Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học với đề tài "Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ", mã số 9229009 (mã số cũ: 62220309), do nghiên cứu sinh Bạch Thanh Sang thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2020 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS Lê Văn Lợi.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước (ĐKSSYN) khu Tây Nam Bộ được thành lập năm 1964 dưới sự lãnh đạo của Khu ủy Tây Nam Bộ, hoạt động với tư cách là tổ chức thành viên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam nhằm tập hợp Tăng sĩ và Phật tử Khmer tham gia kháng chiến. Sau năm 1975, theo Nghị quyết số 247-NQ/TW ngày 29/9/1975 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về việc giải thể Trung ương Cục miền Nam và các Khu ủy, Hội ĐKSSYN khu Tây Nam Bộ kết thúc nhiệm vụ lịch sử. Tuy nhiên, do yêu cầu thực tiễn, tổ chức này vẫn tiếp tục duy trì hoạt động tại một số địa phương và đại diện cho Phật giáo Nam tông Khmer (PGNTK) tham gia thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) năm 1981. Đến ngày 18/4/1991, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) ban hành Chỉ thị số 68-CT/TW chủ trương lập Hội ĐKSSYN hoặc các hình thức tổ chức thích hợp.

Tính đến thời điểm nghiên cứu, có 8/13 tỉnh, thành phố vùng Tây Nam Bộ có chùa PGNTK đã củng cố, kiện toàn Hội ĐKSSYN. Tuy nhiên, thực tiễn nảy sinh nhiều vấn đề: chưa có sự thống nhất chung về Điều lệ và Quy chế hoạt động; cơ cấu tổ chức mỗi nơi một khác; xuất hiện tình trạng chồng chéo, lấn sân trong hoạt động giữa Ban Trị sự Phật giáo (BTSPG) và Hội ĐKSSYN cùng cấp, làm giảm sút vai trò của BTSPG và đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý nhà nước về tôn giáo. Mặt khác, các nghiên cứu trước đây chưa đi sâu phân tích toàn diện, có hệ thống về mô hình tổ chức "vừa có yếu tố dân tộc, vừa có yếu tố tôn giáo" này. Do đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và xác định giải pháp phát huy vai trò của Hội ĐKSSYN là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là phân tích quá trình hình thành, phát triển, tính chất và thực trạng hoạt động của Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ; trên cơ sở đó đề xuất các quan điểm, giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy vai trò tích cực của Hội trong đời sống xã hội.

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận, phương pháp và lý thuyết nghiên cứu để vận dụng phân tích, luận giải, đánh giá vai trò của Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ.
  • Hai là, nghiên cứu sự hình thành và phát triển; tính chất, chức năng và nhiệm vụ của Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ trong quá trình lịch sử.
  • Ba là, nghiên cứu thực trạng hoạt động của Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ và những vấn đề đặt ra hiện nay.
  • Bốn là, đưa ra các quan điểm, đề xuất những giải pháp cơ bản và kiến nghị nhằm phát huy vai trò tích cực của Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ thời gian tới.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  • Một là, Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ có vị trí, vai trò như thế nào và hiện nay, tổ chức này có cần thiết tồn tại hay không?
  • Hai là, nếu Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ tiếp tục tồn tại thì cần giải quyết những vấn đề tồn tại gì?
  • Ba là, cần những quan điểm và giải pháp gì để Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ tiếp tục phát huy vai trò tích cực trong đời sống xã hội?

Tương ứng với 3 câu hỏi là 3 giả thuyết nghiên cứu:

  • Một là, trải qua quá trình phát triển gắn bó và đồng hành cùng dân tộc, Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ đã có những đóng góp tích cực cho khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Sự tồn tại của Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ hiện nay là cần thiết.
  • Hai là, cơ cấu tổ chức, hoạt động của Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ dần ổn định và đi vào nề nếp, nhưng việc phát huy vai trò trong đời sống xã hội vẫn còn những hạn chế nhất định.
  • Ba là, để tiếp tục phát huy hơn nữa vai trò tích cực của Hội ĐKSSYN, các cấp ủy Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và GHPGVN cần thống nhất quan điểm và tiến hành đồng bộ các giải pháp về lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tổ chức bộ máy, cơ chế, chính sách, đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với thực tiễn vùng Tây Nam Bộ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ.
  • Phạm vi không gian: 8 tỉnh, thành phố vùng Tây Nam Bộ đã thành lập Hội ĐKSSYN, bao gồm: Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và Hậu Giang.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1991 đến năm 2019 (tính từ thời điểm Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 68-CT/TW ngày 18/4/1991 đến thời điểm hoàn thành dữ liệu luận án).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và hệ thống hóa các tài liệu liên quan thành 3 nhóm công trình chính:

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về dân tộc, tôn giáo vùng Tây Nam Bộ

Tác giả điểm lại các công trình như Tôn giáo - Tín ngưỡng của các cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long (công trình dày 488 trang); tác phẩm Miền Nam giữ vững thành đồng (422 trang) của Trần Văn Giàu phân tích vai trò của Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam; tác phẩm Cao Triều Phát - Nghĩa khí Nam Bộ (245 trang) của Phan Văn Hoàng nghiên cứu về Cao Đài Cứu Quốc và Cao Đài Liên Giao; bài viết của Nguyễn Thị Ánh Ngà (1991) về Ban Qui ước các phái Cao Đài thành phố Cần Thơ; nghiên cứu của Võ Văn Sen và Trần Nam Tiến về phong trào Hội kín Nam Kỳ đầu thế kỷ XX.

Về nghiên cứu tộc người Khmer, trước năm 1975 có các khảo cứu của học giả Pháp như Barrault, Francois Martine, Louis Malleret, S. Bernard Thierry, cùng các ấn phẩm Người Việt gốc Miên (1969) của Lê Hương và bản dịch Chân lạp phong thổ ký của Châu Đạt Quan (1973). Giai đoạn 1975-1986 có các công trình của Phan An (1980, 1984, 1985) và nghiên cứu của Nguyễn Khắc Cảnh về loại hình công xã phum, sóc. Sau năm 1986, Mạc Đường công bố các công trình về dân cư và dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long; cùng các nghiên cứu của Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Đinh Văn Liên, Phan Thị Yến Tuyết, Lâm Văn Tòng, Huỳnh Ngọc Trảng, và công trình 145 trang của Nguyễn Thuận Quý về quan hệ tộc người của người Khmer khu vực biên giới Tây Nam Bộ.

Nhóm 2: Các công trình chuyên sâu về Phật giáo Nam tông Khmer

Tác giả khảo sát công trình Phật giáo Khmer Nam bộ (Những vấn đề nhìn lại) của Nguyễn Mạnh Cường; luận văn của Danh Út về biến đổi trong đời sống văn hóa của tu sĩ PGNTK tỉnh Kiên Giang (phân tích các thiết chế Wên, Ban Quản trị chùa, Hội Mêkon, Hội ĐKSSYN); luận văn của Kiên Ngọc Khánh về công tác vận động sư sãi PGNTK tại tỉnh Trà Vinh; bài viết của Nguyễn Xuân Nghĩa và Phan An trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (số 5/2003) về chức năng xã hội và vai trò của chùa, sư sãi Khmer.

Nhóm 3: Các công trình liên quan đến tổ chức Phật giáo và Hội ĐKSSYN

Bao gồm sách Phật giáo sử (464 trang) đề cập Hội Chúng cư sĩ và Hội Phật giáo Đại Bồ Đề; công trình của Dương Thanh Mừng về Hội Phật học Nam Việt và Hội Tăng già Nam Việt giai đoạn 1951-1954; cuốn sách Maha Sơn Thông - cách mạng là sự nghiệp cả cuộc đời (88 trang) xác nhận Maha Sơn Thông là người đề xuất lập Hội ĐKSSYN năm 1964 và cố Hòa thượng Thạch Som làm Hội trưởng; công trình của Trần Hồng Liên trích bài tham luận của Hòa thượng Dương Nhơn năm 1981; đề tài cấp bộ Vai trò của chùa Khmer đối với đời sống văn hóa của đồng bào Khmer Nam Bộ (64 trang); đề tài cấp bộ Truyền thống đấu tranh cách mạng của đồng bào Khmer Nam bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1939-1975) (112 trang).

Bên cạnh đó, nguồn tư liệu thực tiễn gồm có báo cáo chuyên đề theo Kế hoạch số 26-KH/BDVTW ngày 20/5/2013 của Ban Dân vận Trung ương tại các tỉnh Cần Thơ, An Giang, Bạc Liêu, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cà Mau; kỷ yếu tọa đàm ngày 20/5/2014 tại Cần Thơ; kỷ yếu đề tài nhánh dày 389 trang do PGS.TS Hoàng Minh Đô chủ nhiệm; các bài viết của Nguyễn Hồng Dương (2013, 2014); luận văn của Thạch Thanh Tùng về Hội ĐKSSYN tỉnh Sóc Trăng; và bài viết đã công bố của chính tác giả Bạch Thanh Sang.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận vấn đề dân tộc, tôn giáo ở góc độ diện rộng, lịch sử kháng chiến hoặc văn hóa dân gian; chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu toàn diện, độc lập và chuyên sâu về Hội ĐKSSYN từ bối cảnh lịch sử, quá trình hình thành, tính chất, cơ cấu tổ chức, thực trạng hoạt động đến các mối quan hệ phối hợp và sự chồng chéo với Ban Trị sự Phật giáo cấp tỉnh. Luận án giải quyết khoảng trống này nhằm cung cấp luận cứ khoa học khẳng định sự cần thiết tồn tại và đề xuất giải pháp kiện toàn tổ chức Hội.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và các lý thuyết nghiên cứu

  • Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết lương - giáo và các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác dân tộc, tôn giáo và hội quần chúng.
  • Lý thuyết cấu trúc - chức năng: Vận dụng quan điểm của A. Radcliffe-Brown, B. Malinowski, Talcott Parsons, Robert K. Merton (thông qua tổng thuật của Phạm Minh Anh, 2002), nhìn nhận xã hội là một hệ thống gồm các tiểu hệ thống liên kết chặt chẽ. Tôn giáo và tổ chức xã hội tôn giáo đóng vai trò tiểu hệ thống thực hiện chức năng liên kết, đoàn kết cộng đồng. Lý thuyết này được dùng để giải thích tính tất yếu, khách quan của Hội ĐKSSYN và phân tích sự cân bằng chức năng, phi chức năng trong hoạt động của Hội.
  • Lý thuyết thế tục hóa: Xuất phát từ bối cảnh châu Âu sau Hòa ước Westphalia (1648), thế tục hóa phản ánh tiến trình chuyên môn hóa, duy lý hóa và nhập thế của tôn giáo. Luận án vận dụng lý thuyết này để luận giải hiện tượng suy giảm số lượng Tăng sĩ Khmer, xu hướng chuyển đổi niềm tin trong xã hội hiện đại và yêu cầu nhập thế phụng sự xã hội của PGNTK.
  • Lý thuyết mâu thuẫn (thuyết xung đột): Dựa trên nền tảng của C. Mác và F. Ăng-ghen, cùng phân tích của Đỗ Quang Hưng (2003) và luận đề của Samuel Huntington về xung đột văn hóa - tôn giáo. Lý thuyết này được vận dụng để phân tích những mâu thuẫn, cạnh tranh nguồn lực, sự chồng chéo quyền hạn giữa Hội ĐKSSYN và BTSPG, từ đó xác lập cơ chế quản trị và giải tỏa xung đột trong tổ chức.

Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp 6 cách tiếp cận: tiếp cận tôn giáo học, tiếp cận hệ thống, tiếp cận chính trị học, tiếp cận lịch sử, tiếp cận dân tộc học và tiếp cận vùng (gắn với đặc thù tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng Tây Nam Bộ).

Phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử (nghiên cứu tài liệu thứ cấp, văn bản lưu trữ, tiến trình lịch sử).
  • Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích SWOT, điều tra xã hội học và tổng kết thực tiễn (đánh giá cơ cấu, quy mô tổ chức, so sánh hoạt động giữa 8 tỉnh, thành phố).
  • Phương pháp dự báo (dự báo các xu hướng biến đổi tác động đến Hội).
  • Phương pháp chuyên gia và tọa đàm khoa học.

Nguồn dữ liệu

Dữ liệu sử dụng trong luận án bao gồm các văn kiện của Đảng (Chỉ thị 117/CT-TW, Chỉ thị 68-CT/TW, Thông tri 136/TT-TW, Nghị quyết 247-NQ/TW); báo cáo khảo sát thực tế theo Kế hoạch 26-KH/BDVTW của Ban Dân vận Trung ương tại 9 tỉnh, thành phố Tây Nam Bộ; số liệu thống kê của GHPGVN, Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và kết quả điều tra thực tế tại các địa phương.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chương 1 hệ thống hóa 3 nhóm công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến dân tộc Khmer, PGNTK và các tổ chức hội đoàn tôn giáo; chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu; xác lập hệ thống 3 câu hỏi nghiên cứu, 3 giả thuyết khoa học; trình bày 3 khung lý thuyết (cấu trúc - chức năng, thế tục hóa, mâu thuẫn); và thống nhất định nghĩa các thuật ngữ sử dụng trong luận án như: "Hội", "Dân tộc Khmer", "Phật giáo Nam tông", "Phật giáo Nam tông Khmer", "Sư sãi" (thống nhất dùng thuật ngữ "Tăng sĩ"), "Vùng", và "Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ".

Chương 2: Quá trình hình thành, phát triển và tính chất, chức năng, nhiệm vụ của Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ

Chương này khái quát lịch sử du nhập của PGNTK từ thế kỷ thứ II qua đường biển vào Vương quốc Phù Nam, gắn liền với di chỉ văn hóa Óc Eo do Louis Malleret khai quật năm 1944. Đến thế kỷ IV, dấu ấn PGNT thể hiện qua việc xây dựng chùa Som Bua Răng Sây (Trà Vinh, năm 373). Từ thế kỷ VII, hàng loạt chùa được xây dựng như Kos Keo Sế Rây (613), Knông Sróc (641), Somrong Ek (642), Compong (642) tại Trà Vinh và Hạnh Phúc Tăng (632) tại Vĩnh Long. Đến năm 1970, toàn Nam Bộ có 402 chùa Khmer.

Về giáo lý và giới luật, PGNTK sử dụng Tam Tạng kinh bằng tiếng Pali (Kinh tạng, Luật tạng, Luận tạng), lấy Tứ diệu đế, Vô ngã, Vô thường, Duyên khởi làm cốt lõi. Giới luật quy định: Tăng sĩ bậc Sa di giữ 105 giới (gồm 30 điều học và 75 điều Ưng học pháp); Tăng sĩ bậc Tỳ khưu giữ 227 giới. Trong chùa không có tu sĩ nữ; Tăng sĩ không ăn chay, chỉ dùng bữa trước giờ Ngọ. Các lễ nghi truyền thống gồm Chôl Chnăm Thmây (13-15/4 dương lịch), Sene Đôn Ta (30/8 âm lịch), Lễ Dâng Y/Kathina (tháng 9-10 âm lịch), và Ok Om Bok (15/10 âm lịch).

Về cơ cấu hệ phái, PGNTK gồm 2 chi phái: Mahanikaya (chiếm tuyệt đại đa số) và Dhammayutta (do Preah Saukonn lập năm 1864 từ Thái Lan truyền sang Campuchia rồi vào Việt Nam, hiện có 19 chùa ở An Giang), cùng giáo phái Theravada Cư sĩ do Sơn Thái Nguyên thành lập năm 1963. Trước năm 1975, hệ thống quản trị gồm Hội đồng kỷ luật sư sãi 2 cấp: cấp tỉnh do Mêkon đứng đầu, cấp huyện do Anuskon đứng đầu.

Từ năm 1981, Hội ĐKSSYN đại diện cho PGNTK tham gia là 1 trong 9 tổ chức thành viên sáng lập GHPGVN. Cả nước có 463 chùa Khmer với khoảng 8.000 Tăng sĩ và 1.097.000 Phật tử.

Tỉnh / Thành phố Số lượng chùa Khmer Số lượng Tăng sĩ (vị)
Trà Vinh 143 3.255
Sóc Trăng 92 1.873
Kiên Giang 75 1.010
An Giang 66 (19 chùa Thommayutt) 1.100
Bạc Liêu 22 292
Hậu Giang 15 70
Vĩnh Long 13 219
Cần Thơ 12 128
Cà Mau 07 32
Các địa phương khác (TP.HCM, Đồng Nai, BR-VT, Bình Phước, Tây Ninh, Hà Nội) 18 Đang cập nhật
Tổng cộng cả nước 463 ~8.000

(Ghi chú: Trong tổng số khoảng 8.000 Tăng sĩ Khmer, có 60 vị Hòa thượng, 127 vị Thượng tọa, 1.355 vị Đại đức và 6.427 Sa di; có 8.644 thành viên Ban Quản trị tại 445/463 chùa).

Về giáo dục và truyền thông: Học viện Phật giáo Nam tông Khmer thành lập năm 2006 tại Cần Thơ, đào tạo 3 khóa tốt nghiệp với 98 Cử nhân Phật học, khóa IV-V có 31 Tăng sinh; liên kết với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) đào tạo chuyên ngành Tôn giáo học cho 76 học viên. Các cơ quan chức năng đã hỗ trợ nhập 473 bộ Đại Tạng Kinh chữ Khmer, in ấn 82 đầu kinh sách với trên 200.000 bản.

Về quá trình hình thành Hội: Năm 1964, do yêu cầu tập hợp lực lượng chống chính quyền Sài Gòn, Khu ủy Tây Nam Bộ thành lập Hội ĐKSSYN khu Tây Nam Bộ do cố Hòa thượng Thạch Som làm Hội trưởng. Hội mang tính chất vừa là tổ chức chính trị, vừa là tổ chức xã hội của giới Tăng sĩ và Phật tử Khmer, đóng vai trò thành viên Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Sau năm 1975, dù Khu ủy giải thể, Hội vẫn duy trì ở cơ sở và được tái lập theo Chỉ thị 68-CT/TW năm 1991.

Chương 3: Thực trạng Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ và vấn đề đặt ra hiện nay

Chương 3 khảo sát thực trạng tổ chức bộ máy và hoạt động của Hội tại 8 tỉnh, thành phố Tây Nam Bộ:

  • Về tổ chức: Hội được thành lập ở cấp tỉnh và cấp huyện/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh. Hầu hết các vị lãnh đạo chủ chốt của Hội ĐKSSYN đồng thời giữ các cương vị lãnh đạo trong Ban Trị sự GHPGVN cấp tỉnh (như Hòa thượng Thạch Sok Xane tại Trà Vinh, Hòa thượng Đào Như tại Cần Thơ, Hòa thượng Tăng Nô tại Sóc Trăng, Hòa thượng Danh Đổng tại Kiên Giang).
  • Ưu điểm: Hội đã phát huy vai trò vận động Tăng sĩ, Phật tử chấp hành chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc (dạy chữ Khmer, bảo tồn lễ hội, dàn nhạc Ngũ âm, đua Ghe Ngo); tham gia các hoạt động từ thiện xã hội, giữ vững an ninh trật tự phum sóc.
  • Hạn chế và nguyên nhân: Thiếu một bản Điều lệ và Quy chế hoạt động thống nhất chung cho toàn vùng; cơ chế vận hành phụ thuộc vào từng địa phương; kinh phí và điều kiện cơ sở vật chất còn khó khăn.
  • Vấn đề đặt ra: Xuất hiện sự chồng chéo về chức năng, thẩm quyền giữa Ban Trị sự Phật giáo và Hội ĐKSSYN cùng cấp trong việc giải quyết các vụ việc Tăng sự, bổ nhiệm trụ trì, quản lý cơ sở thờ tự. Việc này gây lúng túng cho công tác quản lý nhà nước về tôn giáo và tiềm ẩn nguy cơ mâu thuẫn nội bộ nếu không được phân định rõ ràng.

Chương 4: Quan điểm, giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy vai trò tích cực của Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ

Chương 4 dự báo 4 xu hướng tác động đến Hội: tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và thế tục hóa; sự suy giảm số lượng người xuất gia; sự biến động dân cư, lao động trẻ Khmer di chuyển về các khu công nghiệp; và hoạt động tuyên truyền, lôi kéo của các tổ chức lưu vong bên ngoài.

Từ đó, luận án đề xuất các nhóm giải pháp cơ bản:

  1. Thống nhất nhận thức và hoàn thiện cơ sở pháp lý, xây dựng bản Điều lệ và Quy chế hoạt động mẫu thống nhất cho Hội ĐKSSYN các tỉnh vùng Tây Nam Bộ.
  2. Phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ giữa Hội ĐKSSYN (tổ chức xã hội - tôn giáo, thành viên Mặt trận Tổ quốc) và Ban Trị sự Phật giáo cấp tỉnh (cơ quan hành chính giáo hội của GHPGVN) để tránh tình trạng lấn sân, chồng chéo.
  3. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội theo hướng bám sát đời sống phum sóc, đáp ứng nhu cầu văn hóa, tâm linh, giáo dục của đồng bào Khmer.
  4. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước và tiếng Pali - Khmer cho đội ngũ cán bộ Hội và Tăng sĩ trẻ.
  5. Bảo đảm các điều kiện về kinh phí hoạt động, trụ sở làm việc, hỗ trợ in ấn kinh sách, tài liệu giảng dạy và duy trì các trường lớp bổ túc văn hóa, chữ viết Khmer trong chùa.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận giải có hệ thống tiến trình lịch sử của Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ qua các giai đoạn: thành lập (1964) - giải thể cấp khu (1975) - duy trì tồn tại khách quan - củng cố, kiện toàn theo Chỉ thị 68-CT/TW (1991 đến nay).
  • Làm sáng tỏ tính chất đặc thù "vừa có yếu tố dân tộc, vừa có yếu tố tôn giáo", xác lập khung phân tích xã hội học và tôn giáo học (cấu trúc - chức năng, thế tục hóa, xung đột) để giải thích vị trí của tổ chức hội quần chúng tôn giáo trong hệ thống chính trị Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp nguồn cứ liệu thực tế, số liệu thống kê về chùa, Tăng sĩ, cơ cấu tổ chức và thực trạng hoạt động của Hội tại 8 tỉnh, thành phố vùng Tây Nam Bộ.
  • Khẳng định tính tất yếu và sự cần thiết tiếp tục duy trì tổ chức Hội ĐKSSYN trong tình hình hiện nay nhằm củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
  • Chỉ rõ thực trạng chồng chéo chức năng giữa Hội ĐKSSYN và Ban Trị sự Phật giáo cấp tỉnh; đề xuất mô hình phân định nhiệm vụ và quy chế phối hợp cụ thể.

Kiến nghị cụ thể

  • Kiến nghị Ban Bí thư, Ban Dân vận Trung ương và Ban Tôn giáo Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất Điều lệ, Quy chế tổ chức hoạt động của Hội ĐKSSYN trên toàn vùng.
  • Kiến nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và UBND các tỉnh Tây Nam Bộ bố trí ngân sách, hỗ trợ phụ cấp và phương tiện làm việc cho cán bộ Hội các cấp.
  • Kiến nghị Hội đồng Trị sự GHPGVN hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Ban Trị sự Phật giáo cấp tỉnh với Hội ĐKSSYN trong việc quản lý Tăng sự và tự viện PGNTK.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ tập trung khảo sát thực địa tại 8 tỉnh, thành phố vùng Tây Nam Bộ đã thành lập Hội ĐKSSYN; chưa đi sâu khảo sát so sánh với các địa phương có chùa PGNTK nhưng chưa thành lập Hội (như tỉnh An Giang với 66 chùa, hay các tỉnh miền Đông Nam Bộ như Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai). Khung dữ liệu thực tiễn dừng lại ở mốc năm 2019.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả thực tế sau khi áp dụng Quy chế hoạt động thống nhất giữa Hội ĐKSSYN và BTSPG; nghiên cứu so sánh mô hình tổ chức của PGNTK vùng Tây Nam Bộ với các tổ chức Phật giáo Theravada tại các quốc gia láng giềng trong khu vực Đông Nam Á trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan làm công tác chính trị - xã hội: Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Dân vận Trung ương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cấp ủy và chính quyền các tỉnh Tây Nam Bộ trong việc hoạch định chính sách dân tộc, tôn giáo và hoàn thiện mô hình hội quần chúng.
  • Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Hội ĐKSSYN các tỉnh: Tham khảo để hoàn thiện quy chế làm việc, phân công trách nhiệm Tăng sự, hạn chế xung đột thẩm quyền nội bộ.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Chuyên ngành Tôn giáo học, Dân tộc học, Lịch sử Đảng, Chính trị học và Văn hóa học khi nghiên cứu về Phật giáo Nam tông Khmer, lịch sử phong trào yêu nước vùng Tây Nam Bộ và cấu trúc xã hội phum sóc.
  • Nội dung giá trị nhất: Hệ thống hóa lịch sử hình thành tổ chức Hội từ 1964 đến 2019; bảng số liệu thống kê Tăng sĩ, chùa chiền; và chương phân tích thực trạng chồng chéo chức năng cùng hệ thống giải pháp phân định thẩm quyền.

Câu hỏi thường gặp

1. Ai là người khởi xướng thành lập Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước khu Tây Nam Bộ vào năm 1964?
Maha Sơn Thông là người đề xuất việc thành lập Hội ĐKSSYN với Khu ủy Tây Nam Bộ và được Ban Thường vụ Khu ủy nhất trí tán thành. Năm 1964, Hội chính thức được thành lập, do cố Hòa thượng Thạch Som (ở chùa Ô Mịch) được suy cử làm Hội trưởng, hoạt động với tư cách là tổ chức thành viên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam.

2. Tại sao sau năm 1975, khi Khu ủy Tây Nam Bộ giải thể, Hội ĐKSSYN vẫn tiếp tục duy trì hoạt động tại một số địa phương?
Mặc dù Nghị quyết số 247-NQ/TW ngày 29/9/1975 quyết định giải thể Khu ủy Tây Nam Bộ và các tổ chức trực thuộc, nhưng do nhu cầu khách quan trong việc duy trì sinh hoạt tôn giáo, giải quyết các vấn đề xã hội của cộng đồng Khmer sau chiến tranh và bảo tồn văn hóa chùa tháp, tổ chức Hội tại một số địa phương vẫn tiếp tục hoạt động. Đến năm 1981, tổ chức này đại diện cho PGNTK tham gia sáng lập GHPGVN, và đến năm 1991 được Ban Bí thư Trung ương Đảng chính thức cho chủ trương củng cố, kiện toàn theo Chỉ thị 68-CT/TW.

3. Sự chồng chéo giữa Hội ĐKSSYN và Ban Trị sự Phật giáo cấp tỉnh biểu hiện như thế nào?
Do chưa có Điều lệ và Quy chế hoạt động thống nhất chung, ranh giới thẩm quyền giữa hai tổ chức chưa được phân định rõ. Cả hai bên đều có chức năng liên quan đến việc quản lý Tăng sĩ, bổ nhiệm Trụ trì, cấp phát giấy tờ Tăng sự, quản lý chùa chiền và tổ chức lễ hội, dẫn đến tình trạng lấn sân, giảm sút vai trò của BTSPG và gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước về tôn giáo tại địa phương.

4. Quy mô của hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer vùng Tây Nam Bộ được thống kê trong luận án ra sao?
Cả nước có 463 chùa Khmer (tập trung chủ yếu ở Tây Nam Bộ với Trà Vinh 143 chùa, Sóc Trăng 92 chùa, Kiên Giang 75 chùa, An Giang 66 chùa...). Tổng số Tăng sĩ Khmer dao động hàng năm khoảng 8.000 vị (trong đó có 60 Hòa thượng, 127 Thượng tọa, 1.355 Đại đức và 6.427 Sa di); tín đồ Phật tử Khmer có khoảng 1.097.000 người cùng 8.644 thành viên Ban Quản trị tại 445 chùa.

5. Học viện Phật giáo Nam tông Khmer được thành lập khi nào và kết quả đào tạo ban đầu ra sao?
Học viện Phật giáo Nam tông Khmer được thành lập năm 2006 tại thành phố Cần Thơ. Đến thời điểm nghiên cứu, Học viện đã đào tạo được 3 khóa với 98 Tăng sinh tốt nghiệp Cử nhân Phật học, đang đào tạo khóa IV và V với 31 Tăng sinh; đồng thời liên kết với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) đào tạo chuyên ngành Tôn giáo học cho 76 học viên.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ" của tác giả Bạch Thanh Sang là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Tôn giáo học, phân tích toàn diện lịch sử hình thành, tính chất, cơ cấu và thực trạng hoạt động của Hội ĐKSSYN từ năm 1964 đến năm 2019. Bằng việc vận dụng các lý thuyết cấu trúc - chức năng, thế tục hóa và mâu thuẫn, luận án đã cung cấp các luận cứ khoa học khẳng định sự cần thiết tồn tại khách quan của Hội trong cộng đồng người Khmer vùng Tây Nam Bộ. Đồng thời, tác giả đã chỉ rõ những bất cập về sự chồng chéo chức năng giữa Hội và Ban Trị sự Phật giáo cấp tỉnh, từ đó đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp và kiến nghị đồng bộ nhằm kiện toàn tổ chức, hoàn thiện quy chế hoạt động, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về dân tộc, tôn giáo trong giai đoạn hiện nay.