Chương 1: SƠ LƯỢC VE CÁC TỘC NGƯỜI NHÓM NAM ĐẢO Ở TÂY NGUYÊN 1. Đôi nét về nhóm Nam Đảo ở Đông Nam Á Đông Nam Á là một vùng văn hóa giàu có, phong phú và riêng biệt. Nếu xét theo bản đồ chính trị hiện đại, Đông Nam A có 11 nước: Myanmar, Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia, Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippin, Brunei, Đông Timor. Nhưng nếu xét theo bản đồ văn hóa — tộc người, thì khu vực Đông Nam A rộng hơn.
Nó bao gồm vùng Nam Trung Quốc, vùng Đông Bắc Án Độ, thậm chí các quan đảo ở Thái Binh Dương, và cả Madagascar, v. Đông Nam Á là khu vực có chữ viết muộn, chủ yếu là mượn từ nguồn chữ Hán và các văn tự An Độ. Việc nghiên cứu các ngôn ngữ ở Đông Nam Á chỉ thực sự được bắt đầu từ khi có sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phương Tây. Các học giả phương Tây khi nghiên cứu các ngôn ngữ ở Đông Nam Á thường tập trung vào hai nội dung chính là miêu tả các ngôn ngữ cụ thé và biên soạn các sách công cụ.
Ho cũng đã sử dụng phương pháp so sánh ngôn ngữ học lịch sử để tìm ra các mối quan hệ thân thuộc giữa các ngôn ngữ. Nhìn chung, sự phân loại các ngôn ngữ ở Đông Nam Á là công việc khó khăn. Hiện nay theo các học giả ở Đông Nam Á có 4 ngữ hệ chủ yếu [19, tr. Ngữ hệ Nam A 2.
Ngữ hệ Thai 3. Ngữ hệ Nam Đảo (có người gọi là Malayô — Pôlinêdia) 4. Ngữ hệ Hán — Tạng Bắt nguồn từ sự phân chia theo ngữ hệ, các nhà khoa học cũng dùng cách phân chia này dé phân loại các tộc người theo các nền văn hóa cơ bản. Như vậy, nhóm Nam Đảo không chỉ là nhóm của các tộc người nói những ngôn ngữ cùng một ngữ hệ, mà còn là một vùng văn hóa chung.
Các tộc người thuộc nhóm Nam Dao (Austronesian) hay Mã Lai - Da Đảo (Malayo - Polynesian) tập trung đông nhất ở các nước Philippin, Indonesia, Malaysia, 7 một số ở Campuchia, Việt Nam và Singapore. Nhóm Nam Đảo ở Việt Nam bao gồm 5 tộc người (và 5 ngôn ngữ của các tộc người này): Gia-rai, Ê-đê, Chăm, Ra-glai, Chu- ru. Đại diện cho nhóm Nam Dao chủ yếu là người Mã Lai. Những nhóm cư dân ở phía Nam Đông Nam A do lai tap với nhiều thành phan cư dân khác nên không điển hình bằng, và do đó, người ta có xu hướng tách riêng họ thành nhóm Nam Đảo (Austronesian).
Theo Từ điển Larousse du 20e siècle (Larousse của thế kỷ XX), Nam Đảo chi tổng thể những vùng dat của châu Dai Duong, tức là các đảo lớn nằm trên Thái Bình Dương đến phía Nam của Đông Nam A [16, tr. Đây là khu vực rộng lớn, có rất nhiều đảo, nên có nhiều nét văn hoá rất khác nhau. Về đặc điểm nhân chủng nhóm Nam Đảo (số với các nhóm tộc người khác) có những nét tiêu biểu: - Nước da sam hơn; - Pha trộn giống mạnh hơn. Các tộc người thuộc nhóm Nam Đảo nói một thứ tiếng phân bố rộng rãi từ Madagascar, qua bán đảo Mã Lai, Indonesia cho đến Hawaii.
Nhóm ngôn ngữ châu Đại Duong của người Nam Dao (Austronesian) thường gọi là tiếng Mã Lai — Da Dao (Malayo - Polynesian). Tiêu biểu là tiếng Mã Lai, Chăm, Ê-đê, Gia-rai, Đài Loan, Indonesia, Philippines, Micronesia, Melanesia, Polynesia [16, tr. Hai tên gọi Malayo — Polynesian va Austronesian (Nam Đảo) xem như đồng nghĩa. Ngữ hệ này bao gồm khoảng 200 tiếng nói cụ thể, chủ yếu ở các đảo, trai dài từ Đông Nam Á đến các quần đảo ở châu Đại Dương (thuộc Thái Bình Dương) về phía Đông, và hòn đảo Madagascar ở Đông Nam châu Phi về phía Tây.
Những nơi và sô người nói tiêng Malayo — Polynesian gôm có: Vùng Số tiếng nói Số người 1. Việt Nam + Campuchia 7 700 000 4. Indonesia, Malaysia, Brunei 300 130 000 000 6. Polynesia 20 700 000 Tong cộng 770 181 000 000 Nguồn: theo số liệu cua Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.
Ngoài những nước kê trên, còn có những nhóm cư dân khác cũng nói tiêng Malayo — Polynesian như: - Một nhóm nhỏ người nói tiếng Chăm ỏ đảo Hải Nam Trung Quốc; - Những cộng đồng nhỏ ở các vùng tiếp giáp với Thái Lan và Myanma; - Một số vùng trong quần đảo Melanesia: Papua New Guinea, các đảo Solomon, Vanuatu, New Caledonia, Fiji; - Một số vùng trong quần dao Micronesia: Belau, Guam, Bac Marianas, Federal State of Micronesia, các dao Marshall, Kiribati, Nauru; - Một số vùng trong quan đảo Polinesia: Tuvalu, Tongo, Wallis va Futuna, Samoa, Tokelau, Nieu, Hawaii, French Polinesia, Cook Islands, New Zealand, Easter Island; - Va còn những người ngoại lai, cu dân ở ba quan dao trên hoàn toàn nói tiếng Malayo — Polynesian. Tiếng Indonesia/Malaysia chủ yếu là ngôn ngữ Malayo — Polynesian, nhưng nó có hai vùng nói tiếng khác. Đó là tiếng Aslian thuộc Austro Asiatic (Nam A) ở nội dia bán đảo Malaysia, và tiêng Papuan trên đảo New Guinea và một sô đảo nhỏ ở phía Đông va Tây cua nó [16, tr. Ở Việt Nam và Campuchia, những người nói tiếng Malayo — Polynesian là những nhóm thiểu số nhỏ như người Chăm, Ê-đê, Gia-rai, Ra-glai, Chu-ru nằm giữa những nhóm lớn nói tiếng Việt và tiếng Khmer.
9 Ở Đài Loan, người thé dân nói tiếng Malayo — Polynesian. Còn cư dân hiện nay chủ yếu là người từ lục địa ra đảo từ 300 năm nay, nhất là từ năm 1949. Nghiên cứu so sánh các nhóm ngôn ngữ Malayo — Polynesian thì thấy: - Tiếng thổ dân Đài Loan còn giữ nhiều âm cô thấy ở hầu hết các nhóm tiếng Malayo — Polynesian, nên có thé xem là nhóm cổ nhất, có thể gọi là tiếng Austronesian (Nam Dao) đích thực. - Ngoài tiếng Đài Loan, các nhóm còn lại có thé gọi chung là Malayo — Polynesian (Mã Lai — Da Đảo).
- Nhóm các ngôn ngữ ở Melanesia, Micronesia và Polynesia trên các quần đảo ở Thái Bình Dương, được Dempwolff nêu ra đầu tiên, nay được gọi chung là tiếng Oceanic (tiếng châu Đại Dương) [16, tr. Những quốc gia mà tiếng nói chính thức là tiếng Malayo — Polynesian là Indonesia, Malaysia, Philippin, Singapore. Ở Malaysia có ba cộng đồng cu dân chính là Mã Lai, Hoa va An (Tamil). Vi người Mã Lai là tộc người chủ thé lại có nguồn gốc bản địa, nên tiếng Mã Lai được xem là tiếng chính thức của quốc gia.
Theo định nghĩa của Malaysia, người Mã Lai là người theo Islam (Hồi giáo) và nói tiếng Mã Lai. Singapore cũng xem tiếng Mã Lai là tiếng nói chính thức của quốc gia, nhưng trên thực tế thì tiếng Anh được sử dụng rộng rãi trong xã hội. Indonesia gồm nhiều cộng đồng cư dân có tiếng nói riêng nhưng đều thuộc về ngữ hệ Malayo — Polynesian. Các cộng đồng này có lịch sử lâu đời và nền văn hóa riêng như Jawa, Sunda, Batak, Minangkabau, Madura, Bali, v.
Tiéng Ma Lai 6 Indonesia và tiếng Mã Lai ở Malaysia về co ban là giống nhau. Sự khác nhau của chúng chủ yếu nằm ở lớp từ vay mượn. Về chữ viết, xưa kia các nước này chịu ảnh hưởng của văn hóa An Độ nên đã vay mượn chữ viết An Độ. Từ thé ky XIII — XV, Islam (Hồi giáo) xâm nhập vào các nước ấy nên đã chuyên sang dùng chữ cái A rap.
Sang thế ky XX, trước ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, họ đã sử dụng chữ cái Latinh. 10 Có những từ Malayo — Polynesian được nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới (nhất là ở châu Âu) sử dụng như: Tabou: cắm ky, Tatouage: xăm mình, Tamouré: nhảy múa, Monoi tiare: dầu hoa, nước hoa. Nếu căn cứ vào lịch sử thì nhóm ngôn ngữ Nam Đảo được hình thành vào khoảng Thiên niên kỷ II trước Công Nguyên, tại vùng Đông Nam ven biển Quảng Đông, Trung Quốc hiện nay. Do sản xuất phát triển và dân số tăng, họ đã di cư xuống Đông Nam Á nhiều đợt theo hai hướng chính.
Hướng thứ nhất dọc theo bờ biển Trung Quốc và Việt Nam. Người Chăm dừng lại ở đây rồi đến miền Tây Indonexia, từ đó đi về Đông và Đông Bắc đến Philippin và Đà Loan. Hướng thứ hai qua Đài Loan sang Philippin rồi từ đó sang Indonexia qua Đông Dương. Vấn đề địa bàn tụ sinh và con đường thiên đi của các tộc người Nam Đảo là mỗi lưu tâm của nhiều nhà khoa học lịch sử phương Đông.
Một số nhà ngôn ngữ, bắt đầu là P. Bennedict, nêu lên mối quan hệ ngôn ngữ giữa Tay — Thái và Indonexia thông qua nhóm Kadai, sau đó đưa ra khái niệm Nam Thái (Austro — Thái) đã góp phần giúp các nhà khoa học lịch sử, dân tộc học tìm kiếm noi tụ sinh của các cư dan Nam Đảo ở miền Đông Nam Trung Hoa, thuộc khu vực phía Nam sông Dương Tử, vùng nước Việt thoi Xuân Thu (VII — V trước CN) và Ngô, Việt thời Chiến Quốc (V — II trước CN). Heine Gelbern là người đầu tiên đưa ra giả thuyết này vào năm 1923 [37, tr. Ông dựa vào sự phân bố của chiếc rìu đá mài tứ điện vốn xuất hiện từ lục địa ven biển Đông — Nam Trung Hoa, sau lan xuống phương Nam bang hai con đường: đường thủy và đường bộ xuống Đông Nam Á.
Tchebocxarov, Mongoloid từ phương Bắc xuống hỗn thuyết cùng người Australoid cư trú từ trước, đã tạo nên tổ tiên người Mã Lai — Da Đảo được da số giới khoa học chấp nhận, một phần cũng nhờ những cư liện ngôn ngữ học, lịch sử cô đại Trung Hoa [41], tr. Gan đây, nhà khoa hoc W. Solheim II đưa ra một quan điểm khác, đó là coi các tộc người Nam Đảo xuất phát từ khu vực quần đảo Đông Nam Á rồi tỏa ra khu 11 vực Đông Nam A — Thái Bình Dương, tới tận châu Dai Dương và miền Nam Trung Hoa [40, tr. Ý kiến đó cần xem xét, vì thực tế khó bác bỏ ý kiến được đa số các nhà bác học đồng tình đã nêu ra ở trên.
Solheim lầm lẫn vì các cư dân Nam Đảo ở hai đảo lập quốc muộn hơn nhiều so với các cư dân thuộc các dòng ngôn ngữ khác ở lục địa. Vậy sao họ lại mang được văn minh của họ lên các vùng lục địa. Việc phát hiện di chỉ Noc Non Tha chính do nhóm nghiên cứu của ông phát hiện ra với vết tích của lúa cũng đã thấy ở vùng Bắc Thái Lan cư dân đã có trình độ văn minh hơn cư dân hải đảo cùng thời [37, tr.