ lúc bé đến khi lớn lên và tiếp cận sinh hoạt đồng bóng nhƣ thế nào, tác giả Lê Hồng Lý (2004) trong bài Tín ngưỡng lên đồng từ cái nhìn của 15 người trong cuộc kết luận rằng: “Mục đích của lên đồng có cả hai mặt, vừa tôn giáo vừa văn hóa của tầng lớp khá giả, giàu có” (tr. - Nguyễn Kim Hiền (2004) với bài viết Lên đồng ở Việt Nam - một sinh hoạt văn hóa tâm linh mang tính trị liệu đã nhìn nhận lên đồng nhƣ là một sinh hoạt văn hóa tâm linh mang tính trị liệu và cho rằng: Lên đồng là một cách thức nhận thức lại về một tọa độ lịch sử - xã hội và văn hóa của một cá nhân và một cộng đồng, nhờ đó mà cá nhân đó, thông qua những biểu tƣợng tâm linh, có điều kiện xác định đƣợc vai trò xã hội của mình, làm thức tỉnh và cảm nghiệm thấy ở mình một năng lƣợng sống mới, mạnh mẽ và có ý nghĩa hơn trƣớc… (tr.

Tục thờ Đức Thánh Mẫu và Đức Thánh Trần của tác giả Vũ Ngọc Khánh xuất bản năm 2009 đã cho độc giả nhận thức về sự phát triển từ nguyên lý Mẹ trong văn hóa Việt Nam phát triển đến TNTM Tứ phủ. Thông qua các tƣ liệu về Mẫu trong dân gian, tác phẩm giúp ngƣời đọc nhận diện đƣợc vị trí, vai trò của Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong đời sống tâm linh dân tộc Việt Nam cũng nhƣ trong điện thần thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ nƣớc ta. Cùng với việc giới thiệu nghi lễ thờ Mẫu ở một số địa điểm tiêu biểu nhƣ Phủ Dầy, Phủ Tây Hồ, Đền Bắc Lệ… sách cũng đề cập một số nét khái quát về TN thờ Đức Thánh Trần cùng lễ hội tại Đền Kiếp Bạc. Hai công trình Các Nữ thần Việt Nam của Đỗ Thị Hảo và Mai Thị Ngọc Chúc (2001) và Nữ thần và Thánh Mẫu Việt Nam do Vũ Ngọc Khánh, Mai Ngọc Chúc, Phạm Hồng Hà biên soạn (2002) cũng góp phần cung cấp cho độc giả nhiều thông tin về các Nữ thần của Việt Nam.

Trong hai tác phẩm này, các tác giả đã phân loại các Nữ thần Việt Nam thành các nữ thần trong thần thoại, nữ thần của các dân tộc thiểu số, các Thánh Mẫu, các chƣ thần. Năm 2004, những ai quan tâm đến tục thờ Mẫu lại có dịp tiếp cận với loại hình thờ tự này thông qua tác phẩm Văn hóa thánh Mẫu của Đặng Văn Lung. Đây là công trình gồm ba chuyên khảo của tác giả về triết học Nữ thần Việt Nam thuộc ba thời điểm mang tính bản lề của lịch sử với các nhân vật Công chúa Mị Châu (trƣớc công nguyên - nhằm nêu cao ý thức độc lập dân tộc và cảnh giác với mọi 16 hiểm họa để xây dựng một quốc gia hùng mạnh); Hoàng thái hậu Ỷ Lan (đầu thiên niên kỷ II - là ngƣời có công lớn trong việc kiến tạo một dáng hình Đại Việt); Thánh Mẫu Liễu Hạnh (giữa thiên niên kỷ II - mở mang một TG mới, đề cao quyền con ngƣời và tạo cơ sở cho tinh thần thống nhất các dân tộc Việt Nam thực hiện công cuộc mở nƣớc hoàn chỉnh). Trong phần thứ ba mang tên “Liễu Hạnh với Tam tòa”, Nguyễn Đăng Duy đã bắt đầu với những khảo dị liên quan đến Thánh Mẫu Liễu Hạnh, sau đó là các mục bàn chuyên sâu về những dấu mốc liên quan đến cuộc đời Thánh Mẫu cũng nhƣ tính cách Mẫu Liễu và những dấu ấn thời đại.

Tiếp tục dành sự quan tâm đối với tục thờ Mẫu, năm 2007, Ngô Đức Thịnh lại ra mắt bạn đọc và các nhà nghiên cứu cuốn sách Lên đồng: hành trình của thần linh và thân phận. Đúng nhƣ tên gọi, toàn bộ nội dung tác phẩm đều tập trung trình bày về nghi lễ lên đồng thông qua các câu chuyện cá nhân của các ông đồng, bà đồng - những ngƣời tác giả đã từng tiếp xúc. Hiện tƣợng lên đồng cũng đƣợc Ngô Đức Thịnh phân tích dƣới nhiều góc nhìn mới nhƣ: khía cạnh tâm sinh lý, khía cạnh giới, khía cạnh shaman giáo, từ cái nhìn của những ngƣời trong cuộc; cũng nhƣ những khuynh hƣớng biến đổi của lên đồng trong xã hội đƣơng đại. Đầu năm 2016, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (Tp HCM) ra mắt độc giả cuốn sách Tín ngưỡng thờ Mẫu Nam bộ - Bản sắc và giá trị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu sự phát triển tín ngưỡng thờ mẫu ở Lâm Đồng (1900-2018)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình hình thành và phát triển của tín ngưỡng thờ mẫu tại Lâm Đồng trong suốt hơn một thế kỷ. Tác giả đã phân tích các yếu tố văn hóa, xã hội và lịch sử ảnh hưởng đến tín ngưỡng này, từ đó làm nổi bật vai trò của nó trong đời sống tâm linh của người dân địa phương. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về tín ngưỡng thờ mẫu mà còn mở ra những góc nhìn mới về sự giao thoa văn hóa trong xã hội Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về tín ngưỡng thờ mẫu, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn về tín ngưỡng thờ mẫu trong tôn giáo Việt Nam, nơi trình bày sự tích hợp văn hóa trong tín ngưỡng thờ mẫu ở Việt Nam. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở Phủ Giày cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về một nhánh khác của tín ngưỡng thờ mẫu, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn. Cuối cùng, bài viết Nghiên Cứu Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Qua Các Đền Ở Hà Nội Hiện Nay sẽ giúp bạn khám phá cách thức thực hành tín ngưỡng thờ mẫu tại Hà Nội, từ đó so sánh và đối chiếu với tình hình ở Lâm Đồng. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn mở rộng hiểu biết về tín ngưỡng thờ mẫu trong bối cảnh văn hóa Việt Nam.