Nghiên Cứu Âm Nhạc Trong Lễ Hội Truyền Thống Của Người Việt Xứ Thanh

Chuyên đề nghiên cứu Âm Nhạc Trong Lễ Hội Truyền Thống Của Người Việt Xứ Thanh, cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao cho chuyên gia chuyên

Chuyên ngành

Âm Nhạc Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

127
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN - VĂN HÓA XÃ HỘI TỈNH THANH HÓA

1.1. Đặc điểm địa lý, văn hoá xã hội

1.2. Thanh Hoá có thể tạm chia thành hai miền: miền núi và miền xuôi

1.3. Mạng lưới sông Thanh Hoá quy tụ thành 3 hệ thống là: sông Mã, sông Chu, sông Yên

1.4. Bờ biển Thanh Hoá trải dài từ Nga Sơn đến Tĩnh Gia

1.5. Khí hậu và môi trường sinh thái

1.6. Khái niệm "Xứ Thanh" và ý nghĩa văn hóa

1.7. Những cơ sở hình thành lễ hội

1.7.1. Khái niệm về lễ hội

1.7.2. Tục thờ thần linh (Thành Hoàng và Phúc Thần), yếu tố tâm linh

1.7.3. Thời điểm mở hội

2. CHƯƠNG 2: LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG XỨ THANH MANG DẤU ẤN VÙNG MIỀN

3. CHƯƠNG 3: ÂM NHẠC TRONG LỄ HỘI

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về lễ hội truyền thống

Lễ hội truyền thống của người Việt xứ Thanh là một phần không thể thiếu trong văn hóa dân gian, thể hiện sự kết nối giữa con người với tín ngưỡng và lịch sử. Lễ hội truyền thống không chỉ là dịp để tưởng nhớ các anh hùng dân tộc mà còn là nơi để cộng đồng thể hiện bản sắc văn hóa riêng. Theo TSKH Trần Ngọc Thêm, lễ hội bao gồm hai phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ mang ý nghĩa cầu xin và tạ ơn, trong khi phần hội là nơi diễn ra các hoạt động vui chơi giải trí. Điều này cho thấy sự đa dạng trong âm nhạc dân gian và các hoạt động văn hóa khác trong lễ hội. Những hoạt động này không chỉ giúp duy trì các giá trị văn hóa mà còn tạo ra không gian giao lưu giữa các thế hệ. Như vậy, lễ hội truyền thống không chỉ là một sự kiện văn hóa mà còn là một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân xứ Thanh.

1.1. Ý nghĩa của lễ hội

Lễ hội truyền thống mang lại nhiều ý nghĩa cho cộng đồng. Đầu tiên, nó là dịp để người dân bày tỏ lòng thành kính với các vị thần linh và tổ tiên. Theo Ngô Đức Thịnh, lễ hội không chỉ có tế lễ mà còn có nhiều hoạt động văn hóa, các trò diễn mang tính nghi lễ. Điều này cho thấy sự kết hợp giữa tín ngưỡng và văn hóa trong đời sống của người dân. Thứ hai, lễ hội còn là cơ hội để mọi người tụ họp, giao lưu và chia sẻ những giá trị văn hóa. Qua đó, các thế hệ trẻ có thể học hỏi và tiếp thu những giá trị văn hóa truyền thống từ ông cha. Cuối cùng, lễ hội cũng là dịp để người dân thư giãn, giải trí sau những tháng ngày lao động vất vả, tạo ra không khí vui tươi, phấn khởi trong cộng đồng.

II. Âm nhạc trong lễ hội truyền thống

Âm nhạc trong lễ hội truyền thống của người Việt xứ Thanh rất phong phú và đa dạng. Âm nhạc dân gian không chỉ là một phần của lễ hội mà còn là phương tiện để truyền tải các giá trị văn hóa và lịch sử. Các làn điệu như hò sông Mã, hát Ghẹo, hay múa hát Xuân Phả đều mang đậm dấu ấn văn hóa địa phương. Những hình thức này không chỉ thể hiện tài năng nghệ thuật của người dân mà còn phản ánh tâm tư, tình cảm và ước vọng của họ. Theo nghiên cứu, âm nhạc trong lễ hội không chỉ đơn thuần là giải trí mà còn có vai trò quan trọng trong việc kết nối cộng đồng, tạo ra sự gắn bó giữa các thế hệ. Điều này cho thấy nghệ thuật biểu diễn trong lễ hội không chỉ là một hoạt động văn hóa mà còn là một phần của di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo tồn và phát huy.

2.1. Các thể loại âm nhạc trong lễ hội

Trong lễ hội truyền thống, có nhiều thể loại âm nhạc khác nhau được biểu diễn. Các làn điệu như hò sông Mã, hát Khúc, hay hát Lịch trình đều mang những âm điệu đặc trưng của vùng miền. Những thể loại này không chỉ thể hiện sự phong phú của âm nhạc dân gian mà còn phản ánh sự đa dạng văn hóa của người dân xứ Thanh. Mỗi thể loại âm nhạc đều có những đặc điểm riêng, từ giai điệu, nhịp điệu đến cách thức biểu diễn. Điều này cho thấy sự sáng tạo và tài năng của người dân trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Hơn nữa, âm nhạc trong lễ hội còn là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp người dân nhớ về nguồn cội và truyền thống của dân tộc.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn của âm nhạc trong lễ hội

Âm nhạc trong lễ hội truyền thống không chỉ có giá trị văn hóa mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong đời sống. Di sản văn hóa này không chỉ giúp người dân xứ Thanh duy trì bản sắc văn hóa mà còn góp phần vào việc phát triển du lịch văn hóa. Việc tổ chức các lễ hội với sự tham gia của âm nhạc dân gian có thể thu hút du khách, tạo ra nguồn thu nhập cho cộng đồng. Hơn nữa, âm nhạc trong lễ hội còn có vai trò quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ về giá trị văn hóa truyền thống. Qua các hoạt động biểu diễn, các em có thể học hỏi và hiểu rõ hơn về lịch sử và văn hóa của quê hương. Điều này không chỉ giúp bảo tồn các giá trị văn hóa mà còn tạo ra sự tự hào về bản sắc dân tộc.

3.1. Ứng dụng trong giáo dục và phát triển du lịch

Âm nhạc trong lễ hội truyền thống có thể được ứng dụng trong giáo dục và phát triển du lịch. Việc đưa âm nhạc dân gian vào chương trình giảng dạy sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn về văn hóa và lịch sử của quê hương. Đồng thời, các lễ hội có sự tham gia của âm nhạc dân gian cũng có thể trở thành điểm đến hấp dẫn cho du khách. Điều này không chỉ giúp phát triển kinh tế địa phương mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Như vậy, âm nhạc trong lễ hội không chỉ là một phần của di sản văn hóa mà còn là một nguồn lực quan trọng cho sự phát triển bền vững của cộng đồng.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN - VĂN HÓA XÃ HỘI TỈNH THANH HÓA 1. Đặc điểm địa lý, văn hoá xã hội: Theo địa chí Thanh Hóa, Phủ Thanh Hóa có từ thời Lý (năm Thuận Thiên thứ 1); qua những lần đổi thành trấn Thanh Đô (năm Quang Thái thứ 10 - 1397), Phủ Thiên Xương (1430) hay còn gọi là Tây Đô, Thừa Tuyên Thanh Hóa (năm Quang Thuận thứ 7 - 1466), Thừa Tuyên Thanh Hoa (năm Quang Thuận thứ 10 - 1469), Trấn Thanh Hóa (năm Gia Long thứ nhất - 1802), tỉnh Thanh Hoa (năm Minh Mệnh thứ 12 - 1831); đến năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) chính thức đổi tên thành Tỉnh Thanh Hóa và tồn tại tới thời nay (Quốc sử quán triều Nguyễn, 1970). Thanh Hóa nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng ven biển miền Trung Việt Nam. Theo số liệu đo đạc hiện đại của cục bản đồ thì Thanh Hóa nằm ở vĩ tuyến 19°18' Bắc đến 20°40' Bắc, kinh tuyến 104°22' Đông đến 106°05' Đông.

Phía bắc giáp ba tỉnh: Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình; phía nam và tây nam giáp tỉnh Nghệ An; phía tây giáp tỉnh Hủa Phăn (nước Lào) với đường biên giới 192 km; phía đông Thanh Hóa mở ra phần giữa của vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông với bờ biển dài hơn 102 km. Diện tích tự nhiên của Thanh Hóa là 11.109 km², chia làm 3 vùng: đồng bằng ven biển, trung du, miền núi. Thanh Hóa có thềm lục địa rộng 18. Theo kết quả điều tra dân số năm 2009, Thanh Hóa có 3.239 người; mật độ dân số vào loại trung bình: 305 người/km².

Thanh Hóa là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống, nhưng chủ yếu có 7 dân tộc là Kinh, Mường, Thái, Thổ, Dao, Mông, Khơ Mú. Người Kinh chiếm phần lớn dân số của tỉnh và có địa bàn phân bố rộng khắp, các dân tộc khác có dân số và địa bạn sống thu hẹp hơn. 8 Thanh Hoá có thể tạm chia thành hai miền: miền núi và miền xuôi. Miền núi gồm các huyện: Thạch Thành, Cẩm Thủy, Lang Chánh, Ngọc Lạc, Thường Xuân, Như Xuân, Quan Hoá, Bá Thước.

Diện tích là: 8. Miền xuôi gồm: Thành phố Thanh Hoá, thị xã Bỉm Sơn, thị xã Sầm Sơn và các huyện: Thọ Xuân, Triệu Sơn, Nông Cống, Đông Sơn, Thiệu Yên, Vĩnh Lộc, Hà Trung, Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương, Tĩnh Gia với tổng diện tích: 3. Thanh Hoá có núi bao bọc ba phía: Tây, Tây Bắc (kết thúc bởi dãy Tam Điệp), Tây Nam (kết thúc bởi dãy núi đá thấp Hoàng Mai) và phía Đông có bờ biển trải dài từ Bắc vào Nam. Từ Bắc vào Thanh Hoá phải vượt qua dãy núi đá vôi Tam Điệp và từ Thanh Hoá vào miền Trung phải vượt qua dãy núi đá thấp và rừng Hoàng Mai.

Mạng lưới sông Thanh Hoá quy tụ thành 3 hệ thống là: sông Mã, sông Chu, sông Yên. Sông Mã là con sông lớn nhất Thanh Hoá, dài 242 km chảy từ tỉnh Hoà Bình qua các huyện Quan Hoá, Bá Thước, Cẩm Thuỷ, Vĩnh Lộc, Thiệu Yên, Hoằng Hoá, Hậu Lộc, Hà Trung; thuộc hệ thống này có sông Bưởi dài 325 km, sông Hoạt dài 55 km, và các sông nhỏ khác như sông Cầu Chày, sông Tào, sông Trà Giang, sông Báo Văn. Sông Chu là sông lớn thứ hai, dài 325 km, chảy từ huyện Thường Xuân, Thọ Xuân, Đông Sơn hoà vào cùng sông Mã ở Ngã Ba Đầu; thuộc hệ thống sông này có sông Khao, sông Đặt, sông Đằng, sông Âm. Sông Yên phát nguồn từ huyện Như Xuân, dài 94 km, chảy qua huyện Nông Cống, Quảng Xương và đổ ra biển ở Hải Ninh (Ghép); thuộc hệ thống sông này có sông Nhơm, sông Hoàng, sông Thị Long.

Ngoài ra, ở cực Nam - Thanh Hoá còn có sông Bạng dài 35 km, chảy từ Như Xuân qua Tĩnh Gia, đổ ra cửa biển Lạch Bạng. Sông đào nhà Lê từ Đồng Cổ (Thiệu Yên) chảy qua các huyện miền xuôi đến sông Bà Hoà giáp Nghệ An. 9 Bờ biển Thanh Hoá trải dài từ Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương vào hết địa phận Tĩnh Gia. Dọc bờ biển có 6 cửa sông chính là cửa sông Hoạt (chảy ra biển ở địa phận Nga Thái), cửa sông Lèn (chảy ra biển ở địa phận xã Nga Bạch), cửa Lạch Trường (chảy qua địa phận xã Hải Lộc và Hoằng Trường), cửa Hới (chảy qua địa phận Hoằng Hoá, Quảng Xương), cửa Lạch Ghép (chảy ra biển ở địa phận xã Quảng Nham và Hải Châu), cửa Lạch Bạng (chảy ra biển ở địa phận xã Hải Thanh và Hải Bình).

Do tính chất địa lý bị chia cắt nhiều tiểu vùng bởi các con sông và núi, đồi chạy từ Tây sang Đông tạo ra các vùng tiểu nhiệt đới, có sự chênh lệch lớn giữa các khu vực nên Thanh Hoá có khí hậu tương đối phức tạp, thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa Đông lạnh, có sương giá, sương muối và ít mưa; mùa hè nóng, có gió Tây khô và nhiều mưa. Đặc điểm đó đã có tác động sâu sắc tới đời sống sinh hoạt và lao động của người dân Thanh Hoá. Do đặc điểm Thanh Hoá có bờ biển dài, mạng lưới sông dày,… tạo nên những môi trường sinh thái đa dạng đã tác động sâu sắc đến điều kiện sinh sống, đến đời sống lao động, đến tính cách và khí chất con người trong mỗi vùng Thanh Hoá.

Bên cạnh đó, nó cũng có tác động mạnh mẽ tới những cảm hứng sáng tạo về văn hoá - nghệ thuật, tạo nên mầu sắc chung cho văn hoá nghệ thuật Việt Nam và bản sắc riêng của văn hoá - nghệ thuật Thanh Hoá, trong đó có nghệ thuật âm nhạc. “Thanh Hóa không phải chỉ là một Tỉnh, đó là một Xứ” (Pierre Pasquier - “Thanh Hóa” - 1931). “Xứ”, theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “khu vực địa lý có những đặc điểm chung”, theo Từ điển tiếng Việt: “một miền của đất nước”. Giáo sư Trần Quốc Vượng (được biết đến “là người theo chủ thuyết địa - văn hóa, địa - lịch sử), Giáo sư Phan Ngọc trong “Bản sắc văn hóa Việt Nam”, Giáo sư - Viện sĩ Trần Ngọc Thêm trong “Cơ sở văn hóa Việt Nam” đều nói đến Xứ như là “vùng văn hóa”.

Kế tục tư tưởng này, 10 trong khuôn khổ công trình nghiên cứu của luận án, chúng tôi sử dụng danh từ “Âm nhạc Xứ Thanh” như là một thuật ngữ văn hóa học với ý đối tượng nghiên cứu là: âm nhạc dân gian trong giới hạn không gian đồng nhất với địa giới của tỉnh Thanh Hóa; nói cách khác, “Xứ Thanh” ở đây được hiểu như là Thanh Hóa ngày nay, việc sử dụng “xứ Thanh” hay “Thanh Hóa” tại mỗi câu, đoạn nhằm mục đích giải quyết vấn đề “cú pháp” trong văn học chứ không nhằm phân biệt địa giới hành chính hay giới hạn của không gian văn hóa được nghiên cứu. Những cơ sở hình thành lễ hội: 1. Khái niệm về lễ hội: Văn hoá dân gian xứ Thanh - nền văn hoá hình thành và phát triển trên nền văn hoá Đông Sơn thời các Vua Hùng - nằm trong cái nôi chung của văn hoá dân gian người Việt, cũng bao gồm những lễ hội truyền thống. Lễ hội truyền thống xứ Thanh thể hiện ý chí tín ngưỡng cũng như đặc điểm nhận thức văn hoá của người Việt cổ xứ Thanh gắn liền với tín ngưỡng và nhận thức chung của cộng đồng người Việt và thể hiện phần nào cái riêng của người dân bản xứ.

Nền văn hoá đó, trong quá trình hình thành và phát triển đã hình thành và phát triển các lễ hội và nội dung lễ hội. Trong năm, vào những thời điểm ngoài mùa vụ sản xuất, đặc biệt vào mùa xuân, là dịp mà cộng đồng người Việt thể hiện đời sống văn hoá của mình khá rõ ràng; đây cũng là dịp lễ hội được tổ chức nhiều nhất, là dịp để mọi người có thể tề tựu, tập trung lại để cùng nhau sống cuộc sống văn hoá cộng đồng. Lễ hội dân gian là một loại hình sinh hoạt văn hoá cộng đồng của người Việt xưa, được hình thành bởi ý thức cũng như đặc điểm nhận thức của nhân dân, là một loại hình sinh hoạt văn hoá chủ đạo trong cuộc sống dân gian. Hình thức sinh hoạt cộng đồng này tồn tại trong suốt quá trình lịch sử của dân tộc và ngày càng phát huy vai trò của mình trong việc đảm bảo đời sống văn hoá 11 cũng như việc truyền tụng cho các thế hệ trong dân cư về văn hoá và lịch sử dân tộc.

Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, TSKH Trần Ngọc Thêm nhận xét về lễ hội như sau: - Phần lễ mang ý nghĩa cầu xin và tạ ơn: Tạ ơn và cầu xin thần linh bảo trợ cho cuộc sống của mình… [52, tr.303] - Phần hội gồm các trò vui chơi giải trí hết sức phong phú, phần lớn được xuất phát từ những ước vọng thiêng liêng của con người nông nghiệp. Một ý kiến khác của tác giả Ngô Đức Thịnh trong cuốn “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” khẳng định rằng: … Trong ngày hội không chỉ có tế lễ, rước và tục hèm, mà còn có nhiều sinh hoạt văn hóa, các trò diễn mang tính nghi lễ và phong tục [53, tr. Như vậy, các tác giả đều chung quan điểm lễ hội bao gồm: phần lễ và phần hội; Lễ là để cho người dân bày tỏ lòng thành kính của mình với những thần thánh, tổ tông… bằng các hình thức cúng tế; hội là phần vui chơi giải trí, mà ở đó người dân có thể nhảy múa, hát ca,… nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần của mình. Tục thờ thần linh (Thành Hoàng và Phúc Thần), yếu tố tâm linh: Trong các làng xã của cộng đồng người Việt nói chung và Thanh Hoá nói riêng, mỗi làng đều có Đình, Đền, Miếu thờ thần linh.

Nghiên cứu về các vị thần được tôn thành Thành Hoàng, Ngô Đức Thịnh trong cuốn “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” có nhận định rằng: Các vị thần linh có nguồn gốc là Nhiên thần, Thiên thần hoặc Nhân thần. Ông cho rằng, các vị Thiên thần có nguồn gốc từ trời, “Thiên” là trời, trong đó có cả các vị chưa được “nhân hóa” hay đã được nhân hóa [53, 12 tr.96]; Nhiên thần là các vị có nguồn gốc từ thiên nhiên như Thần nước (Thủy thần), Thần đất (Thổ thần), Thần núi (Sơn thần), cũng có thể ở dạng các con vật, đồ vật… [53, tr.98]; Nhân thần là các vị thần có công tích và vị thế xã hội [53, tr. Khảo sát thực tế cho thấy, thần được thờ ở Thanh Hóa có thể là Nhân thần, Thiên thần hoặc Nhiên thần, nhưng tập trung nhất vẫn là thờ Nhân thần. Đó là những nhân vật lịch sử có công đánh giặc giữ nước, cùng xây làng lập ấp được dân làng tôn thành thần.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Âm Nhạc Trong Lễ Hội Truyền Thống Của Người Việt Xứ Thanh" khám phá vai trò quan trọng của âm nhạc trong các lễ hội truyền thống của người Việt tại xứ Thanh. Tác giả nhấn mạnh rằng âm nhạc không chỉ là một phần không thể thiếu trong các nghi lễ mà còn là phương tiện để truyền tải văn hóa, lịch sử và bản sắc dân tộc. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách âm nhạc kết nối cộng đồng và tạo ra không khí lễ hội, đồng thời khuyến khích độc giả tìm hiểu thêm về các giá trị văn hóa phi vật thể.

Để mở rộng kiến thức của bạn về văn hóa và lễ hội, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ văn hóa học lễ hội làng vọng nguyệt trong đời sống người dân xã tam giang huyện yên phong tỉnh bắc ninh", nơi nghiên cứu sâu về một lễ hội đặc trưng khác. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ đền chùa trong không gian văn hóa làng phấn vũ xã thụy xuân huyện thái thụy tỉnh thái bình" cũng sẽ giúp bạn hiểu thêm về vai trò của các di tích văn hóa trong đời sống cộng đồng. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn tốt nghiệp tìm hiểu di tích và lễ hội đinh đẩu sơn quận kiến an hải phòng trong đời sống văn hóa của người dân địa phương", để có cái nhìn tổng quát hơn về các lễ hội và di tích văn hóa tại Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá sâu hơn về văn hóa truyền thống của người Việt.