CHƯƠNG 1 MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN - VĂN HÓA XÃ HỘI TỈNH THANH HÓA 1. Đặc điểm địa lý, văn hoá xã hội: Theo địa chí Thanh Hóa, Phủ Thanh Hóa có từ thời Lý (năm Thuận Thiên thứ 1); qua những lần đổi thành trấn Thanh Đô (năm Quang Thái thứ 10 - 1397), Phủ Thiên Xương (1430) hay còn gọi là Tây Đô, Thừa Tuyên Thanh Hóa (năm Quang Thuận thứ 7 - 1466), Thừa Tuyên Thanh Hoa (năm Quang Thuận thứ 10 - 1469), Trấn Thanh Hóa (năm Gia Long thứ nhất - 1802), tỉnh Thanh Hoa (năm Minh Mệnh thứ 12 - 1831); đến năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) chính thức đổi tên thành Tỉnh Thanh Hóa và tồn tại tới thời nay (Quốc sử quán triều Nguyễn, 1970). Thanh Hóa nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng ven biển miền Trung Việt Nam. Theo số liệu đo đạc hiện đại của cục bản đồ thì Thanh Hóa nằm ở vĩ tuyến 19°18' Bắc đến 20°40' Bắc, kinh tuyến 104°22' Đông đến 106°05' Đông.
Phía bắc giáp ba tỉnh: Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình; phía nam và tây nam giáp tỉnh Nghệ An; phía tây giáp tỉnh Hủa Phăn (nước Lào) với đường biên giới 192 km; phía đông Thanh Hóa mở ra phần giữa của vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông với bờ biển dài hơn 102 km. Diện tích tự nhiên của Thanh Hóa là 11.109 km², chia làm 3 vùng: đồng bằng ven biển, trung du, miền núi. Thanh Hóa có thềm lục địa rộng 18. Theo kết quả điều tra dân số năm 2009, Thanh Hóa có 3.239 người; mật độ dân số vào loại trung bình: 305 người/km².
Thanh Hóa là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống, nhưng chủ yếu có 7 dân tộc là Kinh, Mường, Thái, Thổ, Dao, Mông, Khơ Mú. Người Kinh chiếm phần lớn dân số của tỉnh và có địa bàn phân bố rộng khắp, các dân tộc khác có dân số và địa bạn sống thu hẹp hơn. 8 Thanh Hoá có thể tạm chia thành hai miền: miền núi và miền xuôi. Miền núi gồm các huyện: Thạch Thành, Cẩm Thủy, Lang Chánh, Ngọc Lạc, Thường Xuân, Như Xuân, Quan Hoá, Bá Thước.
Diện tích là: 8. Miền xuôi gồm: Thành phố Thanh Hoá, thị xã Bỉm Sơn, thị xã Sầm Sơn và các huyện: Thọ Xuân, Triệu Sơn, Nông Cống, Đông Sơn, Thiệu Yên, Vĩnh Lộc, Hà Trung, Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương, Tĩnh Gia với tổng diện tích: 3. Thanh Hoá có núi bao bọc ba phía: Tây, Tây Bắc (kết thúc bởi dãy Tam Điệp), Tây Nam (kết thúc bởi dãy núi đá thấp Hoàng Mai) và phía Đông có bờ biển trải dài từ Bắc vào Nam. Từ Bắc vào Thanh Hoá phải vượt qua dãy núi đá vôi Tam Điệp và từ Thanh Hoá vào miền Trung phải vượt qua dãy núi đá thấp và rừng Hoàng Mai.
Mạng lưới sông Thanh Hoá quy tụ thành 3 hệ thống là: sông Mã, sông Chu, sông Yên. Sông Mã là con sông lớn nhất Thanh Hoá, dài 242 km chảy từ tỉnh Hoà Bình qua các huyện Quan Hoá, Bá Thước, Cẩm Thuỷ, Vĩnh Lộc, Thiệu Yên, Hoằng Hoá, Hậu Lộc, Hà Trung; thuộc hệ thống này có sông Bưởi dài 325 km, sông Hoạt dài 55 km, và các sông nhỏ khác như sông Cầu Chày, sông Tào, sông Trà Giang, sông Báo Văn. Sông Chu là sông lớn thứ hai, dài 325 km, chảy từ huyện Thường Xuân, Thọ Xuân, Đông Sơn hoà vào cùng sông Mã ở Ngã Ba Đầu; thuộc hệ thống sông này có sông Khao, sông Đặt, sông Đằng, sông Âm. Sông Yên phát nguồn từ huyện Như Xuân, dài 94 km, chảy qua huyện Nông Cống, Quảng Xương và đổ ra biển ở Hải Ninh (Ghép); thuộc hệ thống sông này có sông Nhơm, sông Hoàng, sông Thị Long.
Ngoài ra, ở cực Nam - Thanh Hoá còn có sông Bạng dài 35 km, chảy từ Như Xuân qua Tĩnh Gia, đổ ra cửa biển Lạch Bạng. Sông đào nhà Lê từ Đồng Cổ (Thiệu Yên) chảy qua các huyện miền xuôi đến sông Bà Hoà giáp Nghệ An. 9 Bờ biển Thanh Hoá trải dài từ Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương vào hết địa phận Tĩnh Gia. Dọc bờ biển có 6 cửa sông chính là cửa sông Hoạt (chảy ra biển ở địa phận Nga Thái), cửa sông Lèn (chảy ra biển ở địa phận xã Nga Bạch), cửa Lạch Trường (chảy qua địa phận xã Hải Lộc và Hoằng Trường), cửa Hới (chảy qua địa phận Hoằng Hoá, Quảng Xương), cửa Lạch Ghép (chảy ra biển ở địa phận xã Quảng Nham và Hải Châu), cửa Lạch Bạng (chảy ra biển ở địa phận xã Hải Thanh và Hải Bình).
Do tính chất địa lý bị chia cắt nhiều tiểu vùng bởi các con sông và núi, đồi chạy từ Tây sang Đông tạo ra các vùng tiểu nhiệt đới, có sự chênh lệch lớn giữa các khu vực nên Thanh Hoá có khí hậu tương đối phức tạp, thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa Đông lạnh, có sương giá, sương muối và ít mưa; mùa hè nóng, có gió Tây khô và nhiều mưa. Đặc điểm đó đã có tác động sâu sắc tới đời sống sinh hoạt và lao động của người dân Thanh Hoá. Do đặc điểm Thanh Hoá có bờ biển dài, mạng lưới sông dày,… tạo nên những môi trường sinh thái đa dạng đã tác động sâu sắc đến điều kiện sinh sống, đến đời sống lao động, đến tính cách và khí chất con người trong mỗi vùng Thanh Hoá.
Bên cạnh đó, nó cũng có tác động mạnh mẽ tới những cảm hứng sáng tạo về văn hoá - nghệ thuật, tạo nên mầu sắc chung cho văn hoá nghệ thuật Việt Nam và bản sắc riêng của văn hoá - nghệ thuật Thanh Hoá, trong đó có nghệ thuật âm nhạc. “Thanh Hóa không phải chỉ là một Tỉnh, đó là một Xứ” (Pierre Pasquier - “Thanh Hóa” - 1931). “Xứ”, theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “khu vực địa lý có những đặc điểm chung”, theo Từ điển tiếng Việt: “một miền của đất nước”. Giáo sư Trần Quốc Vượng (được biết đến “là người theo chủ thuyết địa - văn hóa, địa - lịch sử), Giáo sư Phan Ngọc trong “Bản sắc văn hóa Việt Nam”, Giáo sư - Viện sĩ Trần Ngọc Thêm trong “Cơ sở văn hóa Việt Nam” đều nói đến Xứ như là “vùng văn hóa”.
Kế tục tư tưởng này, 10 trong khuôn khổ công trình nghiên cứu của luận án, chúng tôi sử dụng danh từ “Âm nhạc Xứ Thanh” như là một thuật ngữ văn hóa học với ý đối tượng nghiên cứu là: âm nhạc dân gian trong giới hạn không gian đồng nhất với địa giới của tỉnh Thanh Hóa; nói cách khác, “Xứ Thanh” ở đây được hiểu như là Thanh Hóa ngày nay, việc sử dụng “xứ Thanh” hay “Thanh Hóa” tại mỗi câu, đoạn nhằm mục đích giải quyết vấn đề “cú pháp” trong văn học chứ không nhằm phân biệt địa giới hành chính hay giới hạn của không gian văn hóa được nghiên cứu. Những cơ sở hình thành lễ hội: 1. Khái niệm về lễ hội: Văn hoá dân gian xứ Thanh - nền văn hoá hình thành và phát triển trên nền văn hoá Đông Sơn thời các Vua Hùng - nằm trong cái nôi chung của văn hoá dân gian người Việt, cũng bao gồm những lễ hội truyền thống. Lễ hội truyền thống xứ Thanh thể hiện ý chí tín ngưỡng cũng như đặc điểm nhận thức văn hoá của người Việt cổ xứ Thanh gắn liền với tín ngưỡng và nhận thức chung của cộng đồng người Việt và thể hiện phần nào cái riêng của người dân bản xứ.
Nền văn hoá đó, trong quá trình hình thành và phát triển đã hình thành và phát triển các lễ hội và nội dung lễ hội. Trong năm, vào những thời điểm ngoài mùa vụ sản xuất, đặc biệt vào mùa xuân, là dịp mà cộng đồng người Việt thể hiện đời sống văn hoá của mình khá rõ ràng; đây cũng là dịp lễ hội được tổ chức nhiều nhất, là dịp để mọi người có thể tề tựu, tập trung lại để cùng nhau sống cuộc sống văn hoá cộng đồng. Lễ hội dân gian là một loại hình sinh hoạt văn hoá cộng đồng của người Việt xưa, được hình thành bởi ý thức cũng như đặc điểm nhận thức của nhân dân, là một loại hình sinh hoạt văn hoá chủ đạo trong cuộc sống dân gian. Hình thức sinh hoạt cộng đồng này tồn tại trong suốt quá trình lịch sử của dân tộc và ngày càng phát huy vai trò của mình trong việc đảm bảo đời sống văn hoá 11 cũng như việc truyền tụng cho các thế hệ trong dân cư về văn hoá và lịch sử dân tộc.
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, TSKH Trần Ngọc Thêm nhận xét về lễ hội như sau: - Phần lễ mang ý nghĩa cầu xin và tạ ơn: Tạ ơn và cầu xin thần linh bảo trợ cho cuộc sống của mình… [52, tr.303] - Phần hội gồm các trò vui chơi giải trí hết sức phong phú, phần lớn được xuất phát từ những ước vọng thiêng liêng của con người nông nghiệp. Một ý kiến khác của tác giả Ngô Đức Thịnh trong cuốn “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” khẳng định rằng: … Trong ngày hội không chỉ có tế lễ, rước và tục hèm, mà còn có nhiều sinh hoạt văn hóa, các trò diễn mang tính nghi lễ và phong tục [53, tr. Như vậy, các tác giả đều chung quan điểm lễ hội bao gồm: phần lễ và phần hội; Lễ là để cho người dân bày tỏ lòng thành kính của mình với những thần thánh, tổ tông… bằng các hình thức cúng tế; hội là phần vui chơi giải trí, mà ở đó người dân có thể nhảy múa, hát ca,… nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần của mình. Tục thờ thần linh (Thành Hoàng và Phúc Thần), yếu tố tâm linh: Trong các làng xã của cộng đồng người Việt nói chung và Thanh Hoá nói riêng, mỗi làng đều có Đình, Đền, Miếu thờ thần linh.
Nghiên cứu về các vị thần được tôn thành Thành Hoàng, Ngô Đức Thịnh trong cuốn “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” có nhận định rằng: Các vị thần linh có nguồn gốc là Nhiên thần, Thiên thần hoặc Nhân thần. Ông cho rằng, các vị Thiên thần có nguồn gốc từ trời, “Thiên” là trời, trong đó có cả các vị chưa được “nhân hóa” hay đã được nhân hóa [53, 12 tr.96]; Nhiên thần là các vị có nguồn gốc từ thiên nhiên như Thần nước (Thủy thần), Thần đất (Thổ thần), Thần núi (Sơn thần), cũng có thể ở dạng các con vật, đồ vật… [53, tr.98]; Nhân thần là các vị thần có công tích và vị thế xã hội [53, tr. Khảo sát thực tế cho thấy, thần được thờ ở Thanh Hóa có thể là Nhân thần, Thiên thần hoặc Nhiên thần, nhưng tập trung nhất vẫn là thờ Nhân thần. Đó là những nhân vật lịch sử có công đánh giặc giữ nước, cùng xây làng lập ấp được dân làng tôn thành thần.