Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Việt Nam học và Tiếng Việt của tác giả Phạm Hải Yến (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, khóa QH-2010-X, người hướng dẫn: Thầy Vũ Thanh Tùng, bảo vệ tháng 5/2014) mang đề tài "Tín ngưỡng phồn thực trong một số lễ hội dân gian tiêu biểu vùng đất Tổ". Đề tài bắt nguồn từ thực tế văn hóa nông nghiệp lúa nước cổ truyền của người Việt, nơi tín ngưỡng phồn thực giữ vị trí khởi nguyên sâu đậm trong đời sống tâm linh, gắn liền với ước vọng sinh sôi nảy nở của con người và mùa màng tươi tốt. Vùng đất Phú Thọ (kinh đô Phong Châu thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang) là cái nôi bảo lưu tầng nền văn hóa cội nguồn với hệ thống lễ hội làng phong phú. Tuy nhiên, trước tác động của chiến tranh, biến đổi kinh tế - xã hội và xu thế thương mại hóa, hiện đại hóa trong quá trình hội nhập, nhiều nghi lễ và trò diễn phồn thực độc đáo tại địa phương đang đứng trước nguy cơ bị phai nhạt, biến dạng hoặc lạm dụng.
Tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Khảo sát, làm rõ nguồn cội hình thành, thời gian, không gian tổ chức, hình thức diễn xướng và những nét độc đáo của tín ngưỡng phồn thực trong các lễ hội dân gian vùng đất Tổ Phú Thọ.
- Nhận diện các yếu tố biến đổi, thương mại hóa và những tác động tiêu cực làm phai nhạt bản sắc văn hóa cổ truyền trong thực hành lễ hội hiện nay.
- Đề xuất hệ thống giải pháp quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị nhân văn, bản sắc độc đáo của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống đương đại.
- Đối tượng nghiên cứu: Cách thức tổ chức lễ hội dân gian của nhân dân vùng đất Tổ, tập trung khảo sát sâu vào phần nghi lễ (các tục hèm, nghi thức mật) và phần hội (diễn xướng dân gian, trò diễn, trò chơi) mang yếu tố phồn thực.
- Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát thực địa tại các địa bàn trọng điểm thuộc tỉnh Phú Thọ gồm: xã Tứ Xã (huyện Lâm Thao) với lễ hội Trò Trám; xã Thanh Đình (thành phố Việt Trì) với lễ hội rước Ông Khiu Bà Khiu; xã Hiền Quan và xã Nam Cường (huyện Tam Nông) với lễ hội Đánh Phết Hiền Quan và hội làng Nam Cường. Khung thời gian nghiên cứu bao quát từ nguồn gốc lịch sử thời Hùng Vương đến thực trạng tổ chức lễ hội tại thời điểm năm 2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận, khóa luận vận dụng các khái niệm nền tảng của văn hóa học, dân tộc học và tôn giáo học về lễ hội dân gian, tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng phồn thực:
- Lễ hội dân gian: Được định nghĩa là sinh hoạt văn hóa nguyên hợp mang tính cộng đồng của cư dân nông nghiệp, gắn kết hữu cơ giữa hai thành tố "Lễ" (hệ thống nghi thức thờ phụng thần linh, mang tính thiêng) và "Hội" (sinh hoạt vui chơi, diễn xướng dân gian đáp ứng nhu cầu tâm lý cộng cảm).
- Tín ngưỡng phồn thực: Khái niệm "phồn" (nhiều) và "thực" (nảy nở) phản ánh khát vọng sinh sôi của muôn loài và mùa màng, biểu hiện qua hai dạng thức cơ bản: (1) Thờ sinh thực khí nam - nữ (Linga - Yoni hay Nõ - Nường) và (2) Thờ hành vi giao phối (tính giao). Khóa luận đối chiếu cấu trúc tín ngưỡng này với nguyên lý Âm - Dương, tục thờ Mẫu, thờ Thần Nông, tín ngưỡng thờ lúa nước và dấu ấn của bái vật giáo (niềm tin vào hồn lúa, vía lúa, tinh linh cây trồng).
Tác giả kế thừa hệ thống tư liệu học thuật từ các công trình nghiên cứu đi trước: Lễ hội cổ truyền (Phan Đăng Nhật, Viện Văn hóa Dân gian, 1992); Tín ngưỡng phồn thực trong lễ hội dân gian người Việt ở châu thổ Bắc Bộ (Vũ Anh Tú, 2010); Hội làng quê đi từ đất Tổ (Nguyễn Khắc Xương, 2011); Giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam (Trần Quốc Vượng chủ biên, 2009); cùng các ghi chép trong thư tịch cổ (Đại Việt sử ký toàn thư, Lĩnh Nam chích quái, Việt Điện u linh, Đại Nam nhất thống chí, Dư địa chí Bắc Ninh qua tư liệu Hán Nôm) và hiện vật khảo cổ học (thạp đồng Đào Thịnh, trống đồng Hoàng Hạ, di chỉ Sơn Vi, Gò Mun).
Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Tác giả trực tiếp đến các địa bàn mở hội tại Phú Thọ để quan sát, ghi chép, tham dự các phần nghi lễ bí truyền và phỏng vấn nhân chứng (các cụ bô lão, nghệ nhân làng Tứ Xã, cán bộ văn hóa phụ trách tại xã Thanh Đình, chuyên gia Bảo tàng Hùng Vương).
- Phương pháp phân tích - tổng hợp và văn bản học: Xử lý các tài liệu thư tịch, công trình nghiên cứu chuyên khảo, số liệu thống kê địa phương.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đối chiếu giữa các lễ hội phồn thực vùng đất Tổ với các vùng khác thuộc châu thổ Bắc Bộ và so sánh giữa nghi lễ cổ xưa với thực tiễn biến đổi hiện tại.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Sự hình thành tín ngưỡng phồn thực trong các lễ hội dân gian
Chương 1 thiết lập cơ sở lý luận và nền tảng lịch sử - tự nhiên của tín ngưỡng phồn thực tại vùng châu thổ Bắc Bộ nói chung và đất Tổ Phú Thọ nói riêng.
- Bản chất và dạng thức biểu hiện: Khóa luận làm rõ tín ngưỡng phồn thực tại Việt Nam gắn chặt với nông nghiệp lúa nước. Tác giả phân loại hai hình thức thể hiện: thờ sinh thực khí (ở đồng bằng Bắc Bộ thường biểu trưng hóa tinh tế qua các vật dụng như chày - cối, dùi gỗ - mu rùa, mo cau - tre) và thờ hành vi giao phối (tái hiện qua tượng 4 cặp nam nữ trên nắp thạp đồng Đào Thịnh niên đại 500 TCN, điệu múa tùng dí, múa mo, các nghi thức hèm).
- Điều kiện địa lý - xã hội Phú Thọ: Phú Thọ nằm ở trung tâm tiểu vùng Tây - Đông - Bắc, nơi hợp lưu của ba con sông (sông Thao, sông Lô, sông Đà), có 13 đơn vị hành chính cấp huyện, 277 xã, dân số năm 2011 đạt 1.364.700 người với 21 dân tộc anh em (người Kinh chiếm gần 1,1 triệu người, người Mường hơn 10 vạn người). Khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh (nhiệt độ trung bình năm khoảng 23°C, độ ẩm 85–87%) tạo điều kiện thuận lợi phát triển cây lúa nước.
- Mật độ và tính đặc thù: Dẫn số liệu từ nghiên cứu của Vũ Anh Tú (2010), Phú Thọ là địa phương có mật độ lễ hội phồn thực cao nhất châu thổ Bắc Bộ với 21/90 lễ hội (trong khi Bắc Ninh có 15/90 lễ hội, Vĩnh Phúc có 10/90 lễ hội). Tín ngưỡng phồn thực tại đây hòa quyện đặc sắc với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, tín ngưỡng thờ Thần Núa (hạt lúa thần bằng gỗ treo tại đền Thượng) và truyền thuyết dạy dân cấy lúa tại Minh Nông.
Chương 2: Một số lễ hội tiêu biểu vùng đất Tổ thể hiện tín ngưỡng phồn thực
Chương 2 là phần trọng tâm khảo sát thực địa, đi sâu miêu tả không gian, thời gian, tiến trình nghi lễ, diễn xướng và giải mã ý nghĩa văn hóa của các lễ hội tiêu biểu.
- Lễ hội Trò Trám (xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao):
- Diễn ra từ 18 giờ ngày 11 đến sáng ngày 12 tháng Giêng tại miếu Trò (còn gọi là "Tối linh từ", miếu Đụ Đị, nơi thờ nữ thần Ngô Thị Thanh) và điểm Trám.
- Cấu trúc gồm 3 phần chính:
- Nghi lễ tín ngưỡng phồn thực (Lễ Mật): Tiến hành vào giờ Tý đêm 11 rạng sáng 12 tháng Giêng. Sau các tuần tế và bài ca nghi lễ đệm nhịp cối xay tre, chủ tế trao Nõ (dùi gỗ mít tiện hình dương vật sơn son) cho người nam cởi trần đóng khố và Nường (mu rùa bằng gỗ mít tạo hình âm vật sơn son) cho người nữ mặc yếm đào váy đen. Khi đèn nến phụt tắt, chủ tế hô khẩu lệnh "Cái sự ấy làm sao? Cái sự làm vậy!" và "Linh tinh tình phộc", đôi nam nữ làm động tác đâm Nõ vào Nường 3 lần. Nếu đâm trúng cả 3 lần là điềm báo mùa màng bội thu, làm ăn thuận lợi. Ngay sau đó là tục "tháo khoán" trong đêm tối.
- Rước Lúa thần: Diễn ra sáng ngày 12 tháng Giêng, rước khóm lúa buộc vào thân cây mía từ miếu Trò sang đền Xa Lộc (thờ tướng Phùng Lân Hổ thời Trần) rồi đi vòng quanh các cánh đồng về miếu.
- Trò diễn Tứ dân (Bách nghệ khôi hài): Diễn xướng dân gian tại sân miếu trình diễn các nghề: sĩ, nông, công, thương, ngư, tiều, canh, mục kết hợp các câu ca dí dỏm, mang tiếng cười trào lộng.
- Lễ hội Ông Khiu Bà Khiu (xã Thanh Đình, thành phố Việt Trì):
- Tổ chức ngày mùng 4 tháng Giêng tại đình làng cổ Thanh Mai (được phục hồi từ năm 1993 sau thời gian gián đoạn).
- Nghi thức: Chọn một bô lão đức độ (60–65 tuổi) làm Ông Khiu (chủ tế/cai hội) và chọn nam thiếu niên (12–17 tuổi) khôi ngô giả nữ đóng vai Bà Khiu (do tục phong kiến kiêng nữ vào đình; Bà Khiu mặc váy mớ ba mớ bảy, giấu mặt bằng khăn đỏ, mang túi vải chứa 9 miếng trầu phượng, 9 miếng cau, 9 vỏ cây). Cuộc rước đưa bánh chưng tày (dài 50–60 cm) đến gò đất có hõm đá gọi là cái "Oa" (biểu trưng âm vật) tại nhà Nít, thực hiện động tác dúi bánh chưng vào Oa 3 lần mô phỏng tính giao hòa hợp âm dương. Sau lễ tế trên giàn Khiu cao 2 m, Ông Khiu và Bà Khiu tung bánh chưng và ngũ cốc cho dân làng chen nhau cướp để lấy may mắn cho mùa màng. Sau khi xong lễ, người đóng Bà Khiu phải trốn vào chuồng trâu thay trang phục để thoát xác thần, trở lại người phàm.
- Lễ hội Đánh Phết Hiền Quan (xã Hiền Quan, huyện Tam Nông):
- Diễn ra ngày 12–13 tháng Giêng, tưởng nhớ nữ tướng Thiều Hoa (thời Hai Bà Trưng, được sắc phong "Phụ quốc công chúa").
- Cấu trúc gồm 4 phần: Rước kiệu, tế lễ, kéo quân và đánh phết. Lễ vật tế gồm 3 quả phết (đẽo bằng gỗ xoan, gỗ lim hoặc gốc tre to gần bằng quả bưởi, sơn son thiếp vàng) và 3 quả chúi. Trò cướp phết thể hiện tinh thần thượng võ, đồng thời mang tính chất phồn thực cầu may cho nông nghiệp.
- Lễ hội Làng Nam Cường (huyện Tam Nông): Khóa luận khảo sát không gian, quy trình thực hành và ý nghĩa tâm linh của hội làng trong hệ thống hội phồn thực vùng đất Tổ.
| Tiêu chí | Lễ hội Trò Trám | Lễ hội Ông Khiu Bà Khiu | Lễ hội Đánh Phết Hiền Quan |
|---|---|---|---|
| Địa bàn | Xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao | Xã Thanh Đình, TP. Việt Trì | Xã Hiền Quan, huyện Tam Nông |
| Thời gian | Đêm 11 – sáng 12 tháng Giêng | Ngày mùng 4 tháng Giêng | Ngày 12 – 13 tháng Giêng |
| Nhân vật phụng thờ | Nữ thần Ngô Thị Thanh | Thần hoàng làng / Ông Khiu Bà Khiu | Nữ tướng Thiều Hoa |
| Biểu tượng phồn thực | Nõ (dùi gỗ) và Nường (mu rùa gỗ) | Bánh chưng tày và hõm đất/đá ("Oa") | Quả phết và quả chúi bằng gỗ |
| Nghi thức cốt lõi | Lễ Mật ("Linh tinh tình phộc"), tháo khoán | Dúi bánh chưng vào Oa, tung cướp ngũ cốc | Tế phết, kéo quân, cướp phết |
| Diễn xướng đi kèm | Rước Lúa thần, Tứ dân chi nghiệp | Rước cờ trâu nghé, cờ bông lúa | Rèn quân thượng võ, các trò thi đấu |
Chương 3: Một số giải pháp bảo tồn và phát huy tín ngưỡng phồn thực trong lễ hội dân gian vùng đất Tổ
Chương 3 chỉ ra các biến đổi tiêu cực trong thực hành lễ hội hiện nay như sự phai nhạt các lớp nghĩa biểu tượng thiêng liêng, xu hướng thương mại hóa, tranh cướp quá đà và hiện đại hóa hình thức trình diễn. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp:
- Nhóm giải pháp chính sách, quy định: Hoàn thiện quy chế quản lý lễ hội dân gian cấp cơ sở; thể chế hóa các quy ước làng văn hóa gắn với bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể; phân định ranh giới giữa bảo tồn nghi lễ cổ truyền với việc loại trừ các hành vi lạm dụng, lệch chuẩn.
- Nhóm giải pháp hành chính và tổ chức: Nâng cao năng lực chỉ đạo của chính quyền địa phương và ban tổ chức lễ hội; quy hoạch không gian tổ chức (khu vực hành lễ thiêng tách biệt với khu vực dịch vụ hội chợ); kiểm soát an ninh trật tự, ngăn chặn triệt để hiện tượng ép giá, cờ bạc trá hình và thương mại hóa lễ hội.
- Nhóm giải pháp giáo dục, tuyên truyền: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giúp cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ, hiểu đúng bản chất nhân văn và ý nghĩa biểu tượng của tín ngưỡng phồn thực nông nghiệp; khôi phục việc truyền dạy các bài bản diễn xướng dân gian (hát ví, diễn trò bách nghệ khôi hài) trong cộng đồng làng xã.
Kết quả và đóng góp của nghiên cứu
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:
- Kết quả khảo sát và tư liệu hóa: Cung cấp bức tranh toàn diện và chi tiết về 4 lễ hội phồn thực tiêu biểu của tỉnh Phú Thọ. Khóa luận ghi chép chính xác quy trình thực hành lễ mật, các câu khẩu xướng, lời ca nghi lễ cổ truyền và hệ thống biểu tượng vật linh (Nõ - Nường, Bánh chưng tày - Oa, Phết - Chúi).
- Phát hiện khoa học: Khẳng định Phú Thọ là trung tâm bảo tồn tín ngưỡng phồn thực có mật độ cao nhất miền Bắc (21/90 lễ hội), làm rõ mối quan hệ cộng sinh giữa tín ngưỡng phồn thực với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và tín ngưỡng thờ lúa nước bản địa.
- Hệ thống giải pháp: Đề xuất 3 nhóm giải pháp đồng bộ (chính sách quy định, biện pháp hành chính, giáo dục tuyên truyền) có tính ứng dụng thực tiễn cho cơ quan quản lý văn hóa địa phương.
- Đóng góp so với nghiên cứu trước: Khắc phục hạn chế của các công trình đi trước (vốn chỉ dừng lại ở mức liệt kê, miêu tả sơ lược hoặc nghiên cứu diện rộng mà chưa đi sâu vào cấu trúc nghi lễ mật và trò diễn cụ thể tại từng làng xã đất Tổ), khóa luận đã phân tích chi tiết nguồn gốc lịch sử, ý nghĩa tâm linh và giá trị diễn xướng sân khấu dân gian của từng lễ hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn về thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp và nguồn lực điền dã, tác giả mới chỉ tập trung khảo sát sâu tại 4 lễ hội trên địa bàn các huyện Lâm Thao, Tam Nông và thành phố Việt Trì, chưa thể bao quát toàn bộ 21 lễ hội phồn thực hiện diện trên địa bàn toàn tỉnh Phú Thọ.
- Hướng mở rộng: Mở rộng địa bàn điền dã khảo sát các lễ hội phồn thực ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số (như người Mường, người Dao tại Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập); nghiên cứu so sánh sâu hơn giữa biểu tượng phồn thực người Việt với tín ngưỡng Linga - Yoni của văn hóa Chăm pa và các nền văn hóa lân cận ở Đông Nam Á.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Việt Nam học, Văn hóa học, Lịch sử, Dân tộc học và Nhân học văn hóa khi nghiên cứu về tín ngưỡng nông nghiệp và lễ hội cổ truyền.
- Cán bộ quản lý văn hóa, bảo tàng và ngành du lịch tỉnh Phú Thọ trong công tác lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể, xây dựng phương án phục dựng lễ hội và khai thác phát triển sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh.
- Đáng tham khảo nhất là Chương 2 với các miêu tả chi tiết, sinh động về trình thức thực hành Lễ Mật Trò Trám và nghi lễ dúi bánh chưng tại Oa trong hội Ông Khiu Bà Khiu.
Câu hỏi thường gặp
1. Cặp linh vật "Nõ" và "Nường" trong lễ hội Trò Trám được làm bằng chất liệu gì và cất giữ ở đâu?
Nõ (tượng trưng dương vật) và Nường (tượng trưng âm vật) được người dân Tứ Xã đẽo gọt bằng gỗ mít, sơn son. Hai linh vật này được đặt trong hai lớp hòm khóa kín (hòm nhỏ lồng trong hòm to) đặt trang trọng tại miếu Trò (gò Trám), chìa khóa do ông thủ từ nắm giữ, chỉ mở ra vào giờ Tý đêm 11 tháng Giêng khi tiến hành Lễ Mật.
2. Khẩu lệnh và quy ước trong Lễ Mật ("Linh tinh tình phộc") tại miếu Trò diễn ra như thế nào?
Sau khi nghe khẩu lệnh "Cái sự ấy làm sao? Cái sự làm vậy!", khi chủ tế hô "Linh tinh tình phộc", người nam cầm Nõ và người nữ cầm Nường thực hiện động tác đâm chạm hai vật vào nhau trong bóng tối. Nếu đâm trúng khớp 3 lần liên tiếp thì năm đó làng tin rằng sẽ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và nhân khang vật thịnh.
3. Vì sao vai "Bà Khiu" trong lễ hội làng Thanh Đình lại do một thiếu niên nam đóng giả nữ?
Theo tập tục phong kiến cổ truyền, phụ nữ không được phép bước vào nội tự đình làng để hành lễ. Do đó, dân làng chọn một thiếu niên nam từ 12 đến 17 tuổi, khỏe mạnh, khôi ngô, gia đình song toàn để mặc trang phục nữ (váy mớ ba mớ bảy, khăn đỏ che mặt) thực hiện nghi lễ rước và tế tự.
4. Nghi thức phồn thực đặc trưng nhất tại lễ hội Ông Khiu Bà Khiu là gì?
Đó là nghi thức rước chiếc bánh chưng tày (hình trụ dài 50–60 cm) đến gò đất có hõm đá mang tên cái "Oa" tại nhà Nít, sau đó thực hiện thao tác cầm bánh chưng dúi vào Oa 3 lần nhằm tái hiện hành vi giao phối, biểu trưng cho sự hòa hợp âm dương và kích thích sự sinh sôi của đất trời, mùa màng.
5. Phú Thọ chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong tổng số lễ hội phồn thực ở vùng châu thổ Bắc Bộ theo số liệu khóa luận trích dẫn?
Theo bảng thống kê của tác giả Vũ Anh Tú (2010) được khóa luận trích dẫn, tỉnh Phú Thọ có 21 trên tổng số 90 lễ hội phồn thực của toàn vùng châu thổ Bắc Bộ (chiếm tỷ lệ cao nhất, vượt qua Bắc Ninh với 15/90 lễ hội và Vĩnh Phúc với 10/90 lễ hội).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của Phạm Hải Yến là công trình nghiên cứu hệ thống và nghiêm túc về tín ngưỡng phồn thực trong không gian văn hóa lễ hội dân gian vùng đất Tổ Phú Thọ. Bằng phương pháp điền dã kết hợp phân tích văn bản học, tác giả đã làm sáng tỏ nguồn gốc, hình thức biểu hiện sinh động và bản sắc văn hóa độc đáo của các lễ hội tiêu biểu như Trò Trám, Ông Khiu Bà Khiu, Đánh Phết Hiền Quan. Đề tài đồng thời đề xuất các nhóm giải pháp thiết thực nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trước những biến đổi của đời sống hiện đại.