Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức trong xã hội Việt Nam hiện nay" được tác giả Hoàng Thị Lan thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Hữu Vui, bảo vệ năm 2004 thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 5.02).

Về tính cấp thiết, luận án xuất phát từ thực tiễn cấu trúc xã hội, trong đó tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc thù tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần. Trước bối cảnh phát triển của khoa học và trào lưu hiện đại hóa, các tôn giáo trên thế giới có xu hướng thế tục hóa, tự điều chỉnh để thích ứng với đời sống xã hội. Tại Việt Nam, tôn giáo trong lịch sử đã góp phần duy trì chuẩn mực ứng xử, củng cố sự đoàn kết và tạo nên sắc thái văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, khi đất nước chuyển sang kinh tế thị trường, sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường làm nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực, làm xói mòn các chuẩn mực đạo đức truyền thống. Trước thời kỳ đổi mới, nhận thức xã hội thường có xu hướng nhìn nhận phiến diện, nhấn mạnh một chiều vào mặt tiêu cực và cho rằng tôn giáo sẽ tiêu biến ngay trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thực tiễn khẳng định tôn giáo vẫn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có sự phát triển quan trọng, thể hiện trong Nghị quyết 24-NQ/TW ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị ("tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới") và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX năm 2001 ("phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo"). Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống cả hai mặt tích cực và tiêu cực của đạo đức tôn giáo để đề xuất giải pháp quản lý, kế thừa là một đòi hỏi cấp bách của thực tiễn lý luận và xã hội.

Tiêu chí Nội dung xác lập trong luận án
Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phân tích ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức trong xã hội Việt Nam hiện nay; đề xuất hệ thống giải pháp phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực trong quá trình xây dựng nền đạo đức xã hội mới.
Nhiệm vụ 1 Phân tích khái niệm, đặc trưng cơ bản của đạo đức tôn giáo; khái quát các quan điểm lịch sử về vai trò của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức xã hội.
Nhiệm vụ 2 Phân tích những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức trong xã hội Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ 3 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của đạo đức tôn giáo trong quá trình xây dựng nền đạo đức xã hội mới.
Đối tượng nghiên cứu Đạo đức tôn giáo trong sự tác động đối với đạo đức của xã hội Việt Nam hiện nay.
Phạm vi không gian & thực thể Phân tích đạo đức tôn giáo nói chung qua các tôn giáo lớn tại Việt Nam: Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Hồi giáo, Tin Lành.
Phạm vi thời gian Giai đoạn từ năm 1986 (khởi đầu công cuộc đổi mới) đến thời điểm hoàn thành luận án (2004).
Giới hạn nội dung Tập trung vào ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức xã hội nói chung thông qua giáo lý, luật lệ, lễ nghi, tổ chức; không phân tách riêng biệt giữa đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Vấn đề tôn giáo và đạo đức tôn giáo đã được nhiều trường phái học thuật và các tác giả trong, ngoài nước khảo cứu dưới các góc độ khác nhau:

Các hướng nghiên cứu ngoài nước

  • Chủ nghĩa duy tâm thần học: Từ thời Trung cổ với Thomas d'Aquin (xem Thượng đế là quy luật vĩnh cửu, nguồn gốc của trật tự và đạo đức), Tertullien, đến chủ nghĩa Thomas mới và thần học Tin Lành hiện đại (nhấn mạnh phạm trù "ý thức trách nhiệm", chủ trương nhân đạo hóa nền văn minh công nghệ bằng đạo đức tôn giáo). Daisaku Ikeda trong tác phẩm "Tiếng chuông cảnh tỉnh cho thế kỷ XXI" đề xuất tôn giáo là trung tâm của cuộc cách mạng cải tạo đời sống tinh thần nhân loại để khắc phục khủng hoảng toàn cầu.
  • Chủ nghĩa duy vật vô thần trước Mác: Diderot (phái Bách khoa toàn thư Pháp thế kỷ XVIII) và Ludwig Feuerbach ("Bản chất của Kitô giáo") đã bác bỏ quan niệm thần thánh sáng tạo con người, khẳng định con người sáng tạo ra tôn giáo. Tuy nhiên, họ coi tôn giáo thuần túy là sự ngu dốt, sai lầm nhận thức và đề xuất xóa bỏ tôn giáo bằng biện pháp giáo dục tinh thần đơn thuần.
  • Xã hội học tư sản hiện đại: Émile Durkheim ("Định nghĩa về hiện tượng tôn giáo và tôn giáo") coi tôn giáo cung cấp hệ thống giá trị tối thượng tạo liên kết xã hội; Max Weber ("Đạo đức Tin Lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản") lý giải sự tương đồng giữa logic đạo đức Tin Lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản; Yves Lambert ("Tháp Babel định nghĩa về tôn giáo"); các học giả A. Brondel, Will Durant.
  • Các học giả phương Đông hiện đại: Shinobu Koichi, Okamoto Koji (Nhật Bản) nghiên cứu nội dung nhân đạo của tôn giáo; Sun Zhenhua, Lin Zhaorong (Trung Quốc) nghiên cứu xu thế thế tục hóa đưa đạo đức tôn giáo trở thành bộ phận của đạo đức xã hội.

Các hướng nghiên cứu mác-xít và trong nước

  • Các nhà kinh điển Mác - Lênin: C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin trong các tác phẩm như "Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen", "Gia đình thần thánh", "Hệ tư tưởng Đức", "Bản thảo kinh tế - triết học 1844", "Luận cương về Phoiơbắc", "Chiến tranh nông dân ở Đức", "Chống Đuyrinh", "Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức", "Bàn về lịch sử đạo Cơ đốc sơ kỳ", "Chủ nghĩa xã hội và tôn giáo", "Về thái độ của đảng công nhân đối với tôn giáo". Các ông đã chỉ rõ bản chất phản ánh hư ảo của tôn giáo, nguồn gốc kinh tế - xã hội, phê phán tính chất ru ngủ, cam chịu khi bị giai cấp thống trị bóc lột lợi dụng, đồng thời ghi nhận các hạt nhân nhân đạo, bình đẳng ban đầu (như Cơ Đốc giáo sơ kỳ).
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh: Đánh giá tôn giáo trên bình diện văn hóa, đạo đức, tìm kiếm mẫu số chung ("cầu đồng tồn dị") giữa lòng nhân ái của Giêsu, từ bi của Thích Ca, tu thân của Khổng Tử với mục tiêu cách mạng giải phóng con người.
  • Các công trình trong nước: "Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay" (GS. Nguyễn Tài Thư chủ biên, 1997); "Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo Việt Nam hiện nay" (GS. Đặng Nghiêm Vạn, 2001); "Nghi lễ và lối sống Công giáo trong văn hoá Việt Nam" (TS. Nguyễn Hồng Dương, 2001); "Phật giáo với văn hoá Việt Nam" (Nguyễn Đăng Duy, 1999); "Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam" (1998).
  • Các luận án chuyên ngành: Luận án phó tiến sĩ của Hồ Trọng Hoài (1995); luận án tiến sĩ của Lê Hữu Tuấn (1999), Nguyễn Hoàng Sa (1999), Trương Như Vương.
  • Các bài báo khoa học: GS.TS Nguyễn Hữu Vui (Tạp chí Triết học số 2/1992, số 4/1993); TS. Nguyễn Đức Lữ (Tạp chí Thông tin lý luận số 7/1992); PGS. Nguyễn Tài Thư (Tạp chí Cộng sản số 3/1995, Tạp chí Triết học số 2/1994); GS.TS Đỗ Quang Hưng (Tạp chí Triết học số 5/1997, Tạp chí Cộng sản số 15/1999).
Nhóm công trình Đại diện tiêu biểu Nội dung chính đã giải quyết
Kinh điển Mác - Lênin & Tư tưởng Hồ Chí Minh C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh Thiết lập phương pháp luận duy vật biện chứng, chỉ rõ bản chất xã hội của tôn giáo và khẳng định các giá trị nhân văn, đạo đức phù hợp với cách mạng.
Nghiên cứu tôn giáo học & xã hội học quốc tế E. Durkheim, M. Weber, D. Ikeda, L. Feuerbach Khảo sát chức năng xã hội, sự tương tác giữa đạo đức tôn giáo và cấu trúc kinh tế, văn hóa.
Nghiên cứu chuyên đề tại Việt Nam Nguyễn Tài Thư, Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Hữu Vui Khảo sát vai trò của từng tôn giáo cụ thể (Phật giáo, Công giáo) đối với văn hóa, lối sống và con người Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận tôn giáo nói chung hoặc đi vào từng tôn giáo riêng lẻ, đề cập khía cạnh đạo đức một cách gián tiếp. Luận án của Hoàng Thị Lan là công trình nghiên cứu chuyên biệt, hệ thống về mặt triết học đối với ảnh hưởng hai mặt (tích cực và tiêu cực) của đạo đức tôn giáo nói chung đối với đạo đức xã hội Việt Nam từ năm 1986 đến 2004, làm cơ sở đề xuất các giải pháp mang tính khả thi cho việc xây dựng nền đạo đức mới.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo.

Tác giả đưa ra định nghĩa khoa học: "Đạo đức tôn giáo là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá sự giao tiếp và hành vi ứng xử của tín đồ trong mối quan hệ giữa họ với đối tượng thờ phụng (Thượng đế, thần thánh, Chúa, Phật), cũng như giữa họ với nhau, với cộng đồng xã hội và với tự nhiên nhằm đảm bảo sự thống nhất lợi ích của cá nhân, tập thể và cộng đồng tôn giáo."

Luận án xác lập 5 đặc trưng cơ bản của đạo đức tôn giáo:

  1. Hình thành trên cơ sở niềm tin vào cái siêu nhiên: Cái siêu nhiên được thiêng hóa thành mẫu hình hoàn thiện; mọi chuẩn mực ứng xử giữa người với người suy đến cùng là để phục vụ đức tin và thực thi ý chí của đấng siêu nhiên.
  2. Coi trọng giá trị nhân bản: Đề cao tình yêu thương đồng loại, từ bi hỷ xả (Phật giáo), đức bác ái, tha nhân (Kitô giáo), tôn trọng sinh mạng con người và bảo vệ thiên nhiên thông qua các hành động cứu giúp cụ thể.
  3. Tính cam chịu, nhẫn nhục: Khuyên con người chịu đựng nghịch cảnh, không dùng bạo lực trả bạo lực ("nhẫn" trong Phật giáo; "ai vả má bên này hãy giơ má bên kia" trong Kitô giáo), coi nhẫn nhục là sức mạnh để cảm hóa cái ác.
  4. Hướng thiện, tránh ác: Xác định ranh giới thiện - ác qua các giới răn (Ngũ giới, Thập thiện trong Phật giáo; Mười điều răn, nhân đức đối thần và nhân đức đối nhân trong Kitô giáo), khuyên con người tu thân, tích đức.
  5. Đặt trọng tâm vào việc tu dưỡng đạo đức cá nhân: Hướng vào sự giải thoát tâm linh của từng cá nhân (Niết bàn, Thiên đường), chưa gắn liền việc giải thoát cá nhân với việc cải tạo và giải phóng toàn bộ xã hội hiện thực.

Phương pháp nghiên cứu bao gồm:

  • Phương pháp lôgíc kết hợp phương pháp lịch sử để luận giải sự phát triển quan niệm đạo đức tôn giáo.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp để đánh giá các biểu hiện tích cực, tiêu cực.
  • Phương pháp so sánh đối chiếu giữa các hệ thống giáo lý tôn giáo và giữa đạo đức tôn giáo với đạo đức xã hội.
  • Phương pháp cấu trúc - hệ thống nhằm xem xét đạo đức tôn giáo như một tiểu hệ thống trong kiến trúc thượng tầng.
  • Phương pháp điều tra xã hội học và sử dụng có mức độ phương pháp thống kê, biểu đồ để minh chứng thực tiễn.

Nguồn tư liệu sử dụng gồm kinh điển của các tôn giáo (Kinh Thánh, kinh điển Phật giáo: Tương ưng, Bồ Tát giới, kinh Thập thiện...), tác phẩm kinh điển Mác - Lênin, Hồ Chí Minh toàn tập, văn kiện Đảng, số liệu điều tra xã hội học và các công trình nghiên cứu chuyên khảo đã xuất bản.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Về vấn đề đạo đức tôn giáo

Chương 1 (từ trang 10 đến trang 50) gồm 2 tiết, tập trung làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng:

  • Tiết 1.1 (Khái niệm và đặc trưng): Phân tích nguồn gốc xuất hiện của đạo đức tôn giáo. Tác giả bác bỏ hai quan điểm cực đoan: quan niệm cho rằng tôn giáo không có đạo đức riêng mà chỉ vay mượn đạo đức thế tục, và quan niệm cho rằng đạo đức tôn giáo hoàn toàn đối lập, không chứa đựng yếu tố tiến bộ nào. Tác giả chỉ rõ đạo đức tôn giáo phản ánh các mối quan hệ trần thế đã bị thiêng hóa, đồng thời phân tích chi tiết 5 đặc trưng cơ bản (dựa trên niềm tin siêu nhiên, nhân bản, cam chịu nhẫn nhục, hướng thiện tránh ác, nhấn mạnh tu dưỡng cá nhân).
  • Tiết 1.2 (Các quan điểm khác nhau trong lịch sử): Khái quát các hệ thống quan điểm:
    • Quan điểm ngoài mác-xít: Các nhà thần học Trung cổ (Thomas d'Aquin, Tertullien) tuyệt đối hóa vai trò thần quyền, phủ nhận vai trò sáng tạo của con người. Thần học hiện đại (chủ nghĩa Thomas mới, thần học Tin Lành, Daisaku Ikeda) tìm cách dung hòa thần học với khoa học, đề cao "ý thức trách nhiệm", coi đạo đức tôn giáo là phương thức cứu vớt khủng hoảng sinh thái và xã hội. Chủ nghĩa duy vật vô thần thế kỷ XVIII (Diderot, Feuerbach) phê phán mặt tiêu cực nhưng phiến diện về mặt nhận thức luận. Xã hội học tư sản (Durkheim, Weber) chỉ ra chức năng liên kết xã hội và động lực phát triển kinh tế nhưng lảng tránh bản chất giai cấp.
    • Quan điểm mác-xít: C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin vận dụng phép duy vật biện chứng phân tích toàn diện trên ba phương diện (bản thể luận, nhận thức luận, xã hội học). Khẳng định bản chất phản ánh hư ảo, chỉ rõ tính chất công cụ ru ngủ của tôn giáo khi bị giai cấp bóc lột thao túng, nhưng thừa nhận các giá trị đạo đức tích cực, nhân đạo phản ánh khát vọng của quần chúng lao động.
    • Tư tưởng Hồ Chí Minh: Tiếp thu sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, khẳng định sự tương đồng giữa mục tiêu giải phóng con người của cách mạng với tôn chỉ bác ái, từ bi của các tôn giáo, chủ trương phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp để phục vụ khối đại đoàn kết dân tộc và kháng chiến kiến quốc.

Chương 2: Những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức trong xã hội Việt Nam hiện nay

Chương 2 (từ trang 51 đến trang 121) gồm 3 tiết, đi sâu phân tích thực trạng tác động của đạo đức tôn giáo tại Việt Nam:

  • Tiết 2.1 (Những đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội và tôn giáo quy định ảnh hưởng): Phân tích bối cảnh đổi mới kinh tế, sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu đa tôn giáo cùng chung sống hòa bình, truyền thống văn hóa khoan dung của dân tộc Việt Nam. Những yếu tố này là tiền đề khách quan quy định chiều hướng và mức độ tác động của đạo đức tôn giáo.
  • Tiết 2.2 (Những ảnh hưởng tích cực):
    • Góp phần điều chỉnh hành vi cá nhân, củng cố trật tự kỷ cương xã hội thông qua các điều răn, giới luật nghiêm ngặt.
    • Nuôi dưỡng tinh thần nhân ái, bác ái, từ bi hỷ xả, thúc đẩy các phong trào cứu trợ xã hội, giúp đỡ người nghèo, người già neo đơn, trẻ em khuyết tật, bệnh nhân (qua các cơ sở từ thiện của Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài).
    • Định hướng lối sống lành mạnh, bài trừ các tệ nạn xã hội (ma túy, mại dâm, cờ bạc, nghiện rượu) thông qua việc giữ gìn giới luật (Ngũ giới, Thập thiện).
    • Góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên và xây dựng quan hệ gia đình hiếu thuận, hòa thuận giữa vợ chồng, anh em.
  • Tiết 2.3 (Những ảnh hưởng tiêu cực):
    • Tinh thần cam chịu, nhẫn nhục thái quá làm giảm sút ý chí đấu tranh chống áp bức, bất công và kìm hãm tính tích cực xã hội, sự chủ động sáng tạo của người lao động.
    • Hướng con người vào sự giải thoát hư ảo ở thế giới bên kia, dẫn đến tâm lý thụ động, ỷ lại vào số phận hoặc đấng siêu nhiên.
    • Còn tồn tại các hủ tục, mê tín dị đoan, việc thực hiện các nghi lễ tốn kém thời gian, tiền của của một bộ phận tín đồ.
    • Nguy cơ nảy sinh tư tưởng hẹp hòi, chia rẽ giữa các cộng đồng tôn giáo hoặc bị các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề đạo đức tôn giáo để kích động, chống phá trật tự chính trị - xã hội.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực hạn chế mặt tiêu cực của đạo đức tôn giáo trong quá trình xây dựng nền đạo đức xã hội mới

Chương 3 (từ trang 122 đến trang 158) gồm 2 tiết, định hướng xu hướng và giải pháp can thiệp chính sách:

  • Tiết 3.1 (Xu hướng của đạo đức tôn giáo và yêu cầu xây dựng nền đạo đức xã hội mới): Phân tích xu hướng nhập thế, thế tục hóa, gắn bó đồng hành cùng dân tộc của các tôn giáo lớn tại Việt Nam ("Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội" của Phật giáo; "Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào" của Công giáo; "Nước vinh, Đạo sáng" của Cao Đài; "Vì đạo pháp, vì dân tộc" của Phật giáo Hòa Hảo). Đồng thời xác lập các tiêu chuẩn của nền đạo đức mới xã hội chủ nghĩa: kết hợp chủ nghĩa yêu nước, tinh thần làm chủ tập thể, chủ nghĩa nhân đạo và kế thừa các giá trị truyền thống cũng như tinh hoa đạo đức nhân loại.
  • Tiết 3.2 (Một số giải pháp): Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện:
    1. Nâng cao nhận thức lý luận và thống nhất quan điểm: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước; khắc phục cả hai khuynh hướng sai lầm (tuyệt đối hóa hoặc phủ nhận sạch trơn đạo đức tôn giáo).
    2. Hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách, pháp luật: Tạo hành lang pháp lý minh bạch cho các hoạt động tôn giáo thuần túy; khuyến khích các tổ chức tôn giáo tham gia vào các hoạt động y tế, giáo dục mầm non, từ thiện nhân đạo, bảo trợ xã hội theo quy định pháp luật.
    3. Phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa: Xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí tại các vùng đồng bào có đạo nhằm hạn chế các nguyên nhân kinh tế - xã hội làm nảy sinh tâm lý tiêu cực và mê tín dị đoan.
    4. Tăng cường xây dựng đời sống văn hóa cơ sở và phát huy vai trò tự quản: Lồng ghép phong trào xây dựng nếp sống văn hóa mới ở khu dân cư vùng đồng bào có đạo, phát huy vai trò của các chức sắc, nhà tu hành tiến bộ, gương mẫu.
    5. Chủ động phòng ngừa và đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo: Ngăn chặn các hành vi truyền đạo trái phép, mê tín dị đoan và âm mưu lợi dụng đức tin tôn giáo xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:

  1. Về mặt lý luận:
    • Hệ thống hóa và chuẩn hóa định nghĩa triết học về đạo đức tôn giáo; phân tích sâu sắc 5 đặc trưng cơ bản chi phối cấu trúc đạo đức tôn giáo dưới ánh sáng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
    • Luận giải một cách khách quan, toàn diện quá trình tiến hóa của các quan điểm triết học, thần học và xã hội học trong lịch sử về vai trò của đạo đức tôn giáo.
  2. Về mặt thực tiễn:
    • Đánh giá thực trạng ảnh hưởng hai mặt (tích cực và tiêu cực) của đạo đức tôn giáo đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội Việt Nam từ sau đổi mới năm 1986.
    • Đề xuất hệ thống các nhóm giải pháp có căn cứ khoa học nhằm phát huy các giá trị nhân văn, hướng thiện của đạo đức tôn giáo, đồng thời từng bước khắc phục các mặt tiêu cực, thụ động trong tiến trình xây dựng nền đạo đức mới xã hội chủ nghĩa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do tính chất rộng lớn và phức tạp của đề tài, luận án tập trung khảo sát những nét khái quát của đạo đức tôn giáo nói chung qua 6 tôn giáo lớn, chưa đi sâu phân tích chi tiết mức độ tác động riêng biệt giữa đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội của từng tôn giáo cụ thể tại từng vùng văn hóa đặc thù.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát thực nghiệm định lượng, nghiên cứu sâu sự biến đổi đạo đức của từng tôn giáo riêng lẻ (như Tin Lành ở Tây Nguyên, Hồi giáo ở Tây Nam Bộ) trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.


Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Cán bộ nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Triết học, Tôn giáo học, Xã hội học, Văn hóa học và Xây dựng Đảng: Tham khảo khung lý thuyết, định nghĩa, 5 đặc trưng đạo đức tôn giáo và phương pháp tiếp cận mác-xít.
  • Cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, cán bộ làm công tác Mặt trận, Ban Dân vận, Ban Tuyên giáo: Tham khảo hệ thống luận cứ thực tiễn và các nhóm giải pháp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đưa ra định nghĩa "Đạo đức tôn giáo" như thế nào?

Theo luận án, đạo đức tôn giáo là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá sự giao tiếp, hành vi ứng xử của tín đồ trong mối quan hệ giữa họ với đối tượng thờ phụng (Thượng đế, thần thánh, Chúa, Phật), cũng như giữa họ với nhau, với cộng đồng xã hội và với tự nhiên nhằm đảm bảo sự thống nhất lợi ích của cá nhân, tập thể và cộng đồng tôn giáo.

2. Năm đặc trưng cơ bản của đạo đức tôn giáo được luận án xác lập là gì?

Năm đặc trưng gồm: (1) Hình thành trên cơ sở niềm tin vào cái siêu nhiên; (2) Coi trọng giá trị nhân bản; (3) Tính cam chịu, nhẫn nhục; (4) Hướng thiện, tránh ác; (5) Đặt trọng tâm vào việc tu dưỡng đạo đức cá nhân.

3. Những tôn giáo cụ thể nào tại Việt Nam được luận án giới hạn khảo sát?

Luận án giới hạn khảo sát đạo đức tôn giáo qua 6 tôn giáo lớn tại Việt Nam từ năm 1986 đến 2004, gồm: Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Hồi giáo và Tin Lành.

4. Luận án chỉ ra mặt tiêu cực cơ bản nhất của đạo đức tôn giáo là gì?

Mặt tiêu cực cơ bản là tính cam chịu, nhẫn nhục tuyệt đối hóa và việc hướng con người vào sự cứu vớt hư ảo ở thế giới bên kia, từ đó thủ tiêu tinh thần đấu tranh xã hội, làm suy giảm tính năng động sáng tạo của con người trong việc cải tạo hiện thực khách quan, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng vào các mục đích chính trị tiêu cực.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Thị Lan là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về vấn đề đạo đức tôn giáo dưới góc nhìn triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử tại Việt Nam giai đoạn đổi mới. Bằng việc phân tích sâu sắc khái niệm, 5 đặc trưng và bức tranh tác động hai mặt tích cực - tiêu cực, công trình đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc kế thừa các giá trị nhân văn của tôn giáo. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án đóng góp cơ sở khoa học trực tiếp cho việc hoạch định chính sách tôn giáo và xây dựng nền đạo đức mới xã hội chủ nghĩa.