CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE LE HỘI TRUYEN THONG VIET NAM VA TRUNG QUOC 1. Một số khái niệm Tín ngưỡng dân gian được phô biến trong mỗi quốc gia, nó không phải tôn giáo chính phái, mà là một loại văn hoá truyền thống được nảy sinh trong dân gian. Ví dụ như tín ngưỡng tô tiên, tín ngưỡng thánh hiền, tín ngưỡng than linh. nó gắn bó với cuộc sống tinh thần của quan chúng, phản ánh phương thức tư duy và thực tiễn sản xuất của nhân dân và xã hội.
Trong lịch sử quá trình phát triển, tín ngưỡng dân gian được lưu truyền, kế thừa cùng với những nghỉ thức, lễ hội truyền thống. Lễ hội là một bộ phận của phong tục tập quán, là một hệ thống các tập tục, thói quen sinh hoạt của cộng đồng được hình thành và ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo. Phong tục gan bó với đạo lý uống nước nhớ nguồn là một nhân tố ảnh hưởng đến sự ra đời của một số lễ hội. Lễ là những nghi thức được tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự kiện có ý nghĩa nao đó.
Hội là dip dé vui chơi tổ chức cho đông đảo người dân tham gia, theo phong tục hoặc dịp đặc biệt, là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng: diễn ra trên một địa bàn dân cư; trong một giới hạn không gian và thời gian nhất định, nhắc lại một sự kiện nhân vật lịch sử hoặc huyền thoại, đồng thời dé biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên, với thần thánh và với con người trong xã hội. Văn hóa lễ hội truyền thống nói chung được hình thành trong quá trình phát triển của xã hội, thé hiện qua các lễ hội hoạt động dân gian trong một khoảng thời gian phát triển lâu dài. Các lễ hội truyền thống mang đặc sắc văn hóa của những tập tục truyền thống, tâm lý dân tộc và luân lý đạo đức. 12 Nghiên cứu lễ hội truyền thống Việt Nam và Trung Quốc trước hết phải tìm hiểu sự cấu thành của nó.
Ngày tết là một bộ phận quan trọng đối với nền văn hóa của một quốc gia. Ngày tết là ngày tổ chức lễ hội theo thời gian cô định. Ngày tết có hai ý nghĩa: Một là chỉ những ngày tết chúc mừng hoặc cúng tế được lưu truyền từ cô xưa, những ngày tết này thông thường có lịch sử lâu dai hơn ngan năm. Ví dụ là tết Nguyên Đán, tết Doan Ngọ, tết Thanh Minh, tết Trung Thu,.
Ý nghĩa thứ hai là cận đại mới xuất hiện, nó được thiết lập để kỷ niệm một người nào đó hoặc một sự kiện nào đó, ví dụ ngày Lao Động, ngày Quốc Khánh. Theo những tổng kết phan trên có thể biết được, ngày tết là những ngày đặc biệt và được tổ chức vào thời gian cô định, có loại hình phong phú, nội dung đa dang, được bắt nguồn từ thời đại khác nhau, và mỗi ngày tết đều có quá trình phát triển đặc biệt và chịu ảnh hưởng của nhân tố khác nhau. Ngày tết truyền thống là thành quả của lịch sử phát triển lâu dài của một quốc gia, là một bộ phận cau thành của văn hóa con người. Các lễ hội trong ngày tết truyền thống là một phương thức thể hiện văn hóa và tỉnh thần nhân văn của một quốc gia.
Thông qua các lễ hội chúng ta có thé tìm hiéu văn hóa truyền thong của một dân tộc hoặc một vung nao đó. Những ngày lễ lớn trong năm của Việt Nam và Trung Quốc Tại sao chúng ta phải kế thừa và phát triển lễ hội truyền thống? Bởi vì nó có nhiều ý nghĩa tích cực đối với cuộc sống chúng ta: Một là sự kiện tưởng nhớ, tỏ lòng tri ân công đức của các vị thần đối với cộng đồng, dân tộc; Hai là dip con người được trở về nguồn, dù là nguồn cội tự nhiên hay nguồn cội của dân tộc đều có ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người; Ba là thể hiện sức mạnh cộng đồng làng xã, địa phương hay rộng hơn là quốc gia dân tộc. Họ thờ chung vi thần, có chung mục tiêu đoàn kết để vượt qua gian 13 khó, giành cuộc sống ấm no, hạnh phúc; Bốn là, nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư; là hình thức giáo dục, chuyên giao cho các thé hệ sau biết giữ gìn, kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc theo cách riêng, kết hợp giữa yếu tố tâm linh và các trò chơi đua tài, giải trí; Năm là dip con người được giải toa, dai bày phiền muộn, lo âu với thần linh, mong được thần giúp đỡ, chở che đặng vượt qua những thử thách đến với ngày mai tươi sáng hơn. Mỗi lễ hội truyền thống đều có những giá trị nhất định đối với đời sống tinh than.
Nó là nền tảng gan kết cộng đồng với nhau. Lễ hội truyền thống mang lại giá trị hướng về nguồn cội, nhằm tỏ lòng tri ân, tôn vinh và tưởng nhớ những gi ông cha ta ngày xưa dé lại. Ngoài ra, lễ hội truyền thống còn có giá trị cân bằng đời sống tâm linh. Đó là hướng về cái cao cả, thiêng liêng.
Hướng về ước vọng may man, bình an, tài lộc trong niềm tin tôn giáo. Như là nơi giải tỏa phiền muộn, mong được thần linh giúp đỡ, chở che. Lễ hội truyền thống còn có giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa. Lễ hội không chỉ là tắm gương phản chiếu nên văn hóa của dân tộc mà còn có giá trị bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị truyền thống của một dân tộc.1: Một số ngày lễ tết quan trọng theo lịch âm của Việt Nam Ngày tháng Tên ngày Lễ, Tết 1 tháng 1 Tét Nguyén Dan 15 thang 1 Tét Nguyén Tiéu 3 thang 3 Tết Han Thực 15 tháng 4 LỄ Phat Dan 14 5 tháng 5 Tết Đoan Ngọ 15 tháng 7 LỄ Vu Lan 15 tháng 8 Tét Trung Thu 23 thang 12 LỄ cúng Ông Táo Bảng 1.2: Một số ngày lễ quan trọng theo âm lịch của Trung Quốc Ngày tháng Tên ngày Lễ, Tết 1 tháng 1 Tết Âm Lich (còn gọi là tết Nguyên đán) 15 tháng l1 Tết Nguyên Tiêu 2 tháng 2 Rồng Ngắng Đầu 3 tháng 3 Lé Hội Hát Đôi (tinh Quảng Tây) 5 tháng 5 Tết Đoan Ngọ 7 tháng 7 Lễ Thất Tịch 15 tháng 7 LỄ Hội Trung Nguyên 15 tháng 8 Tét Trung Thu 9 thang 9 Tét Tring Duong 30 thang 12 | Đêm Giao thừa 1.
Lễ hội truyền thống và tín ngưỡng dân gian nhìn từ bối cảnh văn hóa Quảng Tây (Trung Quốc) và miền Bắc Việt Nam “Sự hình thành của một ngày tết truyền thống là một quá trình trưởng thành lâu dài của lịch sử văn hóa, nó thừa kế nội hàm văn hóa lịch sử phong phú, là một không gian văn hóa chứa tín ngưỡng tinh thần, phong cách thâm 15 mỹ và đạo đức luân lý của quần chúng” [ 22, tr. Sự hình thành của những lễ hội truyền thống trong ngày Tết là tắm gương phản ánh diện mạo quốc gia, đặc biệt là phản ánh diện mạo cuộc sống của nhân dân. Nó mang bóng dáng của nhân dân các thời đại, đồng thời nó bày tỏ nguyện vọng tốt đẹp của nhân dân đối với cuộc sống. Nếu muốn tìm hiểu lễ hội truyền thống và tín ngưỡng dân gian của Quảng Tây Trung Quốc thì chúng ta không thể không đề cập đến bối cảnh văn hóa đa dân tộc của Quảng Tây.
Năm 214 trước công nguyên, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, thiết lập quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Tam, hiện nay lãnh thé đa phần của tỉnh Quảng Tây là năm trong phạm vi quận Quế Lâm được triều đại Tần thiết lập. Vì vậy, Quảng Tây cũng được người ta gọi là “Thanh Phố Quế”. Sau triều đại Tần', các dân tộc khác dần dan chuyển vào Quang Tây, đến nay Quảng Tây có hơn 40 dân tộc thiêu sé, trong này có 12 dân tộc là dân tộc trường trú: Dân tộc Choang, Hán, Dao, Miêu, Đồng, Mao Nam, Kinh, Hỏi, Di, Cờ Lao, Thủy, Mục Lao [ 25, tr. Trung Quốc có một câu là “Trăm cây khác lễ độ, ngàn cây khác tập tục” [ 30, tr.
201 ], môi trường xã hội và phương thức sinh sống mọi nơi khác nhau, văn hóa lịch sử khác nhau. Trong những thời đại nhân dân sinh sống theo bộ tộc, lễ hội là một yếu tố quan trọng đối với các vấn đề liên quan đến dân tộc và sự hình thành của đặc trưng văn hóa dân tộc. Theo thời gian phát triển, các dân tộc thiểu số dần dần được hòa vào nhau, thanh niên nam nữ của dân tộc khác được lay nhau, trong quá trình này được hình thành nhiều phong tục tập quán va lễ hội truyền thống vừa có tính riêng vừa có tính chung. Ví dụ như lễ hội Hát Đối noi tiếng nhất của Quang Tây; Tư liệu lich sử cho biết lễ hội này bắt nguồn từ dân tộc Choang.
Lúc đầu là nông dân hát trên ruộng trong khi giải lao, về 1 Triều đại nhà Tần (năm 221-207 trước công nguyên) là vương triều thông nhất đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. 16 sau có sự kết hợp và di lại giữa dan tộc Choang và các dân tộc thiểu số nên hiện nay các dân tộc thiểu số cũng có tô chức lễ hội hát đối lúc có sự kiện quan trọng, nhất là dân tộc Miêu va dân tộc Dao*. Hát đối của các dân tộc thiểu số Quảng Tây hay được tổ chức vào các lễ hội quan trọng, ví dụ lễ hội “Öƒ27(You Fang)”, “You Fang” là lễ hội của thanh niên nam nữ dân tộc Dao, được tô chức vào 3 thời điểm - ngày mồng 8 tháng 4, ngày mồng 6 tháng 6, ngày mồng 9 tháng 9 dương lịch. Đến ngày ấy, thanh niên nam nữ dân tộc Dao mặc quần áo truyền thống, đội mũ làm bằng đồng, địa điểm lễ hội không có định, thông thường là tổ chức tại những chỗ có non xanh nước biếc, phong cảnh tươi đẹp.
Thanh niên nam nữ dùng ngôn ngữ dân tộc mình, thay nói bằng hát, họ dùng cách nay trao đổi và quen nhau. Không chỉ là dân tộc Dao, hầu hết các dân tộc thiểu số đều có lễ hội hát đối của thanh niên nam nữ, họ thông qua hình thức hát đối dé tìm người yêu. Thông qua lễ hội Hát Đối của dân tộc Dao, chúng ta có thể nhìn thấy, trên cơ sở hát đối của dân tộc Choang, các dân tộc khác sáng tạo ra Hát Đối bằng ngôn ngữ của dân tộc mình. Như vậy, lễ hội này vừa có đặc điểm riêng, vừa có những điểm chung giữa các dân tộc.