CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TÍN NGUONG DAN GIAN VA TIN NGUONG DAN GIAN NHAT BAN 1. Một số vấn dé lý luận về tín ngưỡng dân gian 1. Tín ngưỡng, tín ngưỡng dân gian và tôn giáo Hiện có hàng trăm cách hiểu khác nhau về tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó định nghĩa cua Karl Marx, Friedrich Engels, S. ATokarev, Malinowski, George James Frazer., là những định nghĩa phổ biến, được sử dụng nhiều nhất.
Tôn giáo: Theo Friedrich Engels, tất cả mọi tôn giáo chang qua là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc con người, của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang những thế lực của siêu nhiên và trong những thời kỳ đầu của lịch sử, chính những thế lực thiên nhiên ấy đã được nhân cách hóa hết sức nhiều vẻ và hết sức hỗn tạp [3; tr 447]. Tin ngưỡng: từ điển tiếng Việt viết “lòng tin và sự tôn thờ một tôn giáo” [22; tr 1646], nghĩa là tín ngưỡng chỉ tồn tại trong một tôn giáo. Theo giải thích của Đào Duy Anh, tín ngưỡng được hiểu là: “lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” [2; tr 284]. Quan điểm của Ngô Đức Thịnh rõ ràng hơn: “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được.
Hiện có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây niềm tin của tín ngưỡng là niêm tin vào “cdi £hiêng”, do vậy niêm tin vào cái thiêng thuộc về 10 bản chât của con người, nó là nhân tô cơ bản tạo nên đời sông tâm linh của con người, cũng như giông đời sông vật chât, đời sông xã hội tính thân, tư tưởng, đời sống tình cảm. Khác với học giả Việt Nam, các học giả thế giới lại có cách nhìn về tín ngưỡng như sau: Trong công trình Văn hóa nguyên thủy, Tylor E. B cho rang: “Cần đặc biệt chú ý là những tín ngưỡng và tập quán khác nhau đều có những nên tảng vững chắc trong thuyết vật linh nguyên thủy, như thê chúng đã thực sự mọc lên từ đó. Trong thuyết vật linh phức tạp, chúng trở thành sản phẩm của sự ngu dốt hơn là của nhà triết học và tồn tại như những tàn tích của cái cũ hơn là những sản phẩm của thời sau, khi chuyển từ sức sống đầy đủ sang trạng thái tàn tích” [19; tr 939].
Malinowski trong tac phẩm, “Ma thuật khoa học và tôn giáo” đã định nghĩa như sau: tín ngưỡng ra đời khi mà cuộc sống của con người có nhiều sự trở ngại va bat trắc” [5: tr 159]. Tokarev, nhà nghiên cứu tôn giáo nổi tiếng của Nga cho biết: “Mặc dù bác bỏ luận thuyết về sự phát triển nội tại của tôn giáo, chúng tôi vẫn không bao giờ phủ định sự tồn tại của những mối liên hệ nguồn gốc giữa các tín ngưỡng. Chúng ta đã thấy rõ những tín ngưỡng đó có tính bảo thủ đến mức nào, bất kỳ một tín ngưỡng nào đã bắt rễ vững chắc cũng đều tôn tại trong nhân dân rất lâu bên, thậm chí tồn tại ngay cả lúc những điều kiện san sinh ra nó đã thay đồi” [10; tr 55]. Như vậy, theo quan điểm của học giả này tín ngưỡng chính là hình thức tôn giáo sơ khai: tô tem giáo, bùa ngải và lễ ám hại, chữa bệnh bằng phù phép, lễ dục tình, ma chay, lễ thành niên, sự thờ cúng của nghề săn bắt, sự thờ cúng của thi tộc mẫu hệ, sự thờ cúng tô tiên, Shaman giáo, Naguan giáo, sung bái hội kín, thờ cúng thủ lĩnh, thờ thần trong bộ lạc, thờ thần nông nghiệp.v, là nguồn sốc khai sinh ra tôn giáo ngày nay.
Vệ sự khác biệt giữa tôn giáo và tín ngưỡng có thê sơ đô hóa như sau: 11 Tín ngưỡng Tôn giáo + Chưa có hệ thống giáo lý, hệ thống + Hệ thống giáo lý, kinh điển thé hiện thờ cúng chưa được hệ thống hóa ma quan niệm vũ trụ và nhân sinh, truyền chỉ mới có các huyền thoại, thần tích, thụ qua học tập ở các tu viện, thánh truyền thuyết. Còn có sự hoà nhập nhất định giữa thế+ Tách biệt thế giới thần linh và con giới thần linh và con người. Chưa người, xuất hiện hình thức “cứu thế”. mang tính cứu thế + Chưa thành hệ thống thần điện còn + Thần điện đã thành hệ thống dưới mang tính chất đa thần dạng đa thần hay nhất thần giáo + Nơi thờ cúng và nghỉ lễ còn phân + Noi thờ cúng riêng, nghi lễ thờ cúng tán và chưa thành quy ước chặt chẽ chặt chẽ (chùa, nhà thờ, thánh đường) + Gắn với cá nhân và cộng đồng làng + Tổ chức giáo hội, hội đoàn khá chặt xã, chưa thành giáo hội chẽ, hình thành hệ thống giáo chức + Mang tính chat dân gian, sinh hoạt + Không mang tính dân gian, có chăng của dân gian, gắn với đời sống nông chỉ là sự biến dang theo kiểu dân gian dân hoá, như Phật giáo dân gian.
Tin ngưỡng dân gian: Theo quan điểm của Patric B. Mullen, tín ngưỡng dân gian là một thé loại lớn bao gồm sự biểu cảm và cách ứng xử mà ta gọi là mê tín, tín ngưỡng bình dân, làm phép, các hiện tượng siêu tự nhiên, các câu của các bà nội trợ già, y học dân gian, tôn giáo dân gian, các biêu hiện 12 của thời tiết, cây cỏ, các lời khấn tụng, người hay loài vạt mang vật rủi, đồ lam từ rễ cây những điều tốt xấu các chuyện yêu ma và những điều cấm ky [14; tr 273]. Nhưng theo quan điểm cá nhân, tín ngưỡng dân gian là niềm tin, sự ngưỡng mộ đối với một đối tượng siêu nhiên nào đó có ảnh hưởng, chỉ phối đến đời sống sinh hoạt của con người, cách hiểu này sẽ được lựa chọn làm tiêu chí chính trong khi viết luận văn. Các loại hình tín ngưỡng dân gian X.
Tocarep, nhà dân tộc học, tôn giáo học nỗi tiếng của Nga, trong công trình “Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển cua chúng” [10]. đã chia ra các loại hình tôn giáo như sau: (1). Thờ cúng tổ tiên (gia tộc, dòng họ, quốc gia), tô tem giáo hay còn gọi là tín ngưỡng thờ cúng linh hon. Tín ngưỡng vòng đời người (Nghi lễ sinh đẻ: tho bà Mu; Nghỉ lễ cưới xin: tho ông To, bà Nguyệt; Thờ thần bản mệnh; Tang ma và thờ cúng người chết.
Tín ngưỡng nghề nghiệp (Tín ngưỡng nông nghiệp: Nghi lễ phon thực, Tứ pháp, than Nông.; Thờ Thanh sư còn gọi là Tổ nghề thủ công; Thờ Thần tài ; Các tín ngưỡng của ngư dân, nông dân. Tín ngưỡng thờ Than (đạo thờ Than) (Thành hoàng làng, thé than, thổ công, thổ địa. được gọi là tự nhiên thần; Thờ các anh hùng dân tộc, thờ người có công với nước, thờ người chết trẻ. gọi là nhân thần).
Các nhà dân tộc học và nghiên cứu tín ngưỡng dân gian Nhật Bản lại có cách hiểu khác trong phân loại hình thức tín ngưỡng. Cách phân loại theo kiểu này sẽ được giới thiệu một cách cụ thể trong phần: các loại hình tín ngưỡng dân gian Nhật Bản. Mặc dù sự phân chia trên chỉ là tương đối và không phải tất cả các nhà nghiên cứu văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng hay dân tộc học đều đồng thuận. Trong nghiên cứu này, tôi lựa chọn cách phân chia 13 của X.
Tocarep làm tiêu chí cho luận văn do nó phản ánh được một cách tương đối day đủ các loại hình tín ngưỡng thường gap. Tính đa than trong tín ngưỡng dân gian Cũng như định nghĩa về tôn giáo - tín ngưỡng, khái niệm tính đa thần giáo cũng có nhiều cách hiểu khác nhau, trong đó đa thần giáo được hiểu là một tôn giáo thờ nhiều thần phân biệt với nhất thần giáo, loại hình chỉ thờ một thần duy nhất. Những hình thức tín ngưỡng khác nhau như tô tem giáo, bái vật giáo, vật linh giáo, sa man giáo đều được hiểu là tín ngưỡng đa thần, nó khác với các tín ngưỡng khác. Đó là tín ngưỡng thờ các vị thần linh, ma quỷ riêng lẻ.
Tuy nhiên, tất cả các loại hình tín ngưỡng này đều chưa trở thành một tôn giáo vì nó chưa có hệ thống, không có giáo chủ hay vị thần tối cao. Lý thuyết tôn giáo đa thần đưa ra với mục đích nhằm chống lại những tôn giáo có tính độc thần như Do Thái giáo, Kito giáo, Hồi giáo và chủ trương của đa thần giáo là nhằm đối kháng lại nhất thần giáo. Tại Nhật Bản, Phật giáo đã ăn sâu bén rẽ vào nước này từ hàng ngìn năm, bén rễ vào trong Shinto giáo, tôn giáo - tín ngưỡng nguyên thủy của người Nhật tạo nên hỗn dung tôn giáo. Hỗn dung tôn giáo theo kiểu Thần Phật hợp nhất là một đặc trưng hiếm có, biểu hiện tính đa thần giáo của Nhật Bản.
Nhiều công trình nghiên cứu của Takeshi Yoro, Takeshi Umehara, Masahiro Fujiwara, Hayao Miyazaki, Kishida Shigeru va Izawa Motohiro, Kubota Hiroshi, Ichiro Hori. là những công trình nghiên cứu tiêu biểu về lĩnh vực nay”. Kubota Hiroshi, học giả nổi tiếng về tôn giáo, tín ngưỡng dân gian người Nhật đã định nghĩa tín ngưỡng đa thần như sau: Tín ngưỡng đa thần phát sinh từ sự kính sợ các hiện tượng thiên nhiên hay từ cảm tính về cái thiêng của một vật thể nào đó. Tín ngưỡng đa thần cũng bắt nguồn từ những Ÿ Các tác giả trên sẽ được lần lượt đưa ra trong các chú thích khác 14 thần thoại mô tả rất nhiều nhân vật có hình tướng lạ thường, tính cách phi thường, có sức mạnh siêu phàm.
Những thần này đặc trách cai quản và phù trợ cho một lãnh vực đời sống thế gian. Tín ngưỡng đa thần còn đi đến sự thần hóa các vị anh hùng trong dã sử hay lịch sử của một dân tộc, hình thành nên một chủ thể đa dạng các vị thần trong việc thờ cúng. Thuật ngữ Yaoyorozu no kami (vô số các vị thần) trong Shinto là một trong những đặc trưng đa thần của tôn giáo, tín ngưỡng Nhật Bản [36; tr 21]. Như vậy, qua một vai quan điểm kể trên chúng ta đã có được cái nhìn cơ bản về tín ngưỡng, tôn giáo, tín ngưỡng dân gian và khái niệm tính đa thần giáo.
Tuy nhiên trong luận văn này, khung lý thuyết vẫn dựa trên những nghiên cứu cơ bản của các nhà nghiên cứu Nhật Bản. Tín ngưỡng dân gian Nhật Bản 1. Khải niệm tín ngưỡng dân gian Nhật Bản Việc phân biệt giữa khái niệm tín ngưỡng dân gian và tôn giáo dân gian hiện nay rất rộng và mơ hồ.