mở đầu cho nền Thiền học mang bản sắc Việt Nam. “Thiền phái Trúc Lâm chủ trương niệm Phật, thụ giới, tọa Thiền. Ngồi Thiền để tĩnh tâm, ngăn ác hướng thiện. Niệm Phật là cách tự giáo dục, tự điều chế để miệng và tâm thanh tịnh.
Thụ giới là cách răn giữ bản thân theo giới luật để thân trong sạch và không làm điều ác”[48; tr. Đây chính là biểu hiện nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm. Chính điều này đã tạo nên một nhân sinh quan “gần gũi với đời, trở về với cuộc sống trần 13 z thế”[48; tr.101] mà Thiền phái này đã tạo dựng – nó chính là biểu hiện cho tinh thần và bản sắc Đại Việt. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử truyền qua ba đời, Sơ tổ Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Nhị Tổ Pháp Loa và Tam Tổ Huyền Quang.
Có lẽ vì nhà Trần mất ngôi nên sau 3 đời truyền thừa thì thiền phái này không còn thư tịch nào ghi rõ về sự truyền thừa nữa. Mặc dù vậy tư tưởng thiền phái này lại ảnh hưởng rất lớn trong đời sống văn hóa xã hội và để lại nhiều dấu ấn. Phật giáo dưới thời Lý Trần được xem là Quốc giáo, có ảnh hưởng toàn diện trong đời sống xã hội lúc bấy giờ. Thiền phái thứ năm là thiền phái Tào Động do thiền sư Động Sơn Lương Giới và Tào Sơn Bản Tịch sáng lập tại Trung Quốc.
Thiền phái này truyền vào Việt Nam vào thế kỷ thứ XVII do thiền sư Thông Giác Thủy Nguyệt truyền ở Đàng Ngoài và thiền sư Thạch Liêm Thích Đại Sán truyền ở Đàng Trong. Thiền phái thứ sáu là thiền phái Lâm Tế. Thiền phái này xuất phát từ Trung Quốc do thiền sư Lâm Tế sáng lập. Vào thế kỷ XVII, đệ tử đời thứ 33 của thiền phái này là thiền sư Nguyên Thiều đã sang du hóa tại Đàng Trong.
Phật giáo Đàng Trong được sự ủng hộ nhiệt tình của chúa Nguyễn đã phát triển rực rỡ. Từ dòng thiền này lại xuất phát thành hai dòng thiền khác là dòng thiền Lâm Tế Liễu Quán và dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh. Trong đó, thiền phái Lâm Tế Liễu Quán do thiền sư Liễu Quán người Phú Yên sáng lập là dòng thiền thuần Việt thứ 2 của Phật giáo Việt Nam. Phật giáo ngay từ khi du nhập vào Việt Nam đã nhanh chóng được chấp nhận và bám rễ sâu vào đời sống văn hóa của dân tộc.
Phật giáo ngay từ đầu đã thực hiện lý tưởng đồng hành cùng dân tộc, tạo nên bản sắc văn hóa sâu đậm để từ đó cố kết nhân tâm thành sức mạnh vững vàng, chống lại ngoại xâm, xây dựng đất nước. Phật giáo trở thành lối sống, nếp nghĩ của dân tộc Việt. Phật giáo ứ Hu - quá tr nh du nhập và những đặc điểm 1. Từ Ô Châu Ô Rí đến Thuận Hóa-Phú Xuân- Huế Huế là địa danh thuộc miền Trung Việt Nam.
Có nhiều tài liệu giải thích tên Huế khác nhau. Trang Wikipedia đã tổng hợp lại như sau: “Vua Lê Thánh Tông có lẽ là người đầu tiên nói đến địa danh Huế trong bài văn nôm Thập giới cô hồn quốc ngữ văn. Trong đó có câu: "Hương kỳ nam, vảy đồi mồi, búi an tức, bì hồ tiêu, thau Lào, thóc Huế, thuyền tám tầm chở đã vạy then". Những tài liệu sử học cũ ngoại trừ Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu khi nói tới Huế, đều dùng cái tên Phú Xuân hoặc Kinh đô, hoặc Kinh, chứ không dùng tên Huế.
Bộ Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim là bộ sử đầu tiên của Việt Nam viết bằng chữ quốc ngữ, ngoài nguồn sử liệu truyền thống, tác giả đã sử dụng nguồn sử liệu của phương Tây, và tên Huế xuất hiện.Trong hồi ký của Pierre Poivre, một thương nhân Pháp đến Phú Xuân vào năm 1749, cái tên Huế xuất hiện nhiều lần dưới dạng hoàn chỉnh là Hué.Năm 1787, Le Floch de la Carrière đã vẽ bản đồ duyên hải Đàng Trong cho Bộ Hải Quân Pháp, trong đó bản đồ đô thành Huế được vẽ một cách khá rõ và cái tên Huế đã được ghi như cách người Pháp thường viết về sau: HUÉ.Trong một lá thư viết tại Sài Gòn ngày 15 tháng 7 năm 1789 của Olivvier de Puynamel gởi cho Létodal ở Macao, hai lần cái tên Hué được nhắc đến khi nói về tình hình nơi này”. Đa số người dân Huế cho rằng từ Huế là đọc từ chữ Hóa trong từ Thuận Hóa, bởi Huế trước đây là vùng đất có tên là Thuận Hóa. Vào năm 1306, vua Chiêm dâng hai châu Ô, Lý cho Đại Việt để cưới công chúa Huyền Trân. Từ đó châu Ô châu Lý thuộc về người Việt và được đặt lại tên là Thuận Châu và Hóa Châu.
Năm 1558, Nguyễn Hoàng xin chính quyền Lê Trịnh vào trấn nhậm xứ Thuận Hóa, thực hiện công cuộc khai hoang, lập làng lập ấp. Chúa Nguyễn chọn Phú Xuân làm kinh đô Đàng Trong, thực hiện công cuộc ly khai với chính quyền Lê Trịnh ở Đàng Ngoài. 15 z Đến đời vua Nguyễn vẫn tiếp tục chọn Phú Xuân làm kinh đô. Năm 1945, chế độ phong kiến Việt Nam khai tử, địa bạ hành chính Việt Nam được thay đổi với sự lãnh đạo của chính phủ Việt Nam.
Thuận Hóa-Phú Xuân-Huế kể từ khi có dấu chân người Việt đến hôm nay đã trải qua hơn 700 năm. Xứ Huế mang đặc trưng văn hóa đặc sắc riêng biệt, tạo thành một dấu ấn của văn hóa Việt Nam. Thuận Hóa buổi đầu và quá trình du nhập Phật giáo Thuận Hóa trước khi thuộc về người Việt thì đây là vùng đất của Chăm pa. Vùng đất này có một nền văn hóa Chăm pa đặc sắc lâu đời, chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ.
Phật giáo từng đóng một vị trí khá quan trọng trong đời sống tinh thần của người Chăm, tồn tại và phát triển song song với đạo Bà la môn. Sau khi giao đất cho người Việt hai châu Ô Rí, người Chăm đi lùi dần về phía Nam thế nhưng những ảnh hưởng của văn hóa Chăm vẫn tồn tại trên vùng đất này. Những lưu dân Việt đầu tiên đến đây là những người bị tội đày, trốn chính quyền Lê Trịnh. Đây là vùng phên dậu, rừng thiêng nước độc, cư dân lại đa dạng thành phần.
Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm xứ Thuận Hóa đã có những chính sách phù hợp nên Thuận Hóa phát triển một cách nhanh chóng, trở thành một trung tâm kinh tế chính trị đủ sức để đối trọng lại với chính quyền Đàng Ngoài. Đứng trước tình hình cư dân Thuận Hóa đa thành phần, trình độ nhận thức cũng khác nhau, hơn nữa, trong tình cảnh chúa Nguyễn là người ly khai, đi trái tư tưởng trung quân của nhà Nho nên chúa Nguyễn cần sự lựa chọn tư tưởng để phát triển vương quyền. Thuận Hóa buổi đầu chưa thật sự phát triển nhưng cư dân ở đây hầu như đã biết đến đạo Phật, gồm: đạo Phật của người Chăm để lại và đạo Phật của người Việt di dân đến đây. Trong Ô Châu cận lục, Dương Văn An đã ghi chép lại những ngôi chùa xuất hiện ở đây như chùa Thiên Mụ, chùa Sùng Hóa… Nhân dân đã có những lễ hội, “vào ngày Tết 16 z hoặc lễ nghi thì các quan ở tam ty, các nha môn và vệ sở đều đến, áo mũ lễ nhạc tụ tập như mây” [1; tr.
Phật giáo Thuận Hóa-Huế trước hết là Phật giáo từ Đàng Ngoài theo chân những di dân vào đây khai hoang lập ấp. Đến với vùng rừng thiêng nước độc (Ở đây đất nước lạ lùng/ Con chim kêu cũng sợ con cá vùng cũng kinh) khiến họ mang niềm tin cầu nguyện từ Phật giáo. Hình ảnh đức Bụt, Bồ tát là hình ảnh từ bi, giúp họ thoát khỏi những tai ương, bệnh tật. Họ đến đâu lập chùa đến đấy, tạo dựng niềm tin để chống lại thiên nhiên và thú dữ.
Sự lựa chọn tư tưởng để là kế sách kết nối và xây dựng tư tưởng cho cư dân là điều hết sức quan trọng. Đứng trước tình hình này, chúa Nguyễn đã chọn Phật giáo làm tư tưởng bản lề để phát triển Thuận Hóa. Litana đã nhận xét rằng: “Trong tình hình mới này, các nhà lãnh đạo họ Nguyễn cảm thấy cần phải đưa ra một cái gì khác với tín ngưỡng của người Chăm để củng cố các di dân người Việt về mặt tinh thần và tâm lý. Không thể sử dụng Khổng giáo vì những khẳng định cơ bản của Khổng giáo trực tiếp mâu thuẫn với vị trí của họ Nguyễn bị coi là một chế độ ly khai và nổi loạn đối với triều đình.
Tuy nhiên, họ Nguyễn lại không dám đi quá xa và không dám tìm ra một giải pháp hoàn toàn khác biệt với truyền thống người Việt ở phía Bắc. Trong những hoàn cảnh đó, Phật giáo Đại thừa đã cung cấp một giải pháp đáp ứng nhu cầu của họ Nguyễn. Phật giáo, một mặt đẩy mạnh bản sắc dân tộc của người Việt và mặt khác, làm lắng đọng các mối lo âu của người di dân mà không đặt lại vấn đề tính hợp pháp của những người cai trị” [60; tr. Như đã nói ở trên, Phật giáo đã có mặt tại Thuận Hóa từ sớm nhưng phải đến khi chúa Nguyễn trấn nhậm, ly khai thì Phật giáo mới bắt đầu phát triển vượt trội.
Thuận Hóa bước sang thế kỷ XVII, Phật giáo phát triển rực rỡ bởi chính sách ưu tiên của chúa Nguyễn. Chính quyền chúa Nguyễn đã có nhiều 17 z động thái tích cực trong việc phát triển Phật giáo như cho xây dựng lại chùa Thiên Mụ trên đồi Hà Khê vào năm 1601, chùa Sùng Hóa năm 1602… mở các lễ hội Phật đản, Vu Lan tại các chùa này, người đi dự lễ đông như trẩy hội. Thời kỳ này có nhiều thiền sư nổi tiếng như thiền sư Viên Khoan, Viên Cảnh, Hương Hải… Chúa Nguyễn cùng hoàng tộc, quan lại đều là những đệ tử thọ giới với các thiền sư. Đặc biệt, chúa Nguyễn cho thỉnh mời các vị cao tăng từ Trung Quốc sang hoằng hóa.
Thiền sư Nguyên Thiều, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 33 sang Đàng Trong hoằng hóa vào năm 1677. Lúc đầu sang ở phủ Quy Ninh (Bình Định), lập chùa Thập Tháp Di Đà, sau đó được chúa mời ra Thuận Hóa để hoằng hóa. Thiền sư là người đầu tiên truyền thiền phái Lâm Tế vào Đàng Trong. Năm 1694, Chúa Nguyễn Phúc Chu cho người sang mời thiền sư Thạch Liêm Thích Đại Sán sang Thuận Hóa hoằng hóa.
Thiền sư thuộc phái Tào Động, đời thứ 29. Nhận lời mời của Chúa, Thiền sư Thạch Liêm cùng các vị cao tăng khác sang mở giới đàn tại chùa Thiền Lâm và truyền giới cho hơn 1400 giới tử. Chúa Nguyễn Phúc Chu thọ giới với thiền sư, có pháp danh là Hưng Long.