Chương 1: KHÁI QUAT VE TON GIÁO Ở VIỆT NAM VA ĐỜI SÓNG VAN HÓA TINH THAN CUA NGƯỜI VIỆT Ở DONG BANG BAC BO TRƯỚC KHI CO TON GIAO NGOẠI NHAP 1. Khái quát về tôn giáo ở Việt Nam 1. Tôn giáo và những biểu hiện của tôn giáo Trong Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta đã nêu rõ vai trò của tôn giáo và tầm quan trọng của công tác tôn giáo: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đăng, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo.
Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống những hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, đồng thời nghiêm cam và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn can tín đồ làm nghĩa vụ công dân”[20;7§]. Vậy, tôn giáo là gì? Bản chất của tôn giáo ra sao? Tôn giáo đã ảnh hưởng đến đời sống xã hội như thế nào? mà Đảng ta lại khẳng định như vậy? Tôn giáo là gì? Đây là một vấn đề xưa cũ nhưng cũng là một vấn đề thường xuyên mới. Người ta xem xét, nhận thức tôn giáo từ những không gian văn hóa và truyền thống tư tưởng khác nhau, do sự đa dạng của xuất phát điểm và góc nhìn khác nhau mà dẫn đến kết luận và giải đáp cũng rất khác nhau. Điều này làm nảy sinh ra vấn đề là nên lý giải tôn giáo như thế nào? Theo những định nghĩa phổ thông thì tôn giáo là một dạng sinh hoạt tâm linh, trong đó con người tin vào sự hiện hữu của các thế lực siêu nhiên, có quyền lực siêu phàm, có thé tác động đến đời sống của con người khi con người sống cũng như khi đã chết.
Tin vào sự bất tử của linh hồn và một thé giới sau khi chết, trong đó linh hồn của những người đã chết vẫn tồn tại trong một cuộc sống khác. Từ đó con người đi đến chỗ tôn vinh, thờ phụng các thế lực siêu nhiên, linh hồn của những người đã chết với hy vọng được sống an lành nơi trần thế và được hưởng phúc vĩnh hăng nơi thế giới bên kia sau khi đã chết. Tôn giáo có đặc trưng nôi bật là đặt niêm tin vào các lực lượng siêu nhiên, đặt ra những phương thức ứng xử đê trước mặt có được một cuộc sông an bình nơi trân thê và sẽ được hưởng một hạnh phúc vĩnh hăng nơi thê giới bên kia, nhờ vào sự hỗ trợ của những sức mạnh siêu nhiên đó. Phơ bách thì lại cho rằng: “Nếu chúa là ý thức mà con người rút ra từ bản thân nó” thì tôn giáo rõ ràng là thích hợp của con người, của những thang bậc lịch sử khác nhau, của những tộc người khác nhau.
Con người tạo ra tôn giáo, như C. Mác và nhiều nhà khoa học trước và sau ông chấp nhận thì rõ ràng tôn giáo phải thích nghỉ với xã hội con người. Xã hội thay đổi, tư duy con người thay đôi, tôn giáo của họ cũng thay đổi theo. “Con người làm ra tôn giáo chứ tôn giáo không làm nên con người.
Nói cách khác, tôn giáo là sự tự ý thức và tự cảm giác của con người vốn tự chưa tìm thay ban than minh hoặc đã tự đánh mat minh một lần nữa. Nhưng con người không phải là một sinh vật đứng ngoài thế giới. Con người là thế giới con người, là Nhà nước, là xã hội. Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, đó là cái nhận thức thế giới đảo ngược.
Tôn giáo là cái lý thuyết chung về thế giới đó, là bộ bách khoa toàn thư tóm tắt, là cái lôgic bình dân, là niềm danh dự tinh thần, là sự hân hoan, là sự thưởng phạt về luân lý, là sự bô khuyết thiêng liêng, là nơi tìm thay sự an ủi và biện minh, phố cập của cái thế giới ấy. Bởi vì, trong thực tế không hề tồn tại cái tính chất nhân loại ấy. Tôn giáo là tiếng thở dai của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thé giới không có trái tim cũng giống như nó là tinh than của những trật tự không có tinh thần”[52;570]. 10 Như vậy, tôn giáo không chỉ là sản phẩm của con người nói chung, hơn thế nó là sản phẩm của riêng con người, của mọi thời dai, mọi mau da, moi vùng dat dé tự thăng hoa trong khi đôi chân vẫn gắn chặt với đất mẹ, với số phận không đều nhau, với niềm hạnh phúc và đau khổ xen kẽ, với vinh quang và cay dang.
Tôn giáo đòi hỏi người ta không chỉ tin và ngưỡng mộ, nó đòi hỏi lòng tin vào sự tưởng tượng phong phú, dồi đào, nhằm nâng đỡ tự thân các thân phận người. Phật giáo ra đời ở An Độ, một trong những cái nôi của văn minh nhân loại, một mảnh đất màu mỡ của tôn giáo và triết học. Sau khi Phật Thích Ca tịch diệt. Phật giáo dan dan tách ra nhiều tông phái, trong đó nỗi bat là hai tông phái Tiểu thừa (Hinayana) và Đại thừa (Mahayana).
Tông phái Tiểu thừa phát triển ở Nam An và truyền qua các nước như Xrilanca, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào và Nam Việt Nam. Tông phái Đại thừa phát triển ở Bắc An rồi truyền qua Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Bắc Việt Nam. Xét về đặc tính tông truyền thì đạo Ki tô có phan tiêu biểu hơn, như Ph.Ăngghen đã từng nhận xét: Sau Cơ Đốc giáo con người không thé sáng tao ra một tôn giáo nảo hoàn hảo hơn. Và chỉ trong vải năm, Ki tô giáo bảnh trướng từ Palextin tiễn sâu vào nội địa ba chau A, Âu, Phi.
Va sau này Công giáo lan sang miền Lưỡng Hà (Mesopotamie), Ba Tư rồi Ấn Độ, đồng thời tràn qua Alexandri và Bắc Phi. Tôn giáo còn là một sự kiện của lịch sử xã hội, bởi tôn giáo không chỉ quan tâm đến những van dé của thé giới bên kia ma còn dành phan quan trong cho sự quan tâm đến những vấn đề đời thường của xã hội con người và được thê hiện rõ trong luân lý, đạo đức của tư tưởng tôn giáo. Ở bất cứ điều kiện kinh tế nào, những thiên tai, những bất hạnh trong xã hội như núi lửa, động đất, hỏa hoạn, lụt lội, bệnh tật. mà con người đang gánh chịu thì tôn giáo đã góp phần nhất định trong việc gánh vác bớt những nỗi khổ đau đó của con người.
Nó góp phân hạn chê những hành vi tiêu cực của con người, han gan, 11 bu dap một cách thiết thực, dù ở mức độ nào đó, những rủi ro bất hạnh của con người phan nao cũng giải quyết được. Hơn thế nữa tôn giáo còn là văn hóa, như chúng ta đã biết văn hóa đã sản sinh ra văn hóa tôn giáo, văn hóa tôn giáo ấy mang tính đặc trưng của tôn giáo sản sinh ra nó, nhưng đồng thời cũng in đậm màu sắc của nó lên văn hóa đời thường của cộng đồng đi theo tôn giáo đó. Bởi vì, những nơi nào đó coi tôn giáo là Quốc giáo hoặc nơi có số tín đồ đông nhất sẽ đem lại cho nền văn hóa ấy một bản sắc riêng. Các công trình văn hóa kiệt xuất của Hy Lạp, Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc không chỉ là sản phẩm của tôn giáo đơn nhất, mà là sự hội nhập nhuần nhuyễn giữa văn hóa tôn giáo va văn hóa đời thường tới mức khó mà tách bạch.
Do vậy, tôn giáo phải được coi như là một thành tố văn hóa của cộng đồng. Cho nên, trong thực tế khi muốn tìm hiểu kỹ văn hóa của một cộng đồng nao thì nhất thiết không thé bỏ qua tôn giáo của dân tộc ay. Và như vậy, một tôn giáo nào đó du nhập vào một quốc gia bình thường sẽ diễn ra một sự giao lưu hòa nhập hoặc tiếp biến văn hóa, làm phong phú thêm đời sống văn hóa của quốc gia ấy. Như vậy, tôn giáo của các dân tộc đều là một dạng thức văn hóa, thậm chí là một dạng thức văn hóa đặc biệt.
Vì vậy, nếu ai phủ nhận sạch trơn các gia tri của tôn giáo được xem như là một người cực đoan. Bởi tôn giáo là san phẩm của chính con người, nó là vật cộng sinh với con người, tương lai của nó thuộc về con người. Tôn giáo hiểu theo quan niệm mác xít là một hình thái ý thức xã hội, là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc con người những sức mạnh bên ngoài, ké cả sức mạnh trần gian mang tính siêu thế gian và chi phối cuộc sống con người. Tôn giáo cũng là hạnh phúc hư ảo của nhân dân.
Bat cứ trong hoàn cảnh xã hội nào, thì cơ sở của mọi tôn giáo cũng là niềm tin của con người vào cái “thiêng” thông qua các hệ thống và biểu tượng. Ví như đạo Phật, biểu tượng của cái thiêng đó là cái “Thiện”. Phat là người tu luyện rũ bỏ dục vọng dé đạt re 12 tới cái “Thiện” — “Phật tính”. Điều này quy định mọi hành vi ứng xử của con người trong xã hội.
Mọi hệ thống biểu tượng của tôn giáo đều là hệ thống biểu tượng của văn hóa, nó vừa chứa đựng hệ giá trị dân tộc, đồng thời là sự thê hiện bản sắc và sắc thái văn hóa của dân tộc trong những thời đại nhất định. Va nhà sử học mác xít Pháp, Charles Haichelin cũng đã nhận định: “T6n giáo là một sự phản ánh đặc biệt, hoang đường va sai lệch vào trong ý thức xã hội những mối liên hệ giữa con người với nhau và với tự nhiên, bởi con người cả trong xã hội nguyên thủy cũng như trong xã hội được phân chia giai cấp cô đại, phong kiến, tư bản cũng đều đặt dưới sự thống trị của những sức mạnh ở bên ngoai họ, mà họ không nhận biết được, cũng như không chi phối và kiểm soát được, vì thế mà đối với chúng, họ cảm thay có sợ hãi bi an, sự so hãi này.sẽ sản sinh ra các vi thần linh”{[31;46].