Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. NHÓM CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN DÂN TỘC, TÔN GIÁO VÙNG TÂY NAM BỘ Đối với công trình nghiên cứu có liên quan đến dân tộc, tôn giáo vùng Tây Nam Bộ; nghiên cứu sinh tham khảm: Sách Tôn giáo - Tín ngưỡng của các cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long [20]. Công trình dày 488 trang, gồm 7 chương; các tác giả đã trình bày được bức tranh tổng thể, với những nét cơ bản về các tộc người ở đồng bằng sông Cửu Long; cũng như về tôn giáo, tín ngưỡng của từng tộc người cụ thể. Trong chương II và III, các tác giả đề cập các vấn đề liên quan đến người Khmer ở Nam Bộ.
Đây là tài liệu góp phần rất lớn cho các nhà quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo vùng Tây Nam Bộ; hiểu hơn về đồng bào dân tộc, hiểu hơn về các tôn giáo tránh xảy ra các xung đột sắc tộc và xung đột tôn giáo như một số nước trong khu vực Đông Nam Á. Sách Miền Nam giữ vững thành đồng [38]; công trình dày 422 trang, tác giả Trần Văn Giàu đề cập đến sự ra đời của Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam; một tổ chức xã hội yêu nước có sự tham gia đầy đủ của các thành phần xã hội, trong đó có tín đồ tôn giáo. Hoạt động của tổ chức này luôn sát cánh với MTDTGPMNVN, đấu tranh chống Mỹ cứu nước với mục đích rất rõ ràng. Kết quả hoạt động được Thông tấn xã Giải phóng (03/05/1968) đánh giá rất cao; bên cạnh đó, Tạp chí Học tập (05/1968) xem sự ra đời của Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình là một biểu hiện của sự thức tỉnh của tinh thần dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhận xét: “Việc thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình là một thắng lợi to lớn của chính sách đại đoàn kết toàn dân chống Mỹ cứu nước” [38, tr. Sách Cao Triều Phát - Nghĩa khí Nam Bộ [45]. Công trình dày 245 trang, tác giả Phan Văn Hoàng giành 11 trang (136 -147) để khái quát các luan an 10 hoạt động của tổ chức yêu nước trong đạo Cao Đài qua hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ gồm: Cao Đài Cứu Quốc, Cao Đài Liên Giao I và Cao Đài Liên Giao II. Trong Hội nghị quyết định thành lập một tổ chức để lãnh đạo chức sắc và tín đồ đạo Cao Đài các hệ phái góp phần vào công cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, cụ Cao Triều Phát phát biểu: “Các Phật tử đã có Hội Phật giáo cứu quốc, các giáo dân đã có Hội Công giáo kháng chiến.
Người Cao Đài chúng ta phải thành lập Hội Cao Đài cứu quốc, vì hiện nay cứu quốc là hành đạo, hành đạo là cứu quốc” [45, tr. Sau khi thành lập và chỉ trong một gian ngắn hoạt động, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời khen: “Mười hai phái Cao Đài do cụ Cao Triều Phát lãnh đạo luôn luôn cùng đồng bào toàn quốc hăng hái kháng chiến, Tổ quốc và Chính phủ sẽ nhớ công những người con trung thành” [45, tr. Bên cạnh đó, trong đạo Cao Đài còn có tổ chức được thành lập từ năm 1991; qua bài viết Ban Qui ước các phái Cao Đài thành phố Cần Thơ - Một hình thức phát huy truyền thống yêu nước của đồng bào đạo Cao Đài trong thời kỳ đổi mới [108]. Tác giả Nguyễn Thị Ánh Ngà đã khái quát được quá trình hình thành và phát triển; đồng thời, đánh giá kết quả hoạt động của Ban Qui ước các phái Cao Đài thành phố Cần Thơ góp phần rất lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; các công trình này giúp nghiên cứu sinh nhìn nhận sự tồn tại của các tổ chức xã hội có yếu tố tôn giáo là khách quan và có tính lịch sử.
Bài viết Đặc điểm của phong trào yêu nước phi vô sản ở Nam kỳ đầu thế kỷ XX và vị trí của nó trong lịch sử phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam [18], tác giả Võ Văn Sen và Trần Nam Tiến đã phân tích các sự kiện liên quan đến phong trào chống Pháp của các Hội kín ở Nam kỳ và đưa ra nhận định: Về mặt tư tưởng, phong trào Hội kín Nam kỳ thể hiện rõ tư tưởng yêu nước qua khẩu hiệu “Phản Pháp phục Nam” và lời thề một lòng cứu nước, cứu dân của những người gia nhập hội. Yêu nước là tư tưởng chủ đạo, nó quy định mục đích và đối tượng đấu tranh của Hội kín. Tuy nhiên, ngoài tư tưởng yêu nước thì tư tưởng phong kiến cũng rất đậm nét và mang đậm tư tưởng tôn luan an 11 giáo pha lẫn ma thuật với các lễ nghi thần bí, bùa chú được sử dụng phổ biến. Pháp thuật và bùa chú đóng vai trò như một thứ “vũ khí tinh thần”; đối với những người lãnh đạo phong trào thì tư tưởng tôn giáo, ma thuật được dùng như một phương tiện để họ thực hiện mục đích cứu nước.
Riêng đối với các công trình liên quan đến dân tộc Khmer: Trước năm 1975, vấn đề dân tộc Khmer ở Nam bộ - Việt Nam được nhiều nhà nghiên cứu người Pháp như: Barrault, Francois Martine, Louis Malleret, S. Bernard Thierry…đặc biệt quan tâm nhưng họ chủ yếu nghiên cứu và đề cấp đến từng khía cạnh riêng biệt về lịch sử, mỹ thuật, kiến trúc chùa, nghi lễ tôn giáo, sinh hoạt dân gian, thơ ca dân gian. Ngoài ra, còn có các công trình“Người Việt gốc Miên” (1969) của Lê Hương và bản ghi chép “Chân lạp phong thổ ký” của Châu Đạt Quan do Lê Hương dịch (1973) đã giới thiệu cơ bản về nguồn gốc, dân số, sinh hoạt, xã hội, phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng của người Khmer Nam bộ - Việt Nam. Từ năm 1975 đến năm 1986, việc nghiên cứu liên quan đến người Khmer ở Nam bộ liên tục được chú trọng và đạt nhiều kết quả đáng quan tâm; trong đó phải kế đến tác giả Phan An, một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về cộng đồng người Khmer ở Nam bộ như: “Vài khía cạnh dân tộc học về người Khmer ở Việt Nam và Camphuchia” (1980); “Một số vấn đề kinh tế - xã hội của vùng nông thôn Khmer Đồng bằng sông Cửu Long - Vấn đề dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long” (1984); “Dân tộc Khmer trong các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam)”(1984); “Nghiên cứu người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long”(1985) …Qua các công trình nghiên cứu, tác giả đã chỉ rõ các mối quan hệ, những tương đồng và dị biệt giữa người Khmer ở Việt Nam và người Khmer ở Campuchia; đồng thời, chú trọng nghiên cứu về vấn đề dân tộc và tôn giáo của người Khmer ở Nam bộ trong quá trình cộng cư với các dân tộc người khác trong khu vực.
Trong giai đoạn này, tác giả Nguyễn Khắc Cảnh cũng có công trình nghiên cứu về Loại hình công xã của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu luan an 12 Long [25]; tác giả giới thiệu các loại hình công xã của người Khmer dưới nhiều góc độ khác nhau và xem đó là một đơn vị cư trú truyền thống của người Khmer, qua đó nghiên cứu về cấu trúc và chức năng, về những biến động trong lịch sử. Theo đó, phum là một tập hợp người Khmer dựa trên mối quan hệ huyết thống là chính, còn sóc là một tập hợp người dựa trên cùng cư trú trên một địa vực nhất định. Sóc truyền thống của người Khmer ở Nam Bộ mang tính cộng đồng của một công xã nông thôn của cư dân canh tác lúa nước ở vùng châu thổ sông Cửu Long. Việc nghiên cứu loại hình công xã của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long cho thấy rõ hơn những đặc điểm về tổ chức xã hội truyền thống của người Khmer.
Sau năm 1986, những công trình nghiên cứu của người nước ngoài về dân tộc Khmer ở Nam bộ rất hạn chế nhưng công trình của các tác giả ở trong nước thì đa dạng và phong phú; trong đó, phải kể đến sách Quá trình phát triển dân cư và dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long từ Thế kỷ thứ XV đến thế kỷ thứ XIX; sau đó là Vấn đề dân cư và dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long (Vấn đề dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long) [32]. Tác giả Mạc Đường đã khái quát quá trình hình thành các tộc người Việt, Khmer, Hoa và Chăm; đồng thời, làm rõ đặc điểm các cộng đồng tộc người này ở đồng bằng sông Cửu Long nhằm làm cơ sở nghiên cứu những đặc trưng riêng của từng tộc người, của các cộng đồng dân cư trong vùng sinh thái nhân văn cụ thể. Ngoài ra, còn có nhiều công trình của các tác giả: Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Đinh Văn Liên, Phan Thị Yến Tuyết, Lâm Văn Tòng, Nguyễn Xuân Nghĩa, Đỗ Khắc Tùng, Thạch Voi, Huỳnh Ngọc Trảng, Sorya, Văn Công Chí, Văn Xuân Chí, Hoàng Túc, Đặng Vũ Thị Thảo… Đặc biệt, trong thời gian gần đây, tác giả Nguyễn Thuận Quý có công trình nghiên cứu về Quan hệ tộc người của người Khmer ở hai bên biên giới Việt Nam - Campuchia (khu vực Tây Nam Bộ) [87], công trình dày 145 trang đã phân tích sâu mối quan hệ tộc người của người Khmer khu vực biên giới Tây Nam Bộ được biểu hiện trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa thông luan an 13 qua những trục quan hệ: Với Quốc gia - Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; với các tộc người cận cư (tộc người đa số và các tộc người thiểu số khác); với người đồng tộc (nội tộc và xuyên biên giới). Đồng thời, tác giả phân tích ý thức và hành động của người Khmer đối với quốc gia - Tổ quốc Việt Nam như: Việc chấp hành tốt chính sách, chủ trương, pháp luật của Đảng và Nhà nước; có ý thức là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thực hiện nghĩa vụ của công dân…Việc phân tích các mối quan hệ dân tộc và tộc người khu vực biên giới Tây Nam Bộ; tác giả nhận định có xu hướng cố kết, đoàn kết sâu sắc nhưng mối quan hệ này ít nhiều còn chịu ảnh hưởng từ quốc gia láng giềng và một số nước lớn chi phối.
Quá trình cộng cư của các tộc người ở khu vực biên giới Tây Nam Bộ đã giúp các tộc người có sự giao thoa văn hóa vật chất và tinh thần, là sợi dây liên kết giúp các tộc người xích lại gần nhau, siết chặt tình đoàn kết giữa các tộc người cùng cư trú ở vùng biên cương.