Chương 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU Tài liệu liên quan đến dé tai bảo tổn giá trị văn hóa truyền thống khá phong phú và da dang. Đó là các nguôn tài liệu bao gồm: báo cáo khoa học, sách, bài viết, luận văn của các tác giả trong và ngoài nước. Vấn đề bảo tồn giá trị văn hóa được các tác giả khai thác dưới nhiều giác độ khác nhau như: xã hội học, văn hóa học, lịch sử, dân tộc học. Trên cơ sở khai thác một số khía cạnh của các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài, tác giả đã phần nào hiểu tong quan được những gì các tác giả đi trước đã làm được, những gì chưa làm được cần bổ sung thêm.
Đó là cơ sở tiền đề cơ bản dé tác giả triển khai đề tài nghiên cứu của mình. Dưới đây là những khía cạnh chính được các tác giả đi trước nghiên cứu có liên quan đến dé tài luận án “Một số yếu tố xã hội tác động đến bảo ton giá trị truyền thong quan ho Bac Ninh”. Các nghiên cứu về mục đích của việc bao tồn giá trị văn hóa truyền thống Theo Gregory J.Ashworth, quan điểm bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống được phát triển đầu tiên từ những năm 50 của thế kỷ XIX. Những sản phẩm của quá khứ, nên được bảo tồn dé tránh tình trạng thé hệ hiện tại làm méo mó, biến dang di sản.
Không những thế, những tác động của ngày hom nay sẽ tạo nên những tầng lớp văn hóa khác không trùng nghĩa với lớp văn hóa mà thế hệ trước chuyên giao cho thế hệ sau, vì thế có thể làm cho thế hệ sau nữa không thể truy nguyên được những giá trị của di sản đang tôn tại. Hiện nay,nhiều nhà khoa học nghiên cứu về xã hội và văn hóa đều đặt hoạt động bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa. John Kleinen trong cuốn “ Đối mặt với tương lai, hôi sinh quá khứ; một nghiên cứu về sự biến đổi xã hội ở một làng Bắc Việt Nam” (2007) bằng phương pháp điền dã dân tộc học đã cho thấy: giá trị truyền thống văn hóa được bảo tồn giỗng như một cơ chế ứng phó của cộng đồng trước những biến động của quá trình toàn cầu hóa [30]. Qua nghiên cứu về “Quản lý các hình thức sinh hoạt quan họ ở Bắc Ninh trong đời sống xã hội hiện đạ (2011), tắc giả Hà Chí Cường nhẫn mạnh đến thực trạng đời sống di sản văn hóa phi vật thê băng, đồng thời chỉ ra những khó khăn, thách thức mới trong xã hội đang diễn ra quá trình toàn cầu hóa [13, tr.
Các tác giả Trần Đình Hượu, Phan Ngọc (1995), Trần Lâm Bién - Trịnh Sinh (2010), Trần Quốc Vượng (2010) đã cung cấp những đánh giá sâu sắc về giá trị to lớn của các khía cạnh lịch sử, tư tưởng, xã hội, mỹ thuật của hệ thống di sản văn hóa của dân tộc. Qua đó, khăng định sự cấp thiết cần bảo tồn những giá trị này với sự chung tay của cả xã hội [26], [41, tr. Trong đó Nguyễn Chí Bén (2010) khi nghiên cứu về “Bdotôn, phát huy gid trị di sản văn hóa vật thé Thang Long — Hà Noi” đã nhắn mạnh đến việc tôn trọng tính nguyên gốc của giá tri văn hóa [3, tr. Tô Duy Hợp (1998), Trịnh Duy Luân (2008) đặc biệt chú trọng các tác động của nhiều yếu tố kinh tế, chính trị xã hội đến biến đổi văn hóa của cộng đồng dân cư [27, tr.
Trần Đức Ngôn (2006) trong “Van hóa truyền thong ngoại thành Hà Nội dưới tác động của kinh tế thị trường” trên cơ sở khảo sát về thực trạng biến đổi văn hóa vật thé và phi vật thé đã dé xuất đưa ra những biện pháp bảo tồn văn hóa truyền thong ở một số khu vực đang trong quá trình đô thị hóa [43, tr 24-29].Tác giả mô tả khá chỉ tiết thực trạng lĩnh vực văn hóa phi vật thể: do hoàn cảnh sống thay đôi, sự du nhập các văn hóa nước ngoài và lực lượng lớp trẻ ngày càng xa dần phong tục xưa nên những loại hình văn hóa truyền thong dan bi mai một. Chính vi vay, Phan Hồng Giang (2007) cho rang, các nhà quản lý phải vào cuộc kip thời dé gin giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống đó, với mục tiêu “bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể”. Dựa trên những hiểu biết của mình vềkhái niệm văn hóa, Oscar Salemink (2007) trong “Báo ton và phát huy di sản văn hóa phi vật thé ở Việt 10 Nam” đã đưa vào bài viết cum từ “tạo đựng nên truyền thống” (construction of tradition) với ý nghĩa là truyền thống và văn hóa được liên tục tái tạo trong một hoàn cảnh luôn thay đổi. Nói cách khác, không có một truyền thống ban đâu, cô định dang dan dan bị thay thế bởi một nền văn hóa toàn cau.
Tác gia cho biết, một số nghiên cứu phê phán đối với vai trò của “văn hóa ngoại quốc” và sự truyền bá của nó qua phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại cũng như vai trò của du lịch quốc tế như là những yếu tố phá hủy các nền văn hóa truyền thống. Nhưng theo tác giả, quá trình này sẽ dẫn đến một sự tái tạo các nên văn hóa. Lập luận của tác giả là cách tiếp cận đặt cơ sở trên một khái niệm về văn hóa, đối với việc bảo tồn di sản không thể phủ nhận việc chú trọng ghi chép lại những hình thức văn hóa và tri thức địa phương. Tuy nhiên việc bảo tồn như vậy không đảm bảo được rang di sản văn hóa sẽ được bảo tồn như là một văn hóa sống.
Văn hóa của một tộc người được tái tạo, trong sự tương tác với môi trường luôn thay đôi. Do đó, bất cứ nỗ lực nghiêm túc nào nhằm bảo tồn và tăng cường sinh lực cho văn hóa cũng cần được hướng đến các nhóm xã hội ở đó, vì họ là các tác nhân của văn hóa. Trong phần kết luận, tác giả một lần nữa lại tái khăng định “không phải chỉ văn hóa mới là chủ yếu mà chính là những người sống trong văn hóa đó. Không thé nào tôn trọng văn hóa mà không tôn trọng những con người đang chuyên tải văn hóa.
Theo Rober Holton (2000), dòng chảy giao thoa văn hóa toan cầu nay sẽ dẫn đến kết quả xuất hiện những quan điểm về bảo tồn văn hóa dưới tác động của toàn cầu hóa [67, tr 283 -322]. A (1991) nhấn mạnh một trong những khía cạnh đáng chú ý nhất của toàn cầu hóa là sự đánh giá lại về khu vực/ địa phương, làm cơ sở cho sự tương tác xã hội và trọng tâm cho cả bản sắc chính trị và văn hóa [63, tr. Vì vậy việc bảo tồn những giá trị truyền thống (trong đó có văn hóa phi vật thể) sẽ tái dựng lại và diễn giải lại bản sắc văn hóa dân tộc, chống lại những hình thức đồng nhất hóa của toàn cầu [31, tr. 11 Hầu hết các tác giả đều khăng định tác động của toàn cầu hóa có thể được coi là một tác nhân tích cực trong việc đây mạnh nội dung văn hóa và vai trò xã hội của văn hóa phi vật thể.
Nhu cầu bảo tồn truyền thống và nhu cầu toàn cầu hóa văn hóa và xã hội có thé cùng tổn tại [31, tr. Trên cơ sở đó, người nghiên cứu văn hóa đã đề cao tính tất yêu của quy luật bảo tôn, làm giàu phát huy văn hóa truyền thống trong đổi mới và hội nhập. Không ai không thấy tính phức tạp và phạm vi rộng lớn của quá trình hội nhập văn hóa hiện nay trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tuy nhiên, nếu kiên trì định hướng, một mặt, bảo tồn, làm giàu và phát huy văn hóa truyền thống, mặt khác, chủ động giao lưu văn hóa thì nền văn hóa trong tương lai sẽ vừa mang tính dân tộc lại vừa mang tính hiện đại.
Về hình thức, “việc bảo tồn truyền thống và tiếp thu cái mới từ bên ngoài tưởng như hai định đề trái ngược nhau, nhưng trên thực tế thì chúng là hai mặt của một thực thể thống nhất, chúng tạo ra động năng cho sự phát triển bản thân văn hóa và xã hội” [31, tr. Từ hai van dé phân tích ở trên tác giả đưa ra kết luận “đổi mới và hội nhập đã và đang tạo ra những cơ hội cũng như thách thức đối với việc bảo tồn làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và hội nhập quốc tế” [31, tr. Từ quy luật biến đi, phát triển văn hóa là từ truyền thống - tiếp biến (acculturation) — đổi mới (innovation) — quay về truyền thống. Trong chuỗi các điểm nút của nac thang tiến hóa, biến đổi và phát triển này, thì tiếp biến, tức là giao lưu ảnh hưởng đóng vai trò quan trọng hàng dau.
Bởi vì truyền thống rất khó đổi mới nếu như không thông qua môi trường tiếp biến, giao lưu, hội nhập. Cho nên, môi trường bao lưu, hội nhập luôn tạo ra những cơ hội tốt cho quá trình biến đổi và phát triển văn hóa dân tộc” [31, tr. Tác giả Vương Toàn (2011) trong “Bảo ton, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc phục vụ phát triển bên vững” cho rằng nguy cơ và thách thức lớn của giao lưu hội nhập văn hóa là sẽ làm thui chột, phai nhạt bản sắc văn hóa dân 12 tộc dẫn đến sự đồng hóa và sẽ làm nguồn nội lực cho sự phát triển của đất nước mat đi sức sống. Tiếp thu bên ngoài là tất yêu nhưng phải khang định vai trò của chủ thể văn hóa trong bảo tồn và phát triển, tăng cường các cách thức bảo tồn văn hóa trong phát triển: tính mở và tính vận động, sự đa dang không chỉ theo tộc người mà đa dang vùng, miền.
Một số nghiên cứu nhấn mạnh trong quá trình toàn cầu hóa có thé dẫn đến sự thay đổi về cơ cấu nghề nghiệp. Điều này tạo nên sự thay đổi không gian và cảnh quan của những nơi lưu giữ văn hóa phi vật thể, mà phần lớn nơi đó thường là nông thôn. Nguyễn Thị Phương Châm (2009) trong nghiên cứu về “Biến đổi văn hóa ở làng quê hiện nay” đã cho thấy, vẫn đề phục hồi và bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống cần đặt trong bối cảnh của làng quê hiện đại nhưng có không gian văn hoá truyền thống [6, tr.Vi thế không thể bảo ton theo kiểu “đóng cứng”, mà phải bảo tồn sinh hoạt văn hoá đó trong sự vận động của xã hội.