Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Âm nhạc học với đề tài "Âm nhạc trong lễ hội truyền thống của người Việt xứ Thanh" tập trung khảo sát, phân tích và hệ thống hóa diện mạo âm nhạc dân gian của người Việt trong không gian lễ hội cổ truyền tại tỉnh Thanh Hóa.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Thanh Hóa là vùng đất có bề dày lịch sử, quê hương của nhiều triều đại phong kiến và căn cứ địa của các phong trào khởi nghĩa giành độc lập dân tộc. Trải qua tiến trình lịch sử, cộng đồng cư dân bản địa đã kiến tạo một hệ thống di sản văn hóa dân gian phong phú, trong đó lễ hội cổ truyền là không gian tích hợp các thực hành tín ngưỡng, tinh thần thượng võ và các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian (hát múa, trò diễn, diễn xướng).

Về mặt âm nhạc, xứ Thanh thể hiện tính phân hóa và giao thoa đa dạng:

  • Lưu vực sông Mã định hình các làn điệu Hò sông Mã.
  • Khu vực Thọ Xuân (địa bàn cuộc khởi nghĩa Lam Sơn) lưu giữ múa hát Xuân Phả mang đậm dấu ấn nghệ thuật cung đình.
  • Hát Ghẹo và hệ thống trò diễn phân bố rộng rãi tại Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Thiệu Hóa, Yên Định.
  • Khu vực Tĩnh Gia (vùng đệm nối đồng bằng Thanh Hóa với đồng bằng Nghệ An) phát triển các thể loại hát Khúc, hát Lịch trình, hát Trống vả, hò Hái củi mang âm hưởng miền Trung.
  • Ngoài ra còn có sự xuất hiện của Trống quân, Cò lả, Sa mạc cùng các phường Chèo, Tuồng rải rác ở một số địa phương.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận âm nhạc dân gian Thanh Hóa dưới góc độ văn hóa dân gian (tập trung vào văn bản lời ca hoặc phong tục sinh hoạt), hoặc chỉ khảo sát lẻ tẻ một số làn điệu, trò diễn đơn lẻ. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện và chuyên sâu về cấu trúc, đặc điểm nghệ thuật và vai trò của âm nhạc trong không gian lễ hội truyền thống người Việt xứ Thanh.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản luận án xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu gồm:

  1. Tìm hiểu, nghiên cứu nhằm nêu bật các đặc điểm nghệ thuật của âm nhạc dân gian người Việt xứ Thanh.
  2. Khẳng định các giá trị xã hội và giá trị nghệ thuật của âm nhạc dân gian thông qua hệ thống âm nhạc trong lễ hội (bao gồm cả âm nhạc trong phần lễ và phần hội).
  3. Chứng minh nghệ thuật âm nhạc dân gian Thanh Hóa nằm trong tổng thể nguyên hợp của nhiều khía cạnh văn hóa dân gian mang tính liên ngành.
  4. Đóng góp dữ liệu khoa học vào việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị của nền âm nhạc dân gian truyền thống.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Âm nhạc dân gian của người Việt ở tỉnh Thanh Hóa tồn tại trong không gian lễ hội cổ truyền.
  • Phạm vi nội dung: Đặc điểm âm nhạc trong các làn điệu dân ca; trong các trò diễn, diễn xướng; âm nhạc trong nghi thức tế Thành hoàng; kết hợp so sánh với một số thể loại dân ca ở các vùng miền khác để làm sáng tỏ vai trò, chức năng và đặc trưng âm nhạc dân gian xứ Thanh.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính tỉnh Thanh Hóa (khái niệm "Xứ Thanh" được sử dụng đồng nhất với không gian địa lý - hành chính của tỉnh Thanh Hóa ngày nay).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát các hiện tượng âm nhạc gắn với lễ hội từ nguồn gốc lịch sử (thời Lý, Trần, Lê Sơ, Hậu Lê, Nguyễn) đến các đợt khảo sát thực địa từ năm 1995 đến giai đoạn thực hiện luận án.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước được luận án điểm lại

Hướng tiếp cận Tác giả, công trình, năm công bố Nội dung và đóng góp chính Giới hạn được chỉ ra trong văn bản
Văn hóa dân gian qua văn bản lời ca Vương Duy Trinh (1903), Thanh Hóa quan phong Ghi chép một số văn bản lời ca trò Múa đèn Đông Anh. Mang tính ghi chép tư liệu ban đầu, chưa có phân tích âm nhạc.
Nhóm Lam Sơn - Vũ Ngọc Khánh chủ biên (1965), Dân ca Thanh Hóa Trình bày văn bản lời ca; liệt kê, miêu tả các thể loại: trò diễn, hò sông Mã, hát Cửa đình, hát Ghẹo. Chưa đề cập đến các thể loại vùng ven biển Tĩnh Gia như hò Hái củi, hát Lịch trình, hát Trống vả.
Hoàng Khôi, Kim Lữ (1988), bài viết trên tạp chí Văn hóa dân gian Cung cấp tư liệu điều tra về Múa đèn ở Thanh Hóa. Giới hạn trong phạm vi trò Múa đèn.
Vũ Ngọc Khánh (1988), tập sưu tập Trò Ngô Tập hợp tư liệu về trò Ngô ở vùng Đông Sơn. Tiếp cận dưới góc độ folklore, chưa phân tích âm nhạc học.
Trần Thị Liên (1988), Trò diễn dân gian vùng Đông Sơn Khai thác tương đối đầy đủ hệ thống trò diễn Đông Sơn về phương diện văn hóa dân gian. Tập trung vào văn hóa và diễn xướng dân gian, không đi sâu vào lý thuyết âm nhạc.
Lê Huy Trâm, Hoàng Anh Nhân (2001, 2005), Lễ tục lễ hội truyền thống xứ Thanh (Tập I & II) Sưu tầm, biên soạn chi tiết các hoạt động lễ hội và ghi chép văn bản lời ca dân gian. Chủ yếu là tư liệu văn bản và mô tả phong tục lễ hội.
Phạm Minh Khang (2004), tạp chí Văn hóa dân gian số 3 Bài viết "Trò hát thờ làng Mưng, dấu vết còn lại của chiếng chèo Thanh". Giới hạn ở một trường hợp trò hát thờ cụ thể.
Sưu tầm, ký âm và nghiên cứu âm nhạc Lê Quang Nghệ (1962), bản ký âm xuất bản Sưu tầm và ký âm trò Múa đèn Đông Anh. Công bố bản ký âm đơn lẻ.
Tuyển tập Hò trong dân ca người Việt Ký âm và giới thiệu một số làn điệu Hò sông Mã. Tư liệu ký âm chưa đặt trong tổng thể không gian lễ hội.
Nhóm Phạm Minh Khang, Hoàng Hải, Hoàng Anh Nhân (1997), Khảo sát trò Xuân Phả Chứng minh yếu tố nghệ thuật cung đình qua trình diễn và múa; phân tích thang âm, điệu thức, tiết tấu, giai điệu. Công trình tập trung chuyên biệt vào hệ thống trò Xuân Phả.
Đào Việt Hưng (1999), Tìm hiểu điệu thức dân ca của người Việt - Bắc Trung Bộ Khảo sát thang âm, điệu thức của trò Tiên Cuội và Múa đèn Đông Anh. Nghiên cứu điệu thức trong diện hẹp một số bài bản.
Nguyễn Trung Liên (2003), Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu âm nhạc Múa đèn Đông Anh dưới góc độ văn hóa dân gian. Giới hạn trong một thể loại múa đèn.

Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án kế thừa các nguồn tư liệu văn bản lời ca và bản ký âm của các thế hệ nghiên cứu đi trước, đồng thời bổ sung các khảo sát điền dã trực tiếp từ năm 1995 (tiểu luận đại học về Múa đèn Đông Anh, trống tế Phú Khê - Hoằng Hóa) và giai đoạn 2002 - 2006 (luận văn thạc sĩ về âm nhạc trò diễn). Vị trí của luận án được xác định là công trình chuyên khảo đặt âm nhạc dân gian Thanh Hóa vào chỉnh thể không gian lễ hội cổ truyền, kết hợp khảo sát đồng thời cả hai bộ phận: âm nhạc nghi lễ (dàn trống tế, bài bản tế) và âm nhạc diễn xướng dân gian (dân ca, trò diễn), bao quát từ vùng đồng bằng, miền núi đến vùng duyên hải giáp ranh Nghệ An.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm

  • Khái niệm "Xứ" và "Xứ Thanh": Kế thừa quan điểm địa - văn hóa, địa - lịch sử của Pierre Pasquier (1931), GS. Trần Quốc Vượng, GS. Phan Ngọc (Bản sắc văn hóa Việt Nam), GS.VS. Trần Ngọc Thêm (Cơ sở văn hóa Việt Nam). Luận án sử dụng "Âm nhạc Xứ Thanh" như một thuật ngữ văn hóa học, xác định không gian nghiên cứu đồng nhất với địa giới hành chính tỉnh Thanh Hóa.
  • Khái niệm "Lễ hội": Vận dụng quan điểm của TSKH. Trần Ngọc Thêm (Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam - phần lễ mang ý nghĩa cầu xin, tạ ơn; phần hội gồm các trò vui chơi giải trí xuất phát từ ước vọng nông nghiệp) và PGS. Ngô Đức Thịnh (Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam - lễ hội gồm tế lễ, rước, tục hèm, sinh hoạt văn hóa và trò diễn nghi lễ).
  • Phân loại thần linh: Dựa trên phân loại của PGS. Ngô Đức Thịnh gồm Thiên thần, Nhiên thần và Nhân thần.
  • Khái niệm "Diễn xướng" và "Trò diễn": Phân định dựa trên ý kiến của PGS. Lê Trung Vũ, GS. Bùi Văn Nguyên, PGS. Vũ Ngọc Khánh và tác giả Trần Thị Liên:
    • Diễn xướng: Cấu thành từ yếu tố "diễn" (động tác tay, chân, đầu, mặt) và "xướng" (hát, nói, nói vần, nói thơ), phản ánh sinh hoạt văn nghệ tập thể chưa có cốt truyện độc lập.
    • Trò diễn: Cấu thành từ yếu tố "diễn" (hành động biểu cảm) và "trò" (nghệ thuật diễn đạt cốt truyện/tích), có nhân vật định hình về tính cách, có cốt truyện và thủ pháp xưng danh.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp tri thức của Dân tộc học, Văn hóa học, Âm nhạc học và Thống kê học.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Điền dã, sưu tầm, thu thanh, ghi hình, chụp ảnh, phỏng vấn và ghi chép tư liệu trực tiếp từ các nghệ nhân dân gian cao tuổi tại các địa bàn nghiên cứu.
  • Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh: Phân tích cấu trúc bài bản, thang âm, điệu thức, tiết tấu và đối chiếu giữa các thể loại âm nhạc nội tỉnh và liên vùng (vùng châu thổ sông Hồng và khu vực Bắc Trung Bộ).

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản lịch sử và địa chí: Địa chí Thanh Hóa, Quốc sử quán triều Nguyễn (1970), Sứ giao tập (Trần Cương Trung thời Trần), thần tích, thần phả, hương ước và khoán văn làng xã (như bản khoán văn trò Tứ Bôn).
  • Dữ liệu điền dã âm nhạc: Các bản ghi âm, tư liệu ghi chép thực tế tại các làng xã thuộc Đông Sơn, Hoằng Hóa, Thọ Xuân, Hậu Lộc, Quảng Xương, Tĩnh Gia, Vĩnh Lộc, Yên Định, Nông Cống.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Môi trường tự nhiên - Văn hóa xã hội tỉnh Thanh Hóa

Chương 1 thiết lập nền tảng địa - văn hóa và bối cảnh xã hội hình thành nên các loại hình lễ hội và âm nhạc dân gian xứ Thanh.

Đặc điểm địa lý, hành chính và dân cư

  • Lịch sử định danh: Phủ Thanh Hóa xuất hiện từ thời Lý (năm Thuận Thiên thứ 1), qua các lần đổi tên: Trấn Thanh Đô (1397), Phủ Thiên Xương/Tây Đô (1430), Thừa Tuyên Thanh Hóa (1466), Thừa Tuyên Thanh Hoa (1469), Trấn Thanh Hóa (1802), Tỉnh Thanh Hoa (1831), và chính thức đổi thành Tỉnh Thanh Hóa từ năm Thiệu Trị thứ nhất (1841).
  • Vị trí và địa hình: Nằm ở tọa độ 19°18'B đến 20°40'B, 104°22'Đ đến 106°05'Đ. Phía Bắc giáp Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình; phía Nam và Tây Nam giáp Nghệ An; phía Tây giáp Hủa Phăn (Lào) với đường biên giới 192 km; phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ với bờ biển dài hơn 102 km. Diện tích tự nhiên: 11.109 km², chia thành 3 vùng: đồng bằng ven biển, trung du, miền núi. Thềm lục địa rộng 18.000 km².
  • Dân cư (theo điều tra năm 2009): Dân số 3.400.595 người (văn bản ghi 3.239 ngàn người), mật độ trung bình 305 người/km², gồm 7 dân tộc chủ yếu: Kinh, Mường, Thái, Thổ, Dao, Mông, Khơ Mú (người Kinh chiếm đa số).
  • Phân vùng hành chính:
    • Miền núi: Thạch Thành, Cẩm Thủy, Lang Chánh, Ngọc Lạc, Thường Xuân, Như Xuân, Quan Hóa, Bá Thước (diện tích 8.000 km²).
    • Miền xuôi: TP. Thanh Hóa, TX. Bỉm Sơn, TX. Sầm Sơn và các huyện Thọ Xuân, Triệu Sơn, Nông Cống, Đông Sơn, Thiệu Yên, Vĩnh Lộc, Hà Trung, Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia (diện tích 3.000 km²).
  • Mạng lưới thủy văn: 3 hệ thống sông chính:
    • Sông Mã: Dài 242 km, có các phụ lưu: sông Bưởi (325 km), sông Hoạt (55 km), sông Cầu Chày, sông Tào, sông Trà Giang, sông Báo Văn.
    • Sông Chu: Dài 325 km, các phụ lưu: sông Khao, sông Đặt, sông Đằng, sông Âm; hợp lưu với sông Mã tại Ngã Ba Đầu.
    • Sông Yên: Dài 94 km, phụ lưu: sông Nhơm, sông Hoàng, sông Thị Long; đổ ra biển tại Hải Ninh (Ghép).
    • Sông Bạng: Dài 35 km ở cực Nam Tĩnh Gia; cùng hệ thống Sông đào nhà Lê nối từ Đồng Cổ đến sông Bà Hòa.
    • 6 cửa sông lớn: Hoạt (Nga Thái), Lèn (Nga Bạch), Lạch Trường (Hải Lộc - Hoằng Trường), Cửa Hới (Hoằng Hóa - Quảng Xương), Lạch Ghép (Quảng Nham - Hải Châu), Lạch Bạng (Hải Thanh - Hải Bình).

Cơ sở hình thành và phân loại lễ hội

  • Đối tượng thờ phụng: Chủ yếu là Nhân thần (các anh hùng có công đánh giặc, dựng làng như Bà Triệu, Lê Hoàn, Lê Lợi, Lê Lai, Trần Khát Chân...). Đáng chú ý có tục thờ tướng ngoại bang Lê Ngọc (Thánh Lưỡng ngũ vị) và con út (Đức vua Chàng Út) với truyền thuyết "Cửu thập lục từ" (96 đền thờ, tập trung từ Đông Sơn đến Nông Cống).
  • Thời điểm mở hội: Diễn ra từ tháng Giêng đến tháng Ba âm lịch (một số tổ chức vào tháng Tư như đền Đồng Cổ, đền Đún). Lễ hội lớn có thể tổ chức định kỳ 3 năm (Nghè Sâm vào các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) hoặc 4 năm (Đền Độc Cước vào các năm Tí, Ngọ, Mão, Dậu cho 4 làng: Núi, Cá Lập, Lương Trung, Hới). Đền Đún mở hội ngày 23 - 25 tháng 4 (ngày kỵ Trần Khát Chân). Làng Duy Tinh mở hội vào ngày Đinh từ ngày 1 đến 14 tháng 2.
  • Không gian tổ chức: Đình (kiến trúc chữ Đinh gồm Hậu cung và Tiền tế), Đền, Miếu, sân đình và nền áng của làng.
  • Phân loại lễ hội:
    • Lễ hội tín ngưỡng phong tục: Mang đậm yếu tố phồn thực nông nghiệp (kéo trò Chụt ở làng Thiết Đanh - Yên Định lúc sáng sớm; thờ Tứ vị Hồng nương ở cửa biển Cự Nham, Hải Thanh; thờ Thần Núi Cao Sơn, Độc Cước tại Hòn Cổ Giải - Sầm Sơn với tục thờ thủ trâu sống).
    • Lễ hội lịch sử: Gắn với nhân vật và sự kiện lịch sử (Lễ hội Bà Triệu ở làng Phú Điền với trò Ngô Triệu giao quân; Lễ hội Đền Thánh Tến thờ Lê Phụng Hiểu với múa hát Chèo chải; Lễ hội Đền Đún thờ Trần Khát Chân với hát Ca công và Chèo chải xếp chữ "cầu phúc"; Lễ hội làng Xuân Phả gắn với thời kỳ khởi nghĩa Lam Sơn và nghệ thuật cung đình nhà Lê).

Tiến trình lễ hội và nghi thức tế lễ

  • Chuẩn bị: Cỗ mặn (xôi, gà, thủ lợn; vùng biển có cá sống, cá nướng, thuyền giấy), cỗ chay (bánh bột gạo/mỳ, hoa quả). Trang phục tế (áo thụng xanh, đỏ, thêu rồng cho chủ tế, mũ quan văn cho bồi tế, áo thụng đen cho chấp sự, áo dài đỏ/trắng cho tế Nữ quan). Trang phục hội (đồng phục cho múa đèn, chèo chải; trang phục nhân vật: Mẹ Mõ mặt rỗ váy đụp, Cu Sứt môi sứt, thầy địa lý áo dài đen la bàn, quan võ Lưu Quân Bình áo đỏ đeo kiếm, Tiên nữ đội khăn Hàn ba tầng mũ Cánh Tiên, Chú Khách/Ngô già cài cuống dứa gai làm răng trắng hô, Chúa Ai Lao/Chiêm Thành áo thụng ngực thêu mặt nguyệt rồng chầu).
  • Nhạc cụ và đạo cụ: Đề cao bộ gõ (trống phách, trống bản, mõ; dàn nhạc tế có 4 nhóm nhưng màng rung dẫn bè, tự thân vang giữ nhịp so le; đàn nhị xuất hiện sau này). Đạo cụ đồng bộ (mái chèo, quạt giấy, cờ nhỏ, mặt nạ, xênh, đĩa đèn); đạo cụ nhân vật (bát nhang, ống nứa đồ chơi "cái xiềng cái xò" của trò Ngô).
  • Tiến trình nghi thức tế lễ: Điều hành bởi Đông xướng và Tây xướng, gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn Các nghi thức chính Âm nhạc và bài bản phục vụ
Giai đoạn 1: Chuẩn bị Khởi chinh cổ; Nhạc xanh tựu liệt / Nhạc tác; Sơ nghiêm, Tái nghiêm, Tam nghiêm; Củ soát tế vật; Quán thủ, Phế căn. Đánh 3 hồi chiêng trống; tấu bài Nhạc tác; điểm tang trống (sơ nghiêm), bài Trống bong (tái nghiêm), bài Trống tán bình thân (tam nghiêm) như tại đình Hoằng Quý.
Giai đoạn 2: Hành lễ Thượng hương; Nghinh lễ cúc cung bái; Ti tôn giả cử mịch; Chước tửu (3 lần dâng rượu); Sơ hiến lễ nghệ tôn thần vị tiền; Hiến tước; Tiến tước; Độc chúc. Nhịp trống khoan thai, nhịp nhàng cho chủ tế bước đi: Trống nhịp lỏi (đình Phượng Mao), Trống tán (đình Đông Cao), Trống rước (đền Chu Nguyên Lương).
Giai đoạn 3: Kết thúc Ẩm phước (thụ phước); Bình thân phần chúc (hóa văn tế); Tạ lễ cúc cung bái; Lễ tất. Điểm trống cái (đền Lạch Bạng), Trống nhịp lỏi (đình Hoằng Phượng), Trống tán bình thân (đình Hoằng Quý); kết thúc bằng một hồi trống dài.

(Thống kê số lượng nghi thức trong văn bản: Đình Hoằng Quý có 61 nghi thức xướng lễ; Đền Chu Nguyên Lương có 47 nghi thức xướng lễ).


Chương 2: Lễ hội truyền thống xứ Thanh mang dấu ấn vùng miền

Chương 2 đi sâu khảo sát các thành tố âm nhạc, thể loại dân ca, khái niệm và hệ thống trò diễn dân gian.

Các loại hình nghệ thuật có âm nhạc trong lễ hội

  • Dân nhạc: Không có nhạc cụ độc tấu chuyên biệt; bài bản dân nhạc tồn tại dưới dạng hòa tấu phục vụ tế lễ và rước kiệu với 3 hình thức: dàn trống tế, dàn bát âm, hoặc hòa tấu trống - chiêng.
  • Dân ca trong lễ hội:
    • Hát Ghẹo: Có chức năng giao lưu, ứng tác đối đáp. Phân hóa thành:
      • Hát Ghẹo miền quê gắn với công việc đồng áng nông nghiệp ("phường cấy", "phường gặt").
      • Hát Ghẹo miền biển gắn với môi trường sông nước (gọi là Hò ghẹo, Hò than ở bến Than, Hò đắp đê ở Hoằng Hóa với động tác cầm đầm, thuổng mô phỏng đắp đê sông Mã).
      • Hát Ghẹo có tổ chức thành phường: Gồm 3 chặng (Chặng 1: Hát dạo, hát mừng, hát thăm; Chặng 2: Hát đố, hát đối, hát xe kết; Chặng 3: Hát thề, hát dặn, hát xe kết). Luận án đối chiếu với Hát Ghẹo Phú Thọ (cũng có 3 chặng: Hát đón -> Vào nhà với 36 giọng -> Chia tay giã bạn). Hát Ghẹo Thanh Hóa không có làn điệu độc lập mà sử dụng luân phiên các làn điệu Trống quân, Cò lả, Sa mạc, Bồng mạc rồi thay lời ca.
    • Hát Nhật trình: Phổ biến ở vùng biển Tĩnh Gia, nội dung như cuốn nhật ký đi biển ghi lại địa danh, luồng lạch, kinh nghiệm đánh bắt cá; diễn xướng tập thể trên thuyền hoặc trong hội làng.
    • Hát Trống vả: Vùng Tĩnh Gia, gồm một người hát chính và tập thể phụ họa; hát hết một cặp thơ lục bát thì cả nhóm cùng vỗ tay lên mặt trống và nhắc lại các từ cuối câu.
    • Hò Hái củi: Thể loại lao động tại Tĩnh Gia, giai điệu bình ổn, ít lên bổng xuống trầm (khảo sát nghệ nhân Lê Thị Đoái, 75 tuổi).
    • Hát Khúc: Khúc hát ru mang phong cách Hát Dặm Nghệ An tại vùng chài Tĩnh Gia, dùng ru con ngủ, không đưa vào trình diễn lễ hội.
    • Nghệ thuật bán chuyên nghiệp: Hát Ca công (Ca trù), Tuồng, Chèo xuất hiện rải rác.

Khái niệm, nguồn gốc và tiến trình phát triển của Trò diễn và Diễn xướng

  • Phân biệt bản chất: Diễn xướng là hình thức hát múa đơn thuần không có cốt truyện (như Thủy phường diễn xướng chèo thuyền, múa quạt 19 xương). Trò diễn bắt buộc phải có cốt truyện, nhân vật định hình tính cách và xưng danh (như Trống Mõ với nhân vật Trống, Mõ, Mẹ Mõ, Cu Nhớn; Tiên Cuội với Chú Cuội).

  • Nguồn gốc lịch sử:

    • Trò Ngô Triệu giao tranh: Xuất phát từ khởi nghĩa Bà Triệu (năm 248).
    • Hệ thống Ngũ trò Viên Khê (Nghè Sâm): Thời Thái thú Lê Ngọc, gồm 11 trò (Trò không hát: Xiêm Thành, Tô Vũ, Hùm/Vằn Vương; Trò có hát: Múa đèn, Trống Mõ, Hà Lan, Thiếp, Thủy, Ngô, Tú Huần).
    • Hệ thống Trò Triềng: Do Thái bảo Trịnh Quốc Bảo (Trịnh Bạn, sinh năm 998 thời Lý Thánh Tông) sáng lập dựa trên trận đánh dẹp giặc Chiêm Thành (diễn voi nan, long binh, kỵ binh, bộ binh thiên vương).
    • Điệu múa Tú Huần: Ghi nhận trong Sứ giao tập của sứ giả Trần Cương Trung thời Trần; thời Lê Sơ được Nguyễn Mộng Tuân truyền dạy cho dân làng Viên Khê.
    • Trò diễn Đền Đún: Tưởng niệm danh tướng Trần Khát Chân (chém Chế Bồng Nga năm 1390, bị hại trên núi Đún).
    • Hệ thống Trò Xuân Phả: Hình thành từ thời Lê Sơ sau thắng lợi khởi nghĩa Lam Sơn, liên quan đến hai tác phẩm cung đình Bình Ngô phá trận và Chư hầu lai triều do Nguyễn Trãi biên soạn thời Lê Thái Tông.
    • Hệ thống Trò Tứ Bôn (Cổ Bôn): Gắn với công thần Hậu Lê là Nguyễn Văn Nghi và Nguyễn Khải (gồm Trò đánh cờ, Tiên Cuội, Thủy phường, Ngô phường, Lan phường, Lăng Ba Khúc).
  • 3 cấp độ phát triển của trò diễn dân gian xứ Thanh:

    1. Cấp độ 1 (Sơ khai - Phồn thực): Nằm trong các lễ tục nhỏ; diễn xướng tự do, ứng tác tại chỗ; chưa phân biệt ranh giới giữa diễn viên và công chúng; đạo cụ thô sơ lấy từ đời sống (Trò Chụt, Rối, Cơm đắp, Cơm thi, Vật Bộc).
    2. Cấp độ 2 (Tác động lịch sử - Cung đình hóa): Hình thành theo kỳ lệ gắn với các sự kiện và nhân vật lịch sử; nội dung và bài bản cố định, có tập luyện; diễn viên biểu diễn tách biệt với khán giả; hóa trang và đạo cụ chế tác riêng (phát triển từ dân ca có sẵn như múa hát Chèo chải, hoặc hình thành hệ thống trò Triềng, trò Xuân Phả).
    3. Cấp độ 3 (Giao thoa Dân gian và Cung đình): Quá trình thẩm thấu hai chiều: nghệ thuật dân gian vào cung đình, sau đó yếu tố cung đình được các công thần về nghỉ truyền dạy lại cho quê hương (như Nguyễn Mộng Tuân truyền dạy trò Xiêm Thành, Hoa Lang, Tú Huần, Ngô Quốc tại Viên Khê). Hình thành hệ thống trò diễn có tính tổng hợp cao về nghệ thuật múa, hát, kịch nghệ và nhân vật đa tầng.

Nội dung lễ hội qua ngôn ngữ thơ ca

Lời ca trong âm nhạc lễ hội xứ Thanh phản ánh rõ cấu trúc văn học:

  • Thể thơ 7 từ: Hát chúc Thánh và chúc triều đình ("Nhất bái cầu quốc gia trường trị / Kính chúc dâng thánh thọ vô cương" trong trò Ngô Quốc - Xuân Phả, Múa đèn Thiệu Quang).
  • Thể thơ lục bát: Phổ biến trong hát chúc tụng (Trò Hà Lan, Trò Thủy), hát chèo chải đón rước Thành hoàng ("Ta chèo một mái sang sông / Rước lấy đô đốc, quận công về đình"), nhắc lịch tế lễ (Hát Lịch trình), miêu tả chu kỳ lao động 12 tháng và buôn bán mùa vụ (Trò Múa đèn Đông Anh, Trò Trống Mõ).

Chương 3: Âm nhạc trong lễ hội

Chương 3 là phần phân tích chuyên sâu về mặt âm nhạc học đối với các bài bản nghi lễ và diễn xướng:

  • Cấu trúc âm nhạc tế lễ: Phân tích đặc tính diễn tấu của dàn trống tế; cấu trúc các bài bản trống phục vụ từng nghi thức tế tự (các quận trống: Trống nhịp lỏi, Trống tán, Trống bong, Trống rước, Trống tán bình thân); nguyên lý đối âm, đối tiết tấu giữa bè màng rung (trống cái, trống bản dẫn bè) và nhóm tự thân vang (chiêng, mõ, xênh giữ nhịp).
  • Âm nhạc dân ca và trò diễn: Phân tích thang âm, điệu thức, cấu trúc tuyến giai điệu, bước nhảy quãng, tiết tấu đệm và kỹ thuật lấy hơi, luyến láy trong các thể loại Hò sông Mã, Hát Ghẹo, Hát Nhật trình, Hát Trống vả, Múa đèn Đông Anh và hệ thống âm nhạc trò Xuân Phả.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án phân định rõ ràng tiêu chí học thuật giữa hai khái niệm "Diễn xướng dân gian" và "Trò diễn dân gian", làm sáng tỏ mối quan hệ từ diễn xướng (chưa có tích truyện) phát triển thành trò diễn (có tích truyện, nhân vật và xưng danh).
  2. Xác lập mô hình 3 cấp độ phát triển của hệ thống trò diễn dân gian xứ Thanh, chứng minh quy luật vận động mang tính chu kỳ: từ nghệ thuật dân gian đi vào cung đình, được chuẩn hóa và nâng cao, rồi từ cung đình lại lan tỏa trở về dân gian thông qua tầng lớp công thần triều đình.
  3. Làm rõ tính chất chuyển tiếp và giao thoa vùng miền của âm nhạc dân gian Thanh Hóa: vừa mang phong cách âm nhạc châu thổ sông Hồng (Bắc Bộ), vừa tích hợp sắc thái âm nhạc Bắc Trung Bộ (Nghệ An), vừa định hình các phong cách bản địa riêng biệt.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Hệ thống hóa diện mạo âm nhạc lễ hội truyền thống người Việt xứ Thanh một cách toàn diện ở cả hai mảng: âm nhạc nghi lễ (trống tế, trình tự tế) và âm nhạc hội làng (dân ca, trò diễn).
  2. Khảo sát, ghi chép và lưu giữ tư liệu điền dã quý giá về các thể loại âm nhạc dân gian đặc thù có nguy cơ mai một cao (như hát Lịch trình, hát Trống vả, hò Hái củi vùng Tĩnh Gia; các bài bản trống tế tại Hoằng Quý, Chu Nguyên Lương, Phú Khê).
  3. Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy phục vụ công tác quản lý văn hóa, phục dựng lễ hội truyền thống và xây dựng chương trình giáo dục âm nhạc di sản tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của công trình

  • Một số thể loại dân ca lao động khảo sát được số lượng bài bản còn hạn chế (điển hình như Hò Hái củi tại Tĩnh Gia) do các nghệ nhân cao tuổi nắm giữ di sản đã qua đời hoặc suy giảm trí nhớ.
  • Do giới hạn phạm vi đề tài tập trung vào âm nhạc dân gian trong lễ hội của người Việt (Kinh), công trình chưa thể bao quát toàn bộ âm nhạc lễ hội của các dân tộc thiểu số khác trên địa bàn miền núi Thanh Hóa (Mường, Thái, Thổ...).
  • Nguồn gốc lịch sử chính xác của một số bài bản trống tế cổ truyền vẫn chủ yếu dựa trên lời truyền ngôn của nghệ nhân và thần tích làng xã, thiếu các văn bản ghi chép âm nhạc cổ định lượng để đối chiếu xác thực tuyệt đối.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục sưu tầm, ký âm bổ sung và số hóa các bài bản âm nhạc tế lễ, diễn xướng dân gian tại các làng xã chưa được khảo sát chi tiết.
  • Mở rộng nghiên cứu so sánh chuyên sâu về cấu trúc thang âm, điệu thức giữa âm nhạc dân gian Thanh Hóa với âm nhạc dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ và vùng Nghệ - Tĩnh.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Học viên, nghiên cứu sinh: Là tài liệu tham khảo chuyên ngành Âm nhạc học, Dân tộc nhạc học, Văn hóa học, Lịch sử và Nghệ thuật học.
    • Giảng viên, nhà nghiên cứu: Cung cấp tư liệu điền dã thực tế, bản ký âm và khung lý thuyết về phân loại diễn xướng - trò diễn.
    • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Hỗ trợ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa cùng các trung tâm bảo tồn di sản trong việc xây dựng hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể và định hướng bảo tồn lễ hội truyền thống.
  • Nội dung giá trị nhất: Khung lý thuyết 3 cấp độ phát triển của trò diễn dân gian; mô tả chi tiết tiến trình nghi thức tế lễ và cấu trúc bài bản trống tế cổ truyền; các tư liệu về dân ca vùng biển Tĩnh Gia và hệ thống trò diễn Đông Sơn, Thọ Xuân.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt "diễn xướng dân gian" và "trò diễn dân gian" dựa trên những tiêu chí nào?

Theo luận án, diễn xướng dân gian gồm hai yếu tố là "diễn" (động tác hình thể) và "xướng" (hát, nói, nói thơ), mang tính sinh hoạt nghệ thuật tập thể, không có cốt truyện độc lập (ví dụ màn múa hát Thủy phường). Trò diễn dân gian bao gồm "diễn" (hành động biểu cảm) và "trò" (nghệ thuật diễn đạt cốt truyện/tích), đòi hỏi phải có cốt truyện dân gian, có hệ thống nhân vật định hình về tính cách và có thủ pháp nhân vật tự xưng danh (như trong trò Trống Mõ, trò Tiên Cuội).

2. Trình tự tiến hành một cuộc tế Thành hoàng trong lễ hội người Việt xứ Thanh gồm những giai đoạn nào?

Một cuộc tế chuẩn mực gồm 3 giai đoạn do Đông xướng và Tây xướng điều hành:

  • Giai đoạn 1 (Chuẩn bị): Khởi chinh cổ, Nhạc tác, Sơ nghiêm - Tái nghiêm - Tam nghiêm, Củ soát tế vật, Quán thủ, Phế căn.
  • Giai đoạn 2 (Hành lễ): Thượng hương, Nghinh lễ cúc cung bái, Ti tôn giả cử mịch, Chước tửu (dâng rượu 3 lần), Sơ hiến lễ nghệ tôn thần vị tiền, Hiến tước, Tiến tước, Độc chúc.
  • Giai đoạn 3 (Kết thúc): Ẩm phước (thụ phước), Bình thân phần chúc (hóa văn tế), Tạ lễ cúc cung bái, Lễ tất.

3. Ba cấp độ phát triển của hệ thống trò diễn dân gian xứ Thanh được xác định như thế nào?

  • Cấp độ 1: Lớp trò sơ khai mang tín ngưỡng phồn thực (Trò Chụt, Rối, Cơm đắp), diễn xướng tự do, chưa tách biệt diễn viên và khán giả, đạo cụ thô sơ.
  • Cấp độ 2: Lớp trò hình thành do tác động lịch sử và cung đình hóa (Trò Triềng, Trò Xuân Phả, Chèo chải), có bài bản cố định, diễn viên tách biệt người xem, đạo cụ và trang phục chế tác riêng.
  • Cấp độ 3: Lớp trò có sự giao thoa tổng hợp cao giữa dân gian và cung đình (hệ thống trò Viên Khê do Nguyễn Mộng Tuân truyền dạy), tích hợp đa dạng tầng lớp nhân vật và vận động theo chu trình Dân gian -> Cung đình -> Dân gian.

4. Hát Ghẹo ở Thanh Hóa có cấu trúc như thế nào và điểm khác biệt so với Hát Ghẹo Phú Thọ là gì?

Hát Ghẹo có tổ chức ở Thanh Hóa gồm 3 chặng: Chặng 1 (Hát dạo, hát mừng, hát thăm), Chặng 2 (Hát đố, hát đối, hát xe kết), Chặng 3 (Hát thề, hát dặn, hát xe kết); thể loại này không có làn điệu riêng mà vận dụng thay lời trên các làn điệu dân ca Bắc Bộ (Trống quân, Cò lả, Sa mạc...). Trong khi đó, Hát Ghẹo Phú Thọ gồm: Chặng 1 (Hát đón - dùng bài bản Ghẹo cổ địa phương), Chặng 2 (Vào nhà - sang giọng qua 36 giọng khác nhau), Chặng 3 (Chia tay giã bạn).

5. Những thể loại dân ca đặc thù nào tại vùng biển Tĩnh Gia được luận án ghi nhận?

Luận án khảo sát các thể loại mang dấu ấn môi trường biển và vùng giáp ranh Nghệ An tại Tĩnh Gia gồm: Hát Nhật trình (kể kinh nghiệm đi biển và địa danh luồng lạch), Hát Trống vả (vừa hát vừa vỗ trống phụ họa theo thể thơ lục bát), Hò Hái củi (làn điệu bình ổn phục vụ lao động hái củi), và Hát Khúc (hát ru mang âm hưởng Hát Dặm Nghệ An, không trình diễn trong lễ hội).


Kết luận

Luận án "Âm nhạc trong lễ hội truyền thống của người Việt xứ Thanh" là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về âm nhạc dân gian người Việt trong không gian lễ hội cổ truyền tỉnh Thanh Hóa. Bằng phương pháp liên ngành kết hợp khảo sát điền dã thực địa và phân tích âm nhạc học, tác giả đã phục dựng toàn diện diện mạo âm nhạc nghi lễ và âm nhạc hội làng, làm sáng tỏ tính chất giao thoa văn hóa giữa đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Công trình xác lập cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa diễn xướng và trò diễn, chỉ ra quy luật vận động ba cấp độ của nghệ thuật trình diễn truyền thống xứ Thanh. Đây là nguồn tư liệu khoa học có giá trị học thuật và thực tiễn cao cho công tác nghiên cứu âm nhạc dân tộc học và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam.