Luận Văn Tốt Nghiệp: Di Tích và Lễ Hội Đinh Đẩu Sơn Trong Văn Hóa Người Dân Quận Kiến An, Hải Phòng

Chuyên đề nghiên cứu Khám Phá Di Tích và Lễ Hội Đinh Đẩu Sơn Tại Quận Kiến An, Hải Phòng, cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao cho chuyên gia

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

73
8
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ 5 VỊ THÀNH HOÀNG LÀNG CỦA ĐÌNH ĐẨU SƠN TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN

1.1. Khái quát về tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng của người dân Việt Nam

1.2. Đặc điểm chung về kiến trúc thờ Thành Hoàng làng của người dân Việt Nam

1.3. Đình Làng trong tâm thức của người dân

1.4. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: DI TÍCH LỊCH SỬ VÀ LỄ HỘI ĐÌNH ĐẨU SƠN Ở QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1. Giới thiệu khái quát về Quận Kiến An – Thành Phố Hải Phòng

2.2. Khái quát về thân thế, sự nghiệp của 5 vị Thần Tướng Thành Hoàng Đình Đẩu Sơn

2.2.1. Danh Tướng Trần Nhội và Trần Phương

2.2.2. Tướng Quân Nguyễn Chính

2.2.3. Tướng quân – Đạo sĩ Tô Phong

2.2.4. Tướng Quân Trần Văn Bích

2.3. Di tích lịch sử Đình Đẩu Sơn

2.3.1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngôi đình

2.3.2. Khu di tích Đình Đẩu Sơn

2.3.3. Giá trị kiến trúc, không gian cảnh quan

2.4. Nội dung Lễ Hội thờ Ngũ Vị Thành Hoàng Đình Đẩu Sơn

2.5. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: BẢO TỒN, VAI TRÒ, ĐẶC ĐIỂM DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐÌNH ĐẨU SƠN Ở QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

3.1. Công tác duy trì, bảo tồn di tích và lễ hội Đình Đẩu Sơn

3.2. Công tác bảo tồn và tôn tạo di tích

3.3. Hoạt động tâm linh ở khu vực Đình

3.4. Nội dung quản lý nhà nước về di tích Đình Đẩu Sơn

3.5. Đình Làng: “Biểu tượng văn hóa trong đời sống của nhân dân”

3.6. Thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân

3.6.1. Cố kết cộng đồng

3.6.2. Vai trò hướng về cội nguồn, giáo dục truyền thống

3.7. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về di tích Đình Đẩu Sơn

Di tích Đình Đẩu Sơn nằm tại Quận Kiến An, Hải Phòng là một trong những di tích lịch sử văn hóa quan trọng của địa phương. Đình thờ 5 vị Thành Hoàng, bao gồm Trần Nhội, Trần Phương, Nguyễn Chính, Tô Phong và Trần Văn Bích, những nhân vật có công lớn trong việc bảo vệ đất nước trong thời kỳ kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Di tích không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của người dân nơi đây. Theo tài liệu nghiên cứu, Đình Đẩu Sơn đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển và biến đổi, nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng trong kiến trúc và không gian văn hóa. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích này là rất cần thiết để gìn giữ bản sắc văn hóa địa phương.

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

Đình Đẩu Sơn được xây dựng từ thế kỷ 13, trong bối cảnh đất nước đang phải đối mặt với sự xâm lược của quân Nguyên Mông. Theo truyền thuyết, các vị Thành Hoàng đã có công lớn trong việc tổ chức và lãnh đạo quân dân chống giặc. Qua thời gian, đình đã trở thành nơi thờ tự và sinh hoạt văn hóa của người dân địa phương. Các tài liệu lịch sử cho thấy, đình không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là trung tâm sinh hoạt cộng đồng, nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, lễ hội truyền thống. Sự tồn tại và phát triển của Đình Đẩu Sơn gắn liền với sự phát triển của Quận Kiến An và là biểu tượng cho lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết của người dân nơi đây.

II. Lễ hội Đình Đẩu Sơn

Lễ hội Đình Đẩu Sơn diễn ra hàng năm vào ngày 10 tháng Giêng âm lịch, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia. Đây là dịp để người dân tưởng nhớ và tri ân các vị Thành Hoàng đã có công bảo vệ quê hương. Lễ hội không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn là dịp để cộng đồng gắn kết, thể hiện bản sắc văn hóa của địa phương. Trong lễ hội, các hoạt động như rước kiệu, tế lễ, và các trò chơi dân gian được tổ chức, tạo không khí vui tươi, phấn khởi. Theo các nhà nghiên cứu, lễ hội Đình Đẩu Sơn không chỉ là một sự kiện văn hóa mà còn là một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân, giúp họ kết nối với cội nguồn và truyền thống văn hóa của dân tộc.

2.1. Nội dung và ý nghĩa của lễ hội

Lễ hội Đình Đẩu Sơn bao gồm nhiều hoạt động phong phú, từ lễ rước kiệu, tế lễ đến các trò chơi dân gian như đua thuyền, kéo co. Những hoạt động này không chỉ mang tính giải trí mà còn thể hiện sự tôn kính đối với các vị thần. Lễ hội còn là dịp để người dân thể hiện lòng biết ơn đối với tổ tiên, đồng thời củng cố tình đoàn kết trong cộng đồng. Theo các tài liệu văn hóa, lễ hội Đình Đẩu Sơn còn là nơi giao lưu văn hóa giữa các vùng miền, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa của Hải Phòng.

III. Giá trị văn hóa và du lịch của di tích

Di tích Đình Đẩu Sơn không chỉ có giá trị lịch sử mà còn là một điểm đến hấp dẫn cho du khách. Với kiến trúc độc đáo và không gian yên bình, đình thu hút nhiều du khách đến tham quan và tìm hiểu về văn hóa địa phương. Du lịch Hải Phòng đang ngày càng phát triển, và việc khai thác giá trị của di tích này sẽ góp phần nâng cao nhận thức về văn hóa và lịch sử của vùng đất. Các hoạt động du lịch gắn liền với di tích không chỉ giúp bảo tồn văn hóa mà còn tạo ra nguồn thu nhập cho người dân địa phương. Theo các chuyên gia, việc phát triển du lịch bền vững tại Đình Đẩu Sơn sẽ mang lại lợi ích kinh tế và xã hội cho cộng đồng.

3.1. Hướng phát triển du lịch bền vững

Để phát triển du lịch bền vững tại Đình Đẩu Sơn, cần có các chiến lược bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Việc tổ chức các tour du lịch kết hợp với các hoạt động văn hóa, lễ hội sẽ thu hút du khách và tạo cơ hội cho người dân địa phương tham gia vào hoạt động kinh tế. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị văn hóa và lịch sử của di tích, từ đó tạo ra sự đồng thuận trong việc bảo tồn và phát triển. Các chương trình giáo dục về văn hóa cũng cần được triển khai để thế hệ trẻ hiểu và trân trọng di sản văn hóa của ông cha.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1:Khái quát về tín ngưỡng thờ 5 vị Thành Hoàng làng của Đình Đẩu Sơn trong đời sống của người dân.Khái quát về tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng của người dân Việt Nam. Ở các làng xã nông thôn Việt Nam, Thành hoàng là một niềm tin thiêng liêng, một chỗ dựa tinh thần cho cộng đồng từ bao đời nay. Thờ cúng Thành hoàng cũng giống như thờ cúng tổ tiên, nó mang đậm dấu ấn tâm linh và thể hiện quan niệm “uống nước nhớ nguồn” của người dân Việt Nam Thuật ngữ Thành hoàng là một từ Hán Việt: “Thành hoàng có nghĩa là thành hào, hào có nước gọi là trì, không có nước gọi là hoàng. Đắp đất làm “thành”, đào hào làm “hoàng”.

Thành hoàng xuất hiện ở Trung Quốc thời cổ đại và đã được thờ như là vị thần bảo hộ cho một thành trì, một phủ, một châu hay một huyện. Xã hội cổ đại Trung Quốc được phân chia thành hai cấp: Vương và Hầu; vua nhà Chu là Vương cai quản chư Hầu, mỗi chư Hầu như là một vương quốc nhỏ có một tòa thành và một số ấp nông thôn vây quanh. Do vậy, để bảo vệ thành có Thành hoàng, bảo vệ ấp có Thổ địa. Việc thờ Thành hoàng phổ biến khắp đất nước Trung Quốc thời cổ đại; ở đâu xây thành, đào hào là ở đó có Thành hoàng.

Thành hoàng thường được vua ban biển miếu hoặc phong tước. Chính quyền phong kiến Trung Quốc đã lấy việc thờ phụng Thành hoàng làm việc giáo hóa dân chúng. Tuy tín ngưỡng thờ thành hoàng có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng vì quy mô và cơ cấu làng cổ Trung Quốc có nhiều điểm khác với làng cổ của Việt Nam, nên tín ngưỡng thờ Thành hoàng của các làng Việt cổ cũng không giống tín ngưỡng thờ Thành hoàng của làng cổ Trung Quốc. Thành hoàng của các làng Việt cổ không chỉ và không phải lúc nào cũng thờ vị thần bảo vệ thành hào của làng, mà chủ yếu thờ những người có công với dân với nước, người có công lập ra làng, người có công truyền dạy một nghề nào đó cho dân làng, hoặc là một ông quan tốt (và một số vị tà thần – nhưng số này không nhiều).

4 Luan van Việc thờ Thành hoàng của nhiều làng xã Việt Nam đôi khi là thờ một sức mạnh tự nhiên nào đó (như thần sông, thần núi, thần sấm, thần sét, thần mây, thần mưa). Trong số các vị thần này, nơi nào thờ loại thần gì là tùy thuộc vào đặc điểm cư trú của làng đó. Chẳng hạn, những làng ở hai bên bờ các con sông thường là thờ các vị thủy thần; những làng ở trên sườn núi thường thờ thần núi (sơn thần). Một số làng thờ những nhân vật lịch sử làm Thành hoàng làng mình là những vị anh hùng dân tộc, có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại nền độc lập cho dân tộc, như các vị: Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Nhội , Trần Phương, Tô Phong , Nguyễn Chính , Trần Văn Bích, Lê Hoàn, Dương Đình Nghệ, Lê Văn Thịnh, Tô Hiến Thành, Lý Thường Kiệt, Trần Nhật Duật,.

Nói chung, hầu hết các làng đều thờ hai loại Thành hoàng, trong đó một vị là biểu tượng của sức mạnh tự nhiên, một vị là nhân vật lịch sử hoặc người có công với làng. Điểm đặc biệt của tín ngưỡng thờ Thành hoàng của các làng Việt cổ là ở chỗ, dù thời cuộc có biến đổi như thế nào, dù làng có chuyển nơi cư trú bao nhiêu lần, dù chính sách tôn giáo của Nhà nước có chặt chẽ hay cởi mở, dù dân làng giàu sang hay nghèo túng,. thì nhân vật được dân làng thờ làm Thành hoàng vẫn không thay đổi, mà tồn tại mãi mãi, suốt từ đời này đến đời khác. Sách Việt Nam phong tục có ghi “ xét về tục thờ thần thành hoàng này từ trước đời đời tam quốc ( Trung Quốc ) trở về trước vẫn đã có, nhưng ngày xưa thì nhân nhà vua có việc gì cầu đảo mới thiết đàn cúng tế mà thôi.

Đến đời nhà Đường, Lý Đức Dụ làm tướng, mới bắt đầu lập miếu Thần hoàng ở Thành Đô, đến nhà Tống, nhà Minh thiên hạ đâu cũng lập miếu thờ. Nước ta thuở bấy giờ đang lúc nội thuộc, tục Tàu truyền sang đến bên này kế đến Đinh, Lê thì việc thờ quỷ thần đã thịnh hành rồi Nhưng cứ xét cái chủ ý lúc trước, thì mỗi phương có danh sơn, song lớn, triều đình lập miếu thờ sơn thần, hà bá ấy để chủ tế cho việc ấm tí một phương 5 Luan van thôi. Kế sau, triều đình tinh biểu những bậc trung thần nghĩa sĩ và những người có công lao với đất nước, thì cũng lập đền cho dân xã ở đó thờ. Từ đó dân gian bắt chước nhau, chỗ nào cũng thờ một vị để làm chủ tế trong làng mình … dân ta tin rằng đất có thổ công song có hà bá, lãnh thổ nào phải có thần hoàng ấy, vậy phải thờ phụng để thần ủng hộ cho nhân dân,vì thế việc thờ thần mỗi ngày một thịnh”.

Hiều được nhu cầu tâm linh của người dân, cộng thêm ý muốn tạo lập thiết chế văn hóa – tín ngưỡng chính thống của vương triều, nhằm xóa bỏ tầm ảnh hưởng của các triều đại trước, nên thời các vua nhà Nguyễn, cứ ba năm xét ban sắc phong thần một lần. Chỉ riêng 1852, vua Tự Đức đã cấp sắc phong đồng loạt 13069 cho cả nước. ( trích sách cơ sở văn hóa Việt Nam phần tín ngưỡng ) Từ trên ta có thể hiểu phần nào tín ngưỡng thờ thần hoàng làng, thờ các anh hùng ở Việt Nam. Trước khi đi vào tìm hiểu tục thờ 5 danh tướng Trần Nhội, Trần Phương , Nguyễn Chính , Tô Phong , Trần Văn Bich chúng ta đi nghiên cứu vài nét về kiến trúc xây dựng đình đền của người Việt.

Đặc điểm chung về kiến trúc thờ Thành Hoàng làng của người dân Việt Nam. Hình ảnh Cây đa – Bến nước – Sân Đình đã ăn sâu vào tâm thức của người Việt ở vùng châu thổ Bắc Bộ từ hàng ngàn năm , một không gian binh dị gắn liền với đời sống sinh hoạt của cư dân miền nông nghiệp lúa nước. Không gian và kiến trúc Đình làng là minh chứng cho tài nghệ xây dựng của ông cha ta , từ việc chọn địa điểm , quy hoạch hòa lẫn với thiên nhiên , dưới bóng mát rặng cây , soi bóng nước bên hồ , tận dụng hết tự nhiên cho đến hình thức kiến trúc , tỉ lệ , vật liệu , màu sắc phù hợp tới thẩm mỹ , điều kiện xây dựng địa phương. Đình làng Việt Nam là nơi thờ tự thành hoàng làng và là trung tâm sinh hoạt chính trị, xã hội văn hoá của cộng đồng dân cư.

Trong các làng, đình là một di tích kiến kiến trúc nghệ thuật có quy mô to nhất và theo ý nghĩ của người xưa có tầm quan trọng, ảnh hưởng tới sự thịnh vượng và sức khỏe của tất cả dân làng. Dựng đình là việc chung của cả làng. Một việc tối quan trọng của ngôi đình là hướng đình. Ca dao cũ có câu: “Toét mắt là tại hưởng đình, cả làng cùng toét 6 Luan van riêng mình em đâu” đã nói lên ý nghĩa quyết định của việc chọn hướng đinh.

Hướng của đình làng thậm chí đã trở thành hướng quy hoạch cho các ngôi nhà trong làng, hoặc làm song song theo hướng đình hoặc làm vuông góc. Chọn hướng và thế đất xây đình người xưa tin vào thuyết phong thuỷ, đình phải được xây trên lưng hay trên trán của các con vật thiêng tiềm ẩn trong đất như long, li, quy, phượng. Đình thường được chọn xây trên một gò cao, một doi đất, trước mặt có dòng nước chảy hay hồ ao, nếu không kể sông ngòi thì người dân đào giếng, hồ để tạo nên cảnh nước non. Đình làng ban đầu cở lẽ chỉ là một kiến trúc nhỏ gồm 3 gian và 2 chái, sau đó sô” gian tăng lên đến 5, 7 hay 9 gian (số lẻ) cộng thêm kiến trúc phía sau gọi là hậu cưng, thêm phía trưốc gọi là tiền tế, thêm hai bên gọi là tả vu và hữu vu, Ban đầu xung quanh chưa bịt kín nhưng sau dần để tôn nghiêm thần thánh, người dân xây bao kín quanh kiến trúc chỉ để mở cửa phía trước, đặc biệt ở hậu cung thì xây bịt kín tối như bưng (là nơi thần thành ngự trị).

Đình làng vốn là một kiến trúc mở không có tường bao quanh, vì kiến trúc gỗ cổ truyền dựa trên khung các cột gỗ chịu lực, các vì kèo và hoành phân đều lực cho các cột cái và cột quân kê trên các đá tảng. Các cửa bức bàn và các hàng chấn song con tiện phía trước là để thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ, các tường bao quanh là nhằm linh thiêng hoá thần linh được làm bể sung vế sau. Một điều đặc biệt là các đình đều có cấu kết mái đình với góc mái cong và người ta gọi là đao mái. Góc mái cong có thể là một sáng tạo đầy tính nghệ thuật của đình làng Việt Nam và thành một đặc trưng độc đáo khiến kiến trúc gỗ truyền thông Việt Nam khác với các kiến trúc gỗ các nước khác trong khu vực.

Những ngôi đình cổ thường có bộ mái lớn chiếm đến 2/3 công trình. Theo một nhà nghiên cứu thì “tỉ lệ này có lẽ bắt nguồn từ ngôi nhà cổ truyền của người Việt mà sứ nhà Nguyên là Trần Phú đã lấy làm ngạc nhiên: “Làm nhà không có kiểu gấp mái hoặc chống kèo mà từ đòn đông đến mái hiên cứ thẳng tuột một mạch như đổ hẳn xuống (vì vậy) tuy nóc nhà (tuy hết sức) cao nhưng mái hiên chỉ cách mặt đất chừng bốn năm xích”. 7 Luan van Mỗi đình làng còn là một công trình điêu khắc và chạm trổ, sơn vẽ với chất liệu cổ truyền là sơn ta với 3 mầu đen, đỏ và vàng. Người nghệ nhân thường chạm trổ ở các câu đầu, các cột giá chiêng, các đầu bảy, các ván trong lòng giá chiêng… những hình đầu rồng, đuôi rồng, nghê, vân mây và hoa lá, các sinh hoạt văn nghệ đời sống hàng ngày… rất sinh động.

Những cột cái ở trung đình thường được sơn vẽ rồng mây làm cho ngôi đình rực rỡ trang trọng, gợi lên ý nghĩ đây là nơi cung điện của thần thánh uy nghiêm. Các đình thường ghi ngày tháng năm khởi công xây dựng và hoàn thành ở xà nóc hoặc hai câu đầu trung đình. Ở trung đình đều có lắp một cửa võng sơn son thếp vàng làm cho không gian đình sáng lên lộng lẫy. Cửa võng là một bức rèm bằng gỗ chạm trổ rất công phu gắn vào 2 cột và hoành ở trung đình, nơi đặt bàn thờ thành hoàng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận Văn Tốt Nghiệp: Di Tích và Lễ Hội Đinh Đẩu Sơn Trong Văn Hóa Người Dân Quận Kiến An, Hải Phòng" của tác giả Đỗ Thị Hòa, dưới sự hướng dẫn của Th.S. Vũ Thị Thanh Hương, tập trung vào việc khám phá di tích và lễ hội Đinh Đẩu Sơn, một phần quan trọng trong văn hóa của người dân Quận Kiến An, Hải Phòng. Nghiên cứu này không chỉ làm nổi bật giá trị văn hóa và lịch sử của di tích mà còn nhấn mạnh vai trò của lễ hội trong việc gắn kết cộng đồng và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách mà lễ hội này ảnh hưởng đến đời sống tinh thần và văn hóa của người dân địa phương.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh văn hóa và lễ hội khác, hãy tham khảo thêm bài viết "Nghệ Thuật Cải Lương Tại Thành Phố Hồ Chí Minh Trong Bối Cảnh Hội Nhập", nơi khám phá sự giao thoa văn hóa trong nghệ thuật cải lương. Bên cạnh đó, bài viết "Quan điểm triết học về phát triển du lịch ở thành phố Hội An trong khoa học xã hội và nhân văn" cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về cách mà văn hóa và du lịch tương tác với nhau trong bối cảnh hiện đại. Cuối cùng, bài viết "Luận án tiến sĩ về xây dựng đời sống văn hóa tại nông thôn Nghệ An" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc xây dựng và phát triển văn hóa trong cộng đồng nông thôn Việt Nam. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về văn hóa và lễ hội trong xã hội Việt Nam.