Nghiên cứu khoa học cấp trường về hệ thống truyền thuyết Phạm Nhan của người Việt tại Bắc Bộ

Khám phá hệ thống truyền thuyết Phạm Nhan của người Việt ở Bắc Bộ qua đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường chi tiết và chuyên sâu.

Trường đại học

Trường Đại Học Hải Phòng

Chuyên ngành

Ngữ văn - Địa lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học

2019

119
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Cơ sở lí thuyết của đề tài

1.1.1. Xác định một số thuật ngữ, khái niệm

1.1.1.1. Truyền thuyết

1.2. Lịch sử nghiên cứu truyền thuyết Phạm Nhan

1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu và định hướng của đề tài

2. CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VỀ HỆ THỐNG TRUYỀN THUYẾT VÀ NHÂN VẬT PHẠM NHAN

3. CHƯƠNG 3: TRUYỀN THUYẾT PHẠM NHAN DƯỚI GÓC NHÌN THỂ LOẠI

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Hệ thống truyền thuyết Phạm Nhan

Hệ thống truyền thuyết Phạm Nhan là một phần quan trọng trong kho tàng văn hóa dân gian Bắc Bộ. Nghiên cứu này tập trung vào việc khám phá và phân tích các truyền thuyết về Phạm Nhan, một nhân vật phản diện trong lịch sử Việt Nam. Truyền thuyết Phạm Nhan không chỉ phản ánh lịch sử mà còn thể hiện quan niệm dân gian về cái ác và sự trừng phạt. Những câu chuyện này được lưu truyền qua nhiều thế hệ, đặc biệt là ở các vùng như Nam Định, Hải Dương, Quảng Ninh, và Hải Phòng. Phạm Nhan Bắc Bộ trở thành biểu tượng của sự phản bội và sự thất bại trước sức mạnh của dân tộc.

1.1. Nguồn gốc và lịch sử Phạm Nhan

Lịch sử Phạm Nhan gắn liền với cuộc kháng chiến chống quân Nguyên của nhà Trần. Phạm Nhan được xem là một nhân vật có thật, nhưng trong truyền thuyết dân gian Việt Nam, ông được thần thoại hóa thành một kẻ phản bội, bán nước. Những truyền thuyết này không chỉ kể về cuộc đời của Phạm Nhan mà còn phản ánh tinh thần yêu nước và sự căm thù của người dân đối với kẻ thù. Người Việt Bắc Bộ đã lưu giữ những câu chuyện này như một cách để giáo dục thế hệ sau về lòng trung thành và sự đoàn kết dân tộc.

1.2. Phân bố và đặc điểm truyền thuyết

Truyền thuyết Phạm Nhan được phân bố rộng rãi ở các tỉnh Bắc Bộ, đặc biệt là những nơi có liên quan đến chiến công của Đức Thánh Trần. Các truyền thuyết này thường được kết hợp với các di tích lịch sử và tín ngưỡng dân gian. Văn hóa truyền thống Việt Nam đã sử dụng những câu chuyện này để củng cố niềm tin vào sức mạnh của dân tộc. Các môtip trong truyền thuyết thường xoay quanh sự trừng phạt của Phạm Nhan và sự chiến thắng của chính nghĩa.

II. Phương pháp nghiên cứu và tiếp cận

Nghiên cứu hệ thống truyền thuyết Phạm Nhan sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm phương pháp điền dã, phương pháp so sánh loại hình, và phương pháp ngữ văn dân gian. Nghiên cứu truyền thuyết này không chỉ dừng lại ở việc sưu tầm và phân tích văn bản mà còn đi sâu vào việc tìm hiểu ý nghĩa văn hóa và lịch sử của các truyền thuyết. Văn hóa dân gian Bắc Bộ được coi là nền tảng để hiểu rõ hơn về cách người dân tiếp nhận và lưu truyền những câu chuyện này.

2.1. Phương pháp điền dã

Phương pháp điền dã được sử dụng để thu thập các truyền thuyết về Phạm Nhan từ các địa phương như Nam Định, Hải Dương, Quảng Ninh, và Hải Phòng. Những câu chuyện này được ghi chép lại từ các nguồn tư liệu dân gian, bao gồm cả các di tích và tín ngưỡng liên quan. Người Việt Bắc Bộ đã lưu giữ những truyền thuyết này như một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của họ.

2.2. Phương pháp so sánh loại hình

Phương pháp so sánh loại hình giúp phân tích các môtip và cốt truyện trong truyền thuyết Phạm Nhan so với các truyền thuyết khác về ác thần trong văn hóa dân gian Việt Nam. Phương pháp này cho phép nhận diện những đặc điểm riêng biệt của truyền thuyết về Phạm Nhan, đồng thời làm nổi bật vai trò của nhân vật này trong hệ thống truyền thuyết dân gian.

III. Ý nghĩa và giá trị của nghiên cứu

Nghiên cứu hệ thống truyền thuyết Phạm Nhan không chỉ có giá trị học thuật mà còn mang ý nghĩa thực tiễn trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống Việt Nam. Những truyền thuyết này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử và văn hóa của người Việt, đặc biệt là trong giai đoạn chống ngoại xâm. Truyền thuyết dân gian Việt Nam đã trở thành một công cụ giáo dục hiệu quả, truyền tải những bài học về lòng yêu nước và sự đoàn kết.

3.1. Giá trị văn hóa và lịch sử

Truyền thuyết Phạm Nhan là một phần không thể thiếu trong văn hóa dân gian Bắc Bộ. Những câu chuyện này không chỉ kể về lịch sử mà còn phản ánh quan niệm của người dân về cái thiện và cái ác. Lịch sử Phạm Nhan được tái hiện qua những truyền thuyết này, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tinh thần yêu nước của người Việt.

3.2. Ứng dụng trong giáo dục và bảo tồn

Nghiên cứu truyền thuyết Phạm Nhan có thể được ứng dụng trong giáo dục, giúp học sinh hiểu rõ hơn về lịch sử và văn hóa dân tộc. Đồng thời, việc bảo tồn những truyền thuyết này cũng góp phần duy trì bản sắc văn hóa của người Việt Bắc Bộ. Văn hóa truyền thống Việt Nam sẽ được bảo tồn và phát huy thông qua những nghiên cứu như thế này.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, chúng tôi triển khai ba vấn đề: - Cơ sở lí thuyết của đề tài - Lịch sử nghiên cứu truyền thuyết Phạm Nhan - Đánh giá tình hình nghiên cứu và định hướng của đề tài 1. Cơ sở lí thuyết của đề tài 1. Xác định một số thuật ngữ, khái niệm 1. Truyền thuyết Truyền thuyết được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau trên thế giới: tiếng Anh gọi là legend; tiếng Pháp dùng chữ légende và tiếng Đức dùng chữ sage.

Truyền thuyết là từ gốc Hán, nhưng không phải thuật ngữ đã có từ xa xưa ở Trung Quốc. Nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch cho biết: “Theo giới nghiên cứu Folklore Trung Quốc thì đây là một danh từ được chuyển dịch từ thuật ngữ sage trong tiếng Đức” [33,132]. Chữ sage trong tiếng Đức có nghĩa là truyện ngắn về sự kiện trong quá khứ mà không cần có sự đảm bảo về lịch sử. Ở Việt Nam, có lẽ Đào Duy Anh là người sớm sử dụng từ truyền thuyết khi ông viết về vấn đề “Những truyền thuyết đời thượng cổ nước ta”.

Đến những năm 50 của thế kỉ XX, thuật ngữ truyền thuyết đã được sử dụng nhiều hơn. Các tác giả nhóm Lê Quý Đôn trong công trình Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, khi xác định ranh giới giữa thần thoại với truyền thuyết, bước đầu định nghĩa truyền thuyết như sau: “Truyền thuyết là tất cả những chuyện lưu hành trong dân gian có thật xảy ra hay không thì không có gì đảm bảo. Như vậy có những truyền thuyết lịch sử mà cũng có những truyền thuyết khác, hoặc dính dáng về một đặc điểm địa lý (Chuyện nàng Tô Thị, Chuyện Núi Vọng Phu…) 7 hoặc kể lại gốc tích một sự vật gì (Chuyện bánh chưng bánh giầy, Chuyện Trầu Cau), hoặc giải thích phong tục tập quán, hoặc nói về sự tích các nghề nghiệp, và tất cả những chuyện kì lạ khác” [14, 60]. Đến những năm 60, danh từ truyền thuyết cũng như nội dung truyền thuyết dân gian đã trở nên quá quen thuộc với nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, qua cuộc tranh luận khá sôi động về một truyền thuyết cụ thể: truyền thuyết Mị Châu - Trọng Thủy diễn ra trên Tập san Nghiên cứu văn học (tiền thân của Tạp chí Văn học).

Từ cuối những năm 60 cho đến những năm 70 trở đi, đến những năm cuối thế kỉ XX có nhiều bài báo, công trình khoa học, giáo trình đại học viết về truyền thuyết. Năm 1970, trong giáo trình Văn học dân gian của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đỗ Bình Trị đã định nghĩa: “Truyền thuyết là những truyện cổ dính líu đến lịch sử mà lại có sự kì diệu - là lịch sử hoang đường - hoặc là những truyện tưởng tượng ít nhiều gắn với lịch sử” [57]. Năm 1971, trong một bài tiểu luận “Truyền thuyết anh hùng trong thời kì phong kiến”, tác giả Kiều Thu Hoạch đã đưa ra một quan niệm về truyền thuyết mà cho đến nay vẫn được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận. Theo ông: “Truyền thuyết là một thể loại truyện kể truyền miệng, nằm trong loại hình tự sự dân gian, nội dung cốt truyện của nó kể lại truyện tích của nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng các yếu tố hư ảo, thần kì như cổ tích và thần thoại; nó khác cổ tích ở chỗ không nhằm phản ánh xung đột gia đình, sinh hoạt xã hội và số phận cá nhân mà thường phản ánh những vấn đề thuộc phạm vi quốc gia, dân tộc rộng lớn; nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở sự thật lịch sử cụ thể chứ không phải là hoàn toàn trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng” [8].

Năm 2001, giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Lê Chí Quế đã đưa ra định nghĩa: “Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa hay nhân vật tôn giáo thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kì” [53,49]. Vấn đề phân loại truyền thuyết có nhiều khuynh hướng khác nhau. Các nhà folklore Nhật Bản cũng có nhiều cách phân loại khác nhau đối với thể loại truyền thuyết. Trong đó có quan niệm của Seki Keigo, đứng trên lập trường nghiên cứu so sánh để phân loại truyền thuyết.

Ông căn cứ vào hình thái tồn tại và chức năng của truyền thuyết làm tiêu chuẩn phân loại. Theo cách phân loại của ông thì truyền thuyết được chia làm 3 loại: “Truyền thuyết thuyết minh (giải thích sự đời); truyền thuyết lịch sử và truyền thuyết tín 8 ngưỡng. Loại thứ nhất - truyền thuyết thuyết minh bao gồm những loại truyền thuyết về các hiện tượng tự nhiên có liên quan đến thiên thể; những truyền thuyết về nguồn gốc động thực vật; những truyền thuyết về nham thạch, tảng đá, núi, hang núi, đèo dốc, đỉnh nủi, ao chuôm, đầm vực; những truyền thuyết về nguồn gốc các di tích kiến trúc văn hóa, các từ đường v.v… Loại thứ hai - truyền thuyết lịch sử bao gồm những truyền thuyết về các nhân vật lịch sử và những truyền thuyết về các sự kiện lịch sử. Loại thứ ba - truyền thuyết tín ngưỡng bao gồm những truyền thuyết phản ánh tín ngưỡng nảy sinh trong quần chúng về phép ma, về thần núi, thủy thần, thủy quái, về những tinh linh ở ao hồ, long vương, thần rắn, về thần tổ tiên trong các gia đình, về yêu ma, quỷ quái các loại, về người khổng lồ”[33,94].

Đối với giới folklore Trung Quốc tình hình phân loại truyền thuyết cũng chưa có được tiếng nói chung: Có tài liệu thì chia truyền thuyết thành 6 loại (truyền thuyết nhân vật, truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết địa phương, truyền thuyết sản vật, truyền thuyết phong tục, truyền thuyết thời sự). Có tài liệu phân loại truyền thuyết gọn gàng hơn, chỉ gồm 3 loại: truyền thuyết nhân vật, truyền thuyết sự kiện lịch sử, truyền thuyết phong vật địa phương v.v… Ở Việt Nam vấn đề phân loại truyền thuyết cũng có khá nhiều ý kiến khác nhau. Đỗ Bình Trị căn cứ vào sự khác biệt của đối tượng được truyện kể đến và chức năng cụ thể của từng bộ phận để chia thành ba biến thể được định danh gồm: truyền thuyết địa danh, truyền thuyết phổ hệ và truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử. Tác giả Lê Chí Quế lại có cách phân loại khác khi chia truyền thuyết thành ba loại: truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết lịch sử và truyền thuyết về ác danh nhân văn hóa.

Tác giả Kiều Thu Hoạch đưa ra một cách phân loại khác. Theo ông, truyền thuyết có thể chia làm hai loại lớn: truyền thuyết nhân vật và truyền thuyết phong vật (phong tục và sản vật). Trong từng loại lại bao gồm nhiều tiểu loại. Truyền thuyết về nhân vật có thể căn cứ vào tính chất của câu chuyện mà chia thành những tiểu loại khác nhau như: truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết phản diện, truyền thuyết tôn giáo (theo nghĩa rộng).

Trong giáo trình Văn học dân gian của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội do NXB Giáo dục xuất bản năm 2012, chương truyền thuyết do Vũ Anh Tuấn chấp bút đã nhóm truyền thuyết thành hai nhóm chính: truyền thuyết danh nhân văn hóa, truyền thuyết về các nhân vật tôn giáo. Để giải quyết được yêu cầu và nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi dựa vào quan điểm và cách phân loại truyền thuyết của nhà nghiên cứu Nhật Bản Seki Keigo và nhà nghiên cứu folklore Việt Nam Kiều Thu Hoạch. Theo ý của các nhà nghiên cứu thì sự tồn tại của 9 truyền thuyết không phải chỉ để phản ánh lịch sử và tôn vinh những nhân vật anh hùng. Truyền thuyết ra đời và tồn tại còn vì những lí do tâm lí xã hội khác, nhằm phản ánh tín ngưỡng dân gian về lực lượng thần linh, ma quỷ, về thế lực có quyền năng và ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống văn hóa của con người.

Sau này trong công trình nghiên cứu về Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam, tác giả Trần Thị An đã lí giải về sự tồn tại của tiểu loại “truyền thuyết tín ngưỡng” hay “truyền thuyết tôn giáo” như sau: “Trong kho tàng truyền thuyết Việt Nam cũng như truyền thuyết thế giới, có một bộ phận truyền thuyết đang được lưu truyền, đang tiếp tục được sáng tạo, tiếp tục nảy sinh không dựa trên nhu cầu bày tỏ sự tôn vinh các biểu tượng lịch sử mà dựa trên nhu cầu tâm lý về sự sùng bái lực lượng siêu hình (mà truyện kể Việt Nam gọi là ma, quỷ, hồn…) hoặc khát vọng giải mã những bí ẩn của đời sống (sự hiện hữu của lực lượng siêu hình trong đời thực) [1,58]. Điều đó càng cho thấy mối liên hệ máu thịt giữa truyền thuyết và các hoạt động tín ngưỡng dựa trên niềm tin vào phép màu nhiệm của thế giới tâm linh. Các truyền thuyết về những nhân vật có phép lạ, có khả năng đặc biệt không cần phải là những anh hùng danh nhân, đôi khi chỉ là những hồn ma, những quỷ thần có thể mang đến vận may hoặc sự trừng phạt đối với người trần. Sự đồn đại về phép lạ của các vị thần linh khiến cho nhiều tầng lớp trong xã hội bị thu hút và hấp dẫn bởi những tin đồn đó: “Nhóm truyền thuyết lan truyền về phép lạ hiện hữu trong đời sống của cộng đồng mà mỗi người, dù ít dù nhiều, đều liên can hoặc tham dự.

Nhóm truyền thuyết này liên quan đến tín ngưỡng dân gian, đến sức mạnh của phép lạ được huyên truyền có thể mang đến vận may hoặc sự phù hộ hay trừng phạt đối với người trần mà lực lượng siêu nhiên mang tới. Tất cả những trải nghiệm đó đều được coi là “bí ẩn của đời sống tâm linh” [1,73]. Niềm tin đối với những sức mạnh thần bí đã lôi kéo được sự tham gia nhiệt thành của nhân dân vào các hoạt động tín ngưỡng như là sự lây lan của hiệu ứng đám đông. Sự ám thị của những điều kì lạ xảy ra trong cuộc sống đối với con người chính là nhu cầu giải tỏa tinh thần và khát vọng nhận được nhiều ân huệ từ thần thiêng.

Như vậy, theo quan điểm của nhà nghiên cứu Nhật Bản Seki Keigo thì truyền thuyết Phạm Nhan thuộc vào loại thứ ba - truyền thuyết tín ngưỡng. Theo cách phân loại của Kiều Thu Hoạch: truyền thuyết Phạm Nhan thuộc tiểu loại truyền thuyết về nhân vật phản diện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu hệ thống truyền thuyết Phạm Nhan của người Việt ở Bắc Bộ là một tài liệu chuyên sâu khám phá về nhân vật Phạm Nhan trong văn hóa dân gian Bắc Bộ. Tài liệu này phân tích nguồn gốc, sự phát triển và ý nghĩa của truyền thuyết Phạm Nhan, đồng thời làm rõ vai trò của nó trong đời sống tín ngưỡng và văn hóa của người dân địa phương. Độc giả sẽ hiểu sâu hơn về cách truyền thuyết này được bảo tồn và lan truyền qua các thế hệ, cũng như ảnh hưởng của nó đến các nghi lễ và lễ hội truyền thống.

Để mở rộng kiến thức về các tín ngưỡng và truyền thuyết khác trong vùng Bắc Bộ, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ Việt Nam học: Truyền thuyết về các nhân vật Tứ Bất Tử trong không gian văn hóa châu thổ Bắc Bộ, tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về các nhân vật huyền thoại khác trong văn hóa dân gian. Ngoài ra, Luận án: Những yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các khía cạnh triết học đằng sau các tín ngưỡng này. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ: Tục thờ Thánh Tam Giang ở vùng Ngã Ba Xà là một nghiên cứu thú vị về một tục thờ khác trong khu vực, giúp bạn có cái nhìn đa chiều về văn hóa tâm linh Bắc Bộ.