Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Nhóm công trình liên quan đến vấn đề dân tộc Khmer Trước năm 1975, vấn đề dân tộc Khmer Nam Bộ - Việt Nam được nhiều học giả người nước ngoài nghiên cứu, tuy nhiên các công trình của họ chủ yếu đề cập đến từng khía cạnh riêng biệt về lịch sử, mỹ thuật, kiến trúc chùa, nghi lễ tôn giáo, sinh hoạt dân gian, thơ ca dân gian. Thời điểm này, đáng chú ý là công trình“Người Việt gốc Miên” của Lê Hương [62] xuất bản (1969) tại Sài Gòn và bản ghi chép “Chân lạp phong thổ ký” của Châu Đạt Quan do Lê Hương dịch (1973), có thể xem là những công trình đầu tiên trình bày tổng quan khá đầy đủ về người Khmer Nam Bộ - Việt Nam, cụ thể là về nguồn gốc, dân số, sinh hoạt, xã hội, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, kinh tế, địa danh, lịch sử, ….
Bên cạnh đó, tác giả cũng có đề cập đến vấn đề Phật giáo trong cộng đồng người Khmer. Tuy nhiên tác giả chỉ nghiên cứu trong phạm vi ở tỉnh Vĩnh Bình (tỉnh Trà Vinh hiện nay) qua các mối quan hệ xã hội, phong tục tập quán, tín ngưỡng; đây là tư liệu quí để chúng tôi làm cơ sở nghiên cứu luận án. Sau năm 1975, các công trình nghiên cứu liên quan đến người Khmer Nam Bộ liên tục được chú trọng và đạt nhiều kết quả đáng quan tâm; trong đó phải kể đến nhà nghiên cứu Phan An, với các công trình tiêu biểu như: “Vài khía cạnh dân tộc học về người Khmer ở Việt Nam và Camphuchia” (1980); “Một số vấn đề kinh tế - xã hội của vùng nông thôn Khmer Đồng bằng sông Cửu Long - Vấn đề dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long” (1984); “Dân tộc Khmer trong các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam)”(1984); luan an 8 “Nghiên cứu người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long” (1985) [1]… Qua các bài viết, tác giả đã khái quát đầy đủ các khía cạnh về đời sống xã hội của người Khmer ở Nam Bộ trong những thập niên 80 của thế kỷ XX; đây là cơ sở để chúng tôi so sánh sự chuyển biến trong đời sống xã hội của người Khmer trước và sau thời kỳ đổi mới. Năm 1981, công trình sách “Quá trình phát triển dân cư và dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long từ Thế kỷ thứ XV đến thế kỷ thứ XIX” của tác giả Mạc Đường [45] đã khái quát được quá trình hình thành các tộc người Việt, Khmer, Hoa và Chăm; đồng thời, làm rõ đặc điểm của các cộng đồng tộc người này ở đồng bằng sông Cửu Long nhằm làm cơ sở nghiên cứu những đặc trưng riêng của từng tộc người ở vùng đất Nam Bộ.
Công trình “Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ” do Huỳnh Lứa [68] chủ biên đã được Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản vào năm 1987; đến năm 2017, công trình này có chỉnh sửa, bổ sung và tái bản; công trình bằng tiếng Việt, dày 355 trang; các tác giả đã trình bày tiến trình nhân dân ta khai khẩn và mở mang vùng đất Nam Bộ từ nữa thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XX, trước hết là để phục vụ việc tìm hiểu sâu và kỷ hơn về hiện trạng, động thái, tiềm năng của vùng đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ. Công trình này đã giúp chúng ta nắm được quá trình hình thành và phát triển của các dân cư sinh sống ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Công trình “Vấn đề Dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long” [99] Nxb.
Khoa học xã hội, 1991, Hà Nội do Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam chủ biên; công trình dày 324 trang, gồm 7 bài nghiên cứu bằng tiếng Việt do các tác giả: (1) Mạc Đường: Vấn đề dân cư và dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long, Người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long; (2) Đinh Văn Liên: Đặc điểm môi sinh và dân số ở vùng người Khmer đồng bằng sông Cửu Long, (3) Phan An: Một số vấn đề luan an 9 kinh tế - xã hội của vùng nông thôn Khmer đồng bằng sông Cửu Long, (4) Phan Thị Yến Tuyết: Một số đặc điểm về văn hóa vật chất của người Khmer và người Chăm ở đồng bằng sông Cửu Long, Truyền thống đấu tranh cách mạng của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long; (5) Phan Văn Dốp và Nguyễn Việt Cường: Người Chăm ở đồng bằng sông Cửu Long. Công trình đã phát họa bức tranh tổng thể các dân tộc chủ yếu đang có mặt ở đồng bằng sông Cửu Long; đồng thời, đề cập đến khía cạnh của các vấn đề khoa học xã hội qua nhiều đợt điều tra nối tiếp nhau tại các vùng dân tộc Khmer từ cuối năm 1977 đến 1986 sẽ giúp ích cho chúng tôi nghiên cứu về tình hình trong vùng đồng bào dân tộc trước thời kỳ đổi mới; đồng thời ứng dụng cho việc vạch định chính sách và giải pháp phù hợp trong thời kỳ đổi mới. Nguyễn Khắc Cảnh (2000) “Các loại hình phum, sóc của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long” [33], tác giả dựa trên những quan sát về các loại hình phum, sóc của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long đã đưa ra những nhận định về cấu trúc, tính chất, mối quan hệ xã hội của người Khmer Nam Bộ. Song song đó, với hai bài viết “Quá trình hình thành tộc người của người Khmer từ thế kỷ VI đến thế kỷ XIII” và “Sự hình thành cộng đồng người Khmer vùng ĐBSCL” trong “Văn hoá Nam Bộ trong không gian văn hoá Đông Nam Á” (2000), tác giả Nguyễn Khắc Cảnh đã làm rõ quá trình hình thành cộng đồng tộc người của người Khmer nhằm “đánh giá đúng những mối quan hệ mang tính tộc người, giữa bộ phận người Khmer ở Nam Bộ - Việt Nam và người Khmer ở Campuchia”.
Với những nghiên cứu này giúp chúng tôi nhận diện mối quan hệ xã hội, các đặc trưng về văn hoá tộc người của người Khmer Nam Bộ. Đề tài khoa học: Truyền thống đấu tranh cách mạng của đồng bào Khmer Nam bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1939-1975) [96], do cơ quan đặc trách công tác dân tộc ở Nam bộ thực hiện năm 2000- luan an 10 2001 đã trình bày khá đầy đủ chi tiết các cuộc đấu tranh chống lại những bất công của đồng bào dân tộc Khmer; cũng như sự đoàn kết đấu tranh giữa các dân tộc công cư trong vùng nhằm chống lại giặc xâm lượt để bảo vệ quê hương, bảo vệ Tổ quốc từ khi có Đảng đến kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Năm 2002, tác giả Nguyễn Mạnh Cường viết về Vài nét về người Khmer Nam bộ [37] Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Công trình giới thiệu về người Khmer Nam bộ như một cộng đồng dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam với nhiều cách tiếp cận: nhân học, dân tộc học, khảo cổ học, lịch sử, văn hóa và tôn giáo của người Khmer trong bối cảnh của Nam bộ. Thành công nhất của công trình là những tư liệu, ghi chép của tác giả về “văn hóa người Khmer Nam bộ”, tác giả giành nhiều trang viết về phong tục, tập quán, lễ hội, tâm lý lối sống đến các chùa, tranh tượng, nhạc cụ; ngoài ra, tác giả cũng phản ánh “vấn đề Phật giáo Khmer” mà giới nghiên cứu Phật giáo Việt Nam rất quan tâm. Song song đó, tác giả còn có công trình “Tôn giáo - Tín ngưỡng của các cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long”, Nxb. Phương Đông, 2004, Hà Nội; với 488 trang, 07 chương đã trình bày bức tranh tổng thể những nét cơ bản về các tộc người ở đồng bằng sông Cửu Long; cũng như về tôn giáo, tín ngưỡng của từng tộc người cụ thể.
Tác giả Nguyễn Mạnh Cường và Nguyễn Minh Ngọc đã dành hai chương (II, III) để nói những vấn đề liên quan đến người Khmer, chương IV nói về người Chăm ở Châu Đốc, chương V, nói về người Hoa ở miền TNB và Chương V, nói về người Việt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nhìn chung, qua nội dung công trình các tác giả đánh giá được sự thay đổi và sự lớn mạnh không ngừng của vùng đồng bằng sông Cửu Long trong quá trình đổi mới và hội nhập của Việt Nam trên trường quốc tế. Người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long đang hàng ngày, hàng giờ giàu mạnh hơn trước đây. Các dân tộc anh em cùng chung lưng đấu cật, đoàn kết với nhau luan an 11 trong niềm tin vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trên các mặt kinh tế, văn hóa- xã hội, chính trị, ngoại giao và an ninh quốc phòng nhằm chống lại các thế lực thù địch trên mọi mặt trận, nhất là mặt trận tư tưởng, tôn giáo, tín ngưỡng.
Nội dung công trình đã góp phần tìm hiểu bản sắc văn hóa tộc người, tìm hiểu sâu hơn về quá trình tâm linh- hay đức tin- cái cốt lõi cho sự bảo tồn và phát triển văn hóa của các tộc người: Kinh, Khmer, Hoa, Chăm. Đây là tài liệu góp phần rất lớn cho các nhà quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo trong vùng TNB; hiểu hơn về đồng bào dân tộc và hiểu hơn về các tôn giáo tránh xảy ra các xung đột sắc tộc và xung đột tôn giáo như một số nước trong khu vực Đông Nam Á. Năm 2005, tác giả Đinh Lê Thư chủ biên sách “ Vấn đề giáo dục vùng đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long” [89], công trình dày 384, gồm 5 chương; trong đó chương 3 giới thiệu về “Giáo dục song ngữ và tình hình song ngữ Việt - Khmer ở đồng bằng song Cửu Long” và Chương 5 viết về “Vai trò nhà chùa trong hoạt động văn hóa - giáo dục ở vùng dân tộc Khmer Nam Bộ” tác giả giới thiệu các chức năng của chùa và tập trung đánh giá vai trò dạy học chữ Khmer và chữ Pali cho con em trong cộng đồng Khmer tại các điểm chùa Khmer ở Nam Bộ. Năm 2006, Ủy ban Dân tộc thực hiện dự án “Điều tra cơ bản tình hình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ năm 2006” [97] do Cơ quan Thường trực khu vực đồng bằng sông Cửu Long thực hiện - Phạm Văn Thới (chủ nhiệm).