phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết. z 6 CHƢƠNG I TÍN NGƢỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƢỜI VIỆT VÀ KHÍA CẠNH NHÂN SINH CỦA NÓ 1.1- TÍN NGƢỠNG, TÍN NGƢỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN 1.1- Tín ngưỡng Trong lịch sử phát triển của nhân loại có hàng ngàn các loại hình tín ngưỡng khác nhau, rất phong phú, đa dạng. Song, để có một cách hiểu khoa học về tín ngưỡng, cần phải xem xét một số quan điểm khác nhau trong giới nghiên cứu để có thể đi đến khái quát được nét đặc trưng nhất của tín ngưỡng. Các quan điểm ngoài mác-xít về tín ngưỡng Chủ nghĩa duy tâm khách quan với đại biểu như Pla-tôn, Hê-ghen.
đã xuất phát từ thực thể tinh thần, “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối” để lý giải các hiện tượng tôn giáo, tín ngưỡng. Hê-ghen cho rằng, khởi nguyên của thế giới là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới ”. Tính phong phú, đa dạng của thế giới hiện thực là kết quả của sự vận động và sáng tạo của “ý niệm tuyệt đối”. “Ý niệm tuyệt đối” tồn tại vĩnh viễn.
Theo nhận xét của Lê-nin, “ý niệm tuyệt đối” chỉ là một cách nói theo đường vòng, một cách nói khác về Thượng đế mà thôi. Do đó, quan điểm của các nhà triết học duy tâm là sự biện hộ cho tín ngưỡng, tôn giáo, họ xem tín ngưỡng, tôn giáo là sức mạnh thần bí thuộc tinh thần tồn tại vĩnh hằng, là nhân tố chủ yếu đem lại sinh khí cho con người. z 7 Các nhà triết học duy tâm chủ quan lại cho rằng, tín ngưỡng là thuộc tính vốn có trong ý thức của con người, tồn tại không phụ thuộc vào hiện thực khách quan. Các nhà triết học duy vật lại có quan điểm hoàn toàn khác với quan điểm duy tâm.
Xê-nô-phan, nhà triết học duy vật cổ đại, cho rằng thần do con người tạo ra, vì thế, con người như thế nào thì thần giống như thế. Còn đại biểu kiệt xuất của nền triết học cổ điển Đức, Phoi-ơ-bắc, lại khẳng định: “Không phải như trong Kinh thánh nói Thượng đế tạo ra con người theo hình ảnh của mình mà là con người tạo ra Thượng đế theo hình ảnh của họ[37,23]. Trong tác phẩm “Bản chất của Kitô giáo”, Phoi-ơ-bắc chứng minh rằng, hiểu một cách nhân bản, cái mà ý thức tín ngưỡng, tôn giáo quan niệm là Thượng đế không phải cái gì khác hơn sự “phóng rọi” của chính bản thân con người, với tư cách là loài, và được thể hiện bằng tư duy, bằng mong muốn, bằng cảm xúc. Ông viết: Con người suy nghĩ ra sao, tâm tư thế nào, thì Thượng đế của họ đúng như vậy; con người có bao nhiêu giá trị thì Thượng đế của họ cũng chỉ có bấy nhiêu, không hơn.
Ý thức về Thượng đế là sự tự ý thức của con người, sự nhận thức Thượng đế là sự nhận thức của con người. Từ Thượng đế có thể suy ra con người, và từ con người có thể suy ra Thượng đế của họ, hai thứ chỉ là một. Cái mà con người cho là Thượng đế, đấy chính là tinh thần, là tâm hồn của con người và cái gọi là tinh thần, là tâm hồn, trái tim của con người, đấy chính là Thượng đế. Như vậy, con người đã phản ánh bản chất thật của mình vào Thượng đế.
Sau khi đã thực hiện việc đó, Thượng đế không còn đồng nhất tuyệt đối với bản chất con người nữa. Ở đây, Thượng đế trở thành một khách thể của con người, thành một cái nằm ngoài con người, và đến lượt mình, con người z 8 nhắm mắt phục tùng cái Thượng đế do họ đã sinh ra với một tinh thần hoàn toàn thụ động. Khác với Hê-ghen, nói đến sự tha hoá của “ý niệm tuyệt đối”, Phoi- ơ- bắc nói đến sự tha hoá của bản chất con người vào Thượng đế. Ông cho rằng, bản chất tự nhiên của con người là muốn hướng tới cái chân, cái thiện, cái đẹp, nghĩa là muốn hướng tới những giá trị đẹp nhất trong một hình tượng đẹp nhất về con người, nhưng trong thực tế, những cái đó con người không đạt được, nên đã gửi gắm tất cả ước muốn của mình vào hình tượng Thượng đế.
Nhìn chung, các quan điểm trên về tín ngưỡng do điều kiện lịch sử và do lợi ích giai cấp đã có những hạn chế, thiếu cơ sở khoa học. Quan điểm duy tâm cho tín ngưỡng là những hiện tượng thần bí, siêu thực, chỉ có thể cảm nhận và tin chứ không lý giải được. Các nhà triết học duy tâm đã sai lầm, vì họ đã lấy ý thức, tinh thần để lý giải một hiện tượng cũng thuộc lĩnh vực tinh thần là tín ngưỡng, tôn giáo. Quan điểm duy vật của Phoi-ơ-bắc đã chỉ ra nguồn gốc nhận thức của tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần đấu tranh chống các quan điểm duy tâm, tôn giáo trong quan niệm về con người, về Thượng đế.
Song, trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, Phoi-ơ-bắc chỉ phê phán một thứ tôn giáo cụ thể là đạo Cơ Đốc. Còn tôn giáo nói chung, theo ông, vẫn là điều cần thiết đối với cuộc sống con người, chỉ có tín ngưỡng, niềm tin mới an ủi được chúng ta khỏi những nỗi bất hạnh trong cuộc đời con người. Mặc dù sự an ủi đó là giả dối, là không có thật, nhưng theo ông, không thể làm gì hơn, mà đành phải chấp nhận. Phoi- ơ- bắc chưa chỉ ra được nguồn gốc xã hội, chức năng “đền bù hư ảo” và những mặt tiêu cực của tôn giáo, tín ngưỡng.
Vì vậy, ông đã rơi vào lập trường duy tâm trong việc lý giải vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng. z 9 Để có cách nhìn khách quan, khoa học đối với hiện tượng tín ngưỡng, cần có phương pháp tiếp cận khoa học, đó là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin Quan điểm triết học mác- xít về tín ngưỡng C. Mác khẳng định con người đã sáng tạo ra tín ngưỡng, tôn giáo chứ không phải chỉ sáng tạo ra biểu tượng của tín ngưỡng, tôn giáo như các nhà duy vật trước Mác đã thừa nhận. Tín ngưỡng, về bản chất, là sản phẩm của con người sống trong những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá cụ thể nào đó.
Tín ngưỡng thuộc đời sống tinh thần của xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự qui định của tồn tại xã hội. Chính con người đã thần thánh hoá, khoác cho thần thánh những sức mạnh siêu nhiên, tạo thành cái bản chất khác mình và trở thành chỗ dựa cho chính mình.Vì vậy, Mác cho rằng, cần phải “xuất phát từ con người trong hành động, hiện thực của họ mà chúng ta mô tả sự phát triển của những phản ánh tư tưởng và tiếng vang tư tưởng của quá trình ấy” [33, 37- 38]. Trong quá trình hoạt động của mình, C. Ăng- ghen đã chỉ ra sản xuất vật chất là cơ sở của sự hình thành và phát triển của các hiện tượng mang tính chất lịch sử xã hội, trong đó có tín ngưỡng, tôn giáo.Ăng-ghen sống, trong xã hội phương Tây, tín ngưỡng thường được hiểu là tín ngưỡng tôn giáo, và cụ thể là tín ngưỡng Cơ Đốc giáo.
Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, C. Ăng-ghen đã đề cập tới vấn đề tín ngưỡng tôn giáo ở nhiều khía cạnh khác nhau, trong các hoàn cảnh lịch sử cụ thể khác nhau, với các khái niệm tín ngưỡng, tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng Cơ Đốc giáo. Các ông cho rằng, về cơ bản, tín ngưỡng không khác gì thần linh, hai cái đều là tôn giáo đang ngự trị con người. Ở đây, tín ngưỡng với hàm nghĩa tín ngưỡng tôn giáo [42,9].
Ăng- ghen không dừng lại xem xét tín ngưỡng với hàm nghĩa tín ngưỡng tôn giáo, các ông còn sử dụng khái niệm “tín ngưỡng triết học” và “tín ngưỡng chính trị”. Trong quá trình sử dụng khái niệm “tín ngưỡng”, dần dần C. Ăng-ghen đã phá vỡ cách dùng quen thuộc với hàm nghĩa “tín ngưỡng tôn giáo”. Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô-ta”, C.Mác cho tự do tín ngưỡng của giai cấp tư sản chẳng qua chỉ là các loại tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Chính đảng của giai cấp công nhân muốn giải thoát con người ra khỏi cái ma thuật của tín ngưỡng tôn giáo. Ăng-ghen đã khẳng định, tự do tín ngưỡng có nội dung rất rộng lớn. Người ta không chỉ có tự do tín ngưỡng của tôn giáo này hay tôn giáo khác, mà còn có tự do tín ngưỡng không tôn giáo, nghĩa là tự do tín ngưỡng vô thần. Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin chính là niềm tin của giai cấp vô sản, là niềm tin khoa học, là vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân bị áp bức.
Trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, C.Ăng-ghen cho rằng : “chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi là chủ nghĩa cộng sản là phong trào hiện thực, nó xoá bỏ trạng thái hiện nay”[33, 51].Mác, vấn đề là ở chỗ phải tổ chức, giáo dục giai cấp vô sản, làm cho họ có niềm tin vững chắc vào tương lai của xã hội mới do chính họ tạo lên. Thực tế, đây chính là hình thức đi sâu vào lòng người, trở thành lý tưởng và niềm tin của chủ nghĩa cộng sản. Nếu các nhà triết học duy tâm lấy ý thức, tín ngưỡng tôn giáo để giải thích lịch sử, coi tín ngưỡng, tôn giáo là phạm trù vượt qua lịch sử, lấy sự thay đổi của tín ngưỡng, tôn giáo để phân định lịch sử nhân loại, thì các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã lấy lịch sử để giải thích tín ngưỡng và đi đến kết luận khoa học: Tín ngưỡng cũng là một hiện tượng lịch sử, là sự phản ánh z 11 điều kiện kinh tế-xã hội của các thời đại, có quá trình hình thành, biến đổi và có ảnh hưởng nhất định đối với tiến trình lịch sử.
Cùng với việc nghiên cứu quan điểm của các nhà kinh điển, cũng cần xem xét các quan điểm của một số học giả Việt Nam về tín ngưỡng. Từ điển tiếng Việt xác định: Tín ngưỡng là “sự tin tưởng vào sức mạnh của một đấng thiêng liêng và những giáo lý của một tôn giáo” [57, 823]. Đặng Nghiêm Vạn xem tín ngưỡng là một yếu tố chính của tôn giáo, qui định sức mạnh của tôn giáo với cộng đồng [62]. Ngô Hữu Thảo, trong bài “Góp phần tìm hiểu các khái niệm tôn giáo và tín ngưỡng” cho rằng : Tín ngưỡng được hiểu theo hai cách : cách hiểu thứ nhất, tín ngưỡng là một động từ hoặc một động ngữ (khái niệm tôn giáo không hiểu theo cách này mà chỉ là danh từ).