phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình đã công bố có liên quan đến luận án và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương, 10 tiết. 9 Chương | QUAN NIỆM VỀ GIẢI THOÁT TRONG PHẬT GIÁO Quê hương của Phật giáo là Ấn Do- một đất nước nằm ở phía nam châu Á. Bắc Ấn Độ là dãy Hymalaya quanh năm tuyết phủ, phía Đông Nam và Tây Nam giáp Ấn Độ Dương nên đất nước này còn được gọi là một “tiểu lục địa”. Phật giáo ra đời vào thế ky thứ VI tr.
ở miền Dong Bac Ấn Do. Day là thời kỳ của chế độ nô lệ kiểu phương Đông với sự phân biệt đẳng cấp khắt khe cùng sự thống trị của những tư tưởng duy tâm, tôn giáo trong thánh kinh Veda và đạo Bàlamôn. Phật giáo là tiếng nói phản kháng sự bất công trong xã hội, là khát vọng về tự do tư tưởng của nhân dân Ấn Độ. Người sáng lập ra Phật giáo là thái tử Siddhartha (Tất Đạt Đa), con vua Suddhodama (Tịnh Phạn) trị vì Sakya- một bộ tộc nhỏ ven sông Ganga (sông Hằng), thuộc Nepal ngày nay.
Ong sinh ngày 8 tháng 4, khoảng năm 563 tr. Năm 19 tuổi, Siddhartha cưới vợ và có một con trai. Tuy nhiên, khi tiếp xúc với cảnh đời với sự biến thiên vô thường của sinh, lão, bệnh, tử, năm 29 tuổi ông quyết định từ bỏ cuộc sống trần tục để ra đi tìm phương thuốc chữa khổ đau cho nhân thế. Sau 6 năm đi tìm chân lý, năm 35 tuổi ông thành đạo với pháp hiệu Budhi (Phật, Bụt)- bậc giác ngộ.
Ông còn được gọi là Sakyamuni (Thich Ca Mau Ni)- nhà hiền triết xứ Sakya hay “người ưa thích sự vắng lang” (Chúng tôi sử dụng thuật ngữ “Phá?” chủ yếu là để chỉ Thích Ca Mau Ni). Sau 45 năm truyền dao không biết mệt mỏi, cuộc đời của một nhân vật có ảnh hưởng to lớn tới nhân dân Ấn Độ và nhân dân thế giới đã kết thúc năm ông 80 tuổi. Thích Ca đã kế thừa các tư tưởng truyền thống của Ấn Độ cổ đại (kinh Veda, kinh Upanishad, đạo Bàlamôn.) để sáng lập ra một trường phái tôn giáo- triết học mới, trường phái vô thần, vô ngã, nhìn thẳng vào nỗi khổ đau nhân thế và tìm con đường giải thoát từ sự nỗ lực của bản thân con người. Tư tưởng của ông mang đậm dấu ấn của chủ nghĩa nhân văn và phương pháp tư duy biện chứng ở trình độ sâu sắc đáng kinh ngạc.
Cốt lõi tư tưởng của Thích Ca là bàn về nỗi khổ, giải thích nguyên nhân nỗi khổ và tìm con đường thoát khổ. Những nội dung đó tập trung trong thuyết “Tứ diệu đế” (Cattari ariyasaccani): 1- Khổ đế (Dukkha ariyasacca): Chân lý về nỗi khổ của nhân sinh. 10 2- Tập đế (Samudaya ariyasacca): Chân lý về nguyên nhân nỗi khổ. 3- Diệt đế (Nirodha ariyasacca): Chân lý về sự diệt trừ nỗi khổ.
4- Đạo đế (Magga ariyasacca): Chân lý về con đường diệt trừ nỗi khổ. Những nội dung căn bản của Phật giáo nguyên thuỷ (gồm những lời Thích Ca thuyết pháp lúc còn sống) được học trò của ông tập hợp lại trong cuộc kết tập lần thứ nhất, sau này được ghi lại trong các bộ kinh A ham bằng tiếng Sankrit: 1- Trường A hàm (Dighagama) 2- Trung A ham (Madhyamagama) 3- Tang nhat A ham (Ekottaragama) 4- Tap A ham (Samyuktagama) Những bộ kinh này tương đương với Ngũ bộ kinh ghi bang tiếng Pali: 1- Trường bộ kinh (Digha Nikaya) 2- Trung bộ kinh (Majhima Nikaya) 3- Tang chi bộ kinh (Angttara Nikaya) 4- Tương ưng bộ kinh (Samyutta Nikaya) 5- Tiểu bộ kinh (Khuddaka Nikaya) Khoảng 100 năm sau khi Thích Ca mất, cuộc kết tập lần thứ hai diễn ra Ở Vaisali với nhiều mâu thuẫn. Một số người đòi hỏi phải tuyệt đối trung thành với kinh điển Phật giáo, số đông lại đòi hỏi phải sửa chữa, bổ sung, biên soạn lại. Mau thuẫn này đã dẫn tới sự phân hoá giáo đoàn Phật giáo thành hai phái: Thượng tọa bộ (Sthaviravada) và Đại chúng bộ (Mahasanghika).
Nhìn chung, Thượng toạ bộ có khuynh hướng bảo thủ, trung thành tuyệt đối với Phật giáo nguyên thuỷ, lấy đó làm phương châm luận cứu tất cả. Trái lại, Đại chúng bộ có khuynh hướng cấp tiến với cách hiểu sáng tạo và sự vận dụng linh hoạt Phật giáo nguyên thuỷ. Vào đầu công nguyên, Phật giáo Đại thừa (Mahayana) ra đời mà mầm mống là từ Đại chúng bộ. Đại biểu xuất sắc của trường phái này là Long Thọ và sau này là Vô Trước, Thế Thân.
Chủ trương của Đại thừa là “tự giác giác tha, tự độ độ tha” (giác ngộ cho chính mình đồng thời giác ngộ cho người khác, độ cho mình đồng thời độ cho người). Họ gọi những người còn lại trong các bộ phái là Tiểu thừa (Hinayana- cỗ xe nhỏ chỉ chở được một người tới Niết Bàn). 1] Một số kinh điển tiêu biểu của Đại thừa là kinh Bát Nhã, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Duy Ma, Lang Gia. Vào thế ky XII- XIII, Phat giáo suy tàn trên đất Ấn song lại lan truyền mạnh mẽ ở các nước châu Á theo hai dòng: dòng Phật giáo Đại thừa, hay còn gọi là Phật giáo Bac tông, truyền tới các nước phía Bắc như Việt Nam, Trung quốc, Tây Tạng, Triều Tiên.
với trung tâm là Trung Quốc, dòng Phật giáo Tiểu thừa, hay còn gọi là Phật giáo Nam tông, truyền tới các nước phía Nam như Srilanka, Mianmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Inđônêxia. với trung tâm là Srilanka. Kinh điển Phật giáo rất đồ sộ, gồm ba bộ phận (Tripitaka- Tam tạng hay ba cái giỏ): 1, Kinh (Sutra pitaka): Ghi lời Phật Thích Ca thuyết pháp; 2, Luật (Vinaya pitaka): Các giới luật mà giáo đoàn Phật giáo phải tuân theo; 3, Luận (Abhidhamma pitaka): Các tác phẩm luận giải về Phật giáo của các cao tăng, hoc giả. Việc phân chia kinh điển Phật giáo ở từng giai đoạn khá phức tạp nên chỉ mang tính chất tương đối.
Cho tới nay cũng khó xác định đâu là ý Phật Thích Ca thuyết pháp (Phật giáo nguyên thuỷ), đâu là ý mà các thế hệ sau thêm vào (Phật giáo Tiểu thừa và Đại thừa), bởi vì Thích Ca chỉ khẩu truyền giáo lý, sau khi ông mất, học trò mới tập hợp để ghi lại trong các bộ kinh. Mặc dù có sự phân chia thành các tông phái khác nhau song Phật giáo vẫn dựa trên một nền tảng chung mà tâm điểm là quan niệm về giải thoát. NHỮNG TIỀN ĐỀ, ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH QUAN NIỆM VỀ GIẢI THOÁT TRONG PHẬT GIÁO Lịch sử tư tưởng mỗi dân tộc bao giờ cũng là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội. Tư tưởng không phải là một sự định san huyền bí hay xuất phát từ hư vô mà được hình thành trên nền tảng tồn tại xã hội và trong dòng chảy của sự kế thừa những tinh hoa tư tưởng truyền thống.
Vì vậy, muốn hiểu thấu đáo quan niệm về giải thoát của Phật giáo, không thể không tính đến những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, xã hội cũng như những yếu tố tư tưởng, văn hoá mà trên đó Phật giáo được hình thành và phát triển. Môi trường tự nhiên 1. Ấn Độ là một đất nước phức tạp về địa hình và khí hậu. Đó là một tiểu lục địa vừa cách biệt với bên ngoài vừa chia cắt ở bên trong.
Bán đảo hình tam 12 giác này mặc dù nằm ở châu Á nhưng lại bị ngăn cách với châu lục này bởi dãy Hymalaya- dãy núi cao nhất thế giới. Hai mặt đông- tây giáp Ấn Độ Dương. Những chướng ngại do tự nhiên mang lại đã khiến cho Ấn Độ trở thành một khu vực tương đối riêng biệt, ít quan tâm tới thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, đây lại là một yếu tố giúp cho đất nước này bảo tồn được bản sắc văn hoá của mình.
Nơi đây bảo lưu nhiều yếu tố văn hoá truyền thống cổ xưa nhất trên thế giới. Lãnh thổ rộng lớn của Ấn Độ (tương đương với diện tích châu Âu) bị cắt đôi bởi dãy núi Vindhya. Nửa phía bắc là hai đồng bằng rộng lớn do sông Ganga (sông Hằng) chảy về phía đông bắc và sông Indus (sông Ấn) chảy về phía tây bắc tạo nên. Nửa phía nam là dãy núi Vindhya kéo đài thành cao nguyên Dekkan.
Thiên nhiên Ấn Độ đa dạng và phức tạp với miền bắc lắm sông ngòi, đồng ruộng, miền nam lắm rừng, nhiều núi. Núi cao, biển rộng, sông dài đã tạo thành tính đa dạng, phúc tạp của văn hoá Ấn đồng thời in dấu ấn khá đậm nét trong nền van hoá, đặc biệt là tôn giáo- triết học Ấn Độ. Hình ảnh những dòng sông chảy ra biển cả có nét tương đồng với tư tưởng hoà nhập của linh hồn cá nhân vào linh hồn vũ trụ, của tiểu ngã vào đại ngã trong kinh Upanishad. Thời Ấn Độ cổ, các lớp học nằm ở trong rừng núi tĩnh mịch- “một nền văn minh nảy nở giữa rừng xanh” (Tagor).
Đây là một cơ sở để giải thích tại sao tư duy Ấn Độ có xu hướng trầm tư, mặc tưởng và hướng nội, khác với những nên văn minh xuất phát từ thành thị của phương Tây. Vị trí địa lý cũng tạo nên tính chất khắc nghiệt của khí hậu Ấn Độ. Khí hậu của đất nước này khác nhau như ngày và đêm. Hàng năm, Ấn Độ có những tháng hè nóng bỏng có khi lên tới trên 40° C.
Bão cát từ sa mạc Thar thổi về hun nóng và vùi lấp cả một vùng rộng lớn. Sau một thời gian dài khô nóng là những cơn mưa như trút nước. Những cơn mưa đem lại sự hồi sinh cho cây cỏ, đất trời va con người nhưng cũng mang theo cả thiên tai, lụt lội, tan phá mùa màng, cuốn trôi nhà cửa, giết hại sinh mạng của con người và súc vật. Ta thấy, thấp thoáng bóng dáng của tự nhiên bất định trong triết lý “vô thường vô ngã” của Phật giáo với hình ảnh “dòng thác đổ mau và trôi xa”.
Sự vận hành của cuộc sống canh nông qua bốn mùa xuân hạ thu đông trong một vòng tuần hoàn khép kín gợi ý 13 cho tư tưởng về kiếp luân hồi và khát khao bứt phá khỏi “cái viễn cảnh buồn chán của sự lặp đi lặp lại không cùng của lịch sử, phản ánh sự ngưng đọng nhàm chán của cuộc sống khác ở làng xã Ấn Do” [54, tr. Đó cũng là cơ sở để giải thích sự ngưng đọng về thời gian trong tư duy người Ấn. Mặt khác, thiên nhiên bao la cũng là cái nôi nuôi dưỡng, đùm bọc con người. Bởi thế, quan niệm về giải thoát trong Phật giáo nói riêng và triết học Ấn Độ nói chung cũng là tư tưởng hoà đồng với thế giới tự nhiên, nuôi dưỡng mối thâm tình với muôn loài (“bất sát”).