Tổng quan luận án

Hoạt động triển lãm thương mại tại Việt Nam có lịch sử hình thành từ thời kỳ Pháp thuộc, song diện mạo mỹ thuật không gian trưng bày chỉ thực sự có bước chuyển biến rõ nét từ thời kỳ Đổi mới và những năm đầu thế kỷ 21 dưới tác động của khoa học công nghệ. Triển lãm Ô tô Việt Nam (Vietnam Motor Show - VMS) do Hiệp hội các nhà sản xuất Ô tô Việt Nam (VAMA) khởi xướng từ năm 2002 tại Hà Nội là sự kiện xúc tiến thương mại có quy mô lớn. Năm 2012 ghi dấu mốc VAMA thực hiện chiến lược "Hướng tới người tiêu dùng", chuẩn hóa quy trình tổ chức và truyền thông theo các tiêu chuẩn quốc tế. Từ thời điểm này, nghệ thuật trưng bày tại các kỳ VMS có sự chuyển biến rõ rệt về tổ chức không gian thị giác, vận dụng các xu hướng mỹ thuật Hiện đại và Hậu hiện đại, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp biến các giá trị bản sắc văn hóa bản địa. Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và hệ thống dưới góc độ lý luận và lịch sử mỹ thuật đối với nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại nói chung và VMS nói riêng. Luận án tiến sĩ nghệ thuật của tác giả Hồ Nam, chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật (mã số: 9210101), thực hiện tại Trường Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hoàng Minh Phúc (năm 2019), được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể:

  • Mục đích tổng quát: Nghiên cứu các biểu hiện nghệ thuật thị giác của nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại VMS, từ đó làm rõ giá trị thẩm mỹ và xu hướng phát triển.
  • Mục đích cụ thể:
    1. Nhận diện bản chất của nghệ thuật trưng bày.
    2. Xác định hệ thống cơ sở lý luận liên quan đến nghiên cứu nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại VMS.
    3. Làm rõ hình thức biểu hiện nghệ thuật thị giác của nghệ thuật trưng bày tại VMS thông qua bố cục không gian, tạo hình, ánh sáng, các nghệ thuật trình diễn và âm thanh.
    4. Làm rõ sự hội nhập và tiếp biến của nghệ thuật trưng bày tại VMS thông qua các hình thức biểu hiện nghệ thuật.
    5. Làm rõ giá trị thẩm mỹ, các điểm hạn chế và xu hướng phát triển của nghệ thuật trưng bày tại các kỳ VMS.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 3 câu hỏi:

  • Câu hỏi 1: Nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại VMS có những vấn đề gì? Vị trí, diện mạo của nó trong tiến trình lịch sử mỹ thuật Việt Nam nói chung và lịch sử nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại Motor Show trên thế giới nói riêng?
  • Câu hỏi 2: Hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại VMS thông qua cấu trúc và phương tiện biểu hiện nghệ thuật nào?
  • Câu hỏi 3: Giá trị thẩm mỹ của nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại VMS có những thành tựu và vấn đề gì? Xu hướng phát triển thẩm mỹ của nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại VMS trong xu thế thế giới hội nhập và phát triển?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu gồm 3 giả thuyết tương ứng:

  • Giả thuyết 1: Nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại VMS là một loại hình nghệ thuật có tính chiếm lĩnh không gian thuộc lĩnh vực Mỹ thuật ứng dụng. Loại hình này có những đặc điểm riêng tương ứng với cấu trúc của nó, đồng thời vận động và phát triển theo xu hướng chung của tiến trình lịch sử mỹ thuật Việt Nam và lịch sử nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại Motor Show trên thế giới.
  • Giả thuyết 2: Nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại VMS có những hình thức biểu hiện nghệ thuật tương ứng với bản chất cơ cấu nội tại của nó, đồng thời vận động và phát triển theo quy luật thẩm mỹ học, mỹ thuật học.
  • Giả thuyết 3: Nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại VMS có những giá trị thẩm mỹ, có xu thế phát triển gắn liền với thành tựu của nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại Motor Show trên thế giới, có dấu ấn bản sắc riêng và gắn liền với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật trưng bày thông qua các hình thức biểu hiện nghệ thuật tạo hình không gian tại các triển lãm thương mại VMS.
  • Phạm vi không gian: Không gian trưng bày của các nhà sản xuất xe hơi lớn là thành viên trực thuộc VAMA, tham gia thường niên các sự kiện VMS, đại diện cho các trung tâm sản xuất ô tô lớn tại châu Âu, Bắc Mỹ và châu Á: Toyota, Honda, Ford, Lexus và Mercedes-Benz.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2017. Các trường hợp nghiên cứu thực nghiệm điển hình gồm: gian trưng bày Toyota năm 2012 (tại Hà Nội), Honda năm 2013 (tại TP. Hồ Chí Minh), Ford năm 2014 (tại TP. Hồ Chí Minh), Lexus năm 2016 (tại Hà Nội), Mercedes-Benz năm 2017 (tại Hà Nội). Giai đoạn 2012-2017 được tác giả xác định là khoảng thời gian hoạt động trưng bày tại VMS chuyển sang giai đoạn chuyên nghiệp hóa theo chuẩn quốc tế, đủ điều kiện để đánh giá toàn diện các biến chuyển tạo hình không gian.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả phân chia hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan thành 4 nhóm lĩnh vực:

Nhóm 1: Triết học nghệ thuật và hình thái học nghệ thuật. Công trình Mỹ học của Denis Huisman (Huyền Giang dịch, 2003) cung cấp bức tranh toàn cảnh về lịch sử mỹ học qua các đại diện Platon, Aristote, Immanuel Kant, G.W.F. Hegel, phân tách ba cách tiếp cận: triết học, tâm lý học và xã hội học. Công trình Hình thái học của nghệ thuật của M. Cagan (Phan Ngọc dịch, 2004) đặt nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng, phân tích cơ cấu bên trong của thế giới nghệ thuật xoay quanh trục "Tác giả - Thời đại - Công chúng", phân loại nghệ thuật dựa trên tiêu chuẩn bản thể học và ký hiệu học. M. Cagan xác lập bản chất của nghệ thuật triển lãm là loại hình nghệ thuật không gian không miêu tả, có tính kiến trúc, tính tạm thời, tính quảng cáo, tính sân khấu và mang cấu trúc tổng hợp. Bên cạnh đó, các vấn đề mỹ học Hậu hiện đại được khảo sát qua các tư tưởng của Jean-François Lyotard (sự hoài nghi đại tự sự, phân mảnh, đa nguyên luận), Jacques Derrida (giải cấu trúc) và công trình tổng thuật Chủ nghĩa hậu hiện đại - Các vấn đề nhận thức luận của Trần Quang Thái (2011).

Nhóm 2: Mỹ thuật học, mỹ thuật ứng dụng, phương pháp luận design và hệ giá trị thẩm mỹ. Giáo trình Nghệ thuật học do Đỗ Văn Khang chủ biên (2011) cung cấp cơ sở đối chiếu các loại hình nghệ thuật thị giác. Cuốn Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật của Cynthia Freeland (Nguyễn Như Huy dịch, 2010) hệ thống hóa sự dịch chuyển từ quan niệm "nghệ thuật là sự mô phỏng" sang lý thuyết hình thức của Clive Bell và quan niệm của Kant về "tính hợp mục đích không có mục đích". Tập tiểu luận Tiếp xúc với nghệ thuật của Thái Bá Vân (2009) nhấn mạnh luận điểm sử học mỹ thuật Việt Nam phải được đặt trong hệ thống mỹ thuật thế giới. Về mỹ thuật ứng dụng, tác giả kế thừa công trình Con mắt nhìn cái đẹp của Nguyễn Quân (2005) về các yếu tố thị giác (điểm, nét, diện, khối, màu, tư duy liên tưởng), Giáo trình mỹ thuật học đại cương của Nguyễn Xuân Tiên (2014) với 5 nguyên tắc của sản phẩm mỹ thuật ứng dụng (hợp lý xã hội, ecgônômi, hiệu quả thẩm mỹ, hiệu quả kinh tế, thân thiện môi trường), và công trình Đi dai thị giác của Nguyễn Luận (1990) về cấu trúc nội dung - hình thức trong design và nguyên lý hài hòa, thống nhất. Về hệ giá trị thẩm mỹ, tác giả tiếp thu lý thuyết giá trị của Karl Marx (giá trị sử dụng và giá trị trao đổi), Ferdinand de Saussure (giá trị trong quan hệ hệ thống) và nghiên cứu Về sự biến đổi của chuẩn mực đánh giá thẩm mỹ trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam của Vũ Thị Kim Dung (2003).

Nhóm 3: Nghệ thuật trưng bày triển lãm thương mại. Trong nước, tác giả điểm lại tài liệu Nghệ thuật trang trí triển lãm và bảo tàng của Ngô Lao (Trần Công Tả dịch, 1963), Triển lãm kiến trúc và trưng bày của V. Rêviakin (Đinh Trọng Nghĩa dịch, 1982), cùng các tập hợp tư liệu lịch sử triển lãm Việt Nam giai đoạn 1960-1998 (Triển lãm Việt Nam những chặng đường lịch sử, 1998; Tổ chức triển lãm nhỏ, 1987). Tài liệu quốc tế gồm các tài liệu tiếng Nga như Thực tiễn trưng bày hiện đại (1989), Thiết kế triển lãm (2008); sách chuyên khảo tiếng Anh của Philip Hughes (Exhibition Design, 2010; 2015) và Pam Locker (Basics Interior Design - Exhibition Design, 2011) phân tích chiến lược triển lãm, tổ chức tuyến tham quan, truyền thông đa phương tiện và yếu tố thương hiệu.

Nhóm 4: Văn hóa học và nghệ thuật tạo hình truyền thống. Công trình Nghiên cứu văn hóa, lý thuyết và thực hành của Chris Barker (Đặng Tuyết Anh dịch, 2011) phân tích đặc tính lai tạp và sự lưu chuyển hình ảnh của văn hóa Hậu hiện đại. Ấn phẩm Văn hóa học - những phương pháp nghiên cứu văn hóa (2016) giới thiệu lý thuyết lan tỏa văn hóa của Franz Boas và Ruth Benedict. Các công trình nghiên cứu mỹ thuật cổ Việt Nam của Nguyễn Du Chi, Chu Quang Trứ, Trần Lâm Biền cung cấp các đặc trưng tạo hình truyền thống.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Hầu hết các công trình trong nước chỉ dừng lại ở cẩm nang kỹ thuật thực hành mang tính kinh nghiệm từ nhiều thập kỷ trước, mang nặng tính cổ động tuyên truyền thời kỳ bao cấp, chưa có công trình nào đánh giá nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại hiện đại dưới góc độ lý luận và lịch sử mỹ thuật. Các ấn phẩm quốc tế chủ yếu tiếp cận theo hướng cẩm nang thiết kế ứng dụng. Luận án đặt nghệ thuật trưng bày tại VMS vào tiến trình lịch sử mỹ thuật ứng dụng Việt Nam trong mối tương quan với nghệ thuật triển lãm thế giới, giải mã cấu trúc tạo hình không gian dựa trên hệ thống lý thuyết mỹ thuật học liên ngành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên bốn trụ cột lý thuyết:

  1. Lý thuyết Hình thái học nghệ thuật của M. Cagan: Khảo sát nghệ thuật triển lãm với tư cách là loại hình nghệ thuật tổng hợp, xây dựng hình thức, chiếm lĩnh không gian, có tính kiến trúc, tính tạm thời, tính quảng cáo và tính sân khấu; xem xét ngôn ngữ đồ vật thực và logic tổ chức không gian thị giác.
  2. Lý thuyết mỹ học Hậu hiện đại (đại diện bởi Jean-François Lyotard và Jacques Derrida): Nhận diện các thủ pháp phi quy thức, tính phân mảnh, tính giải cấu trúc, nghệ thuật sắp đặt (Installation Art), nghệ thuật truyền thông đa phương tiện (Multimedia Art), nghệ thuật số (Digital Art) và nghệ thuật trình diễn (Performance Art) trong việc phá vỡ tính đơn điệu, cứng nhắc của không gian triển lãm truyền thống.
  3. Lý thuyết lan tỏa và tiếp biến văn hóa (Franz Boas và Ruth Benedict): Giải thích sự du nhập của mô hình triển lãm Motor Show phương Tây vào Việt Nam theo tiến trình: di chuyển -> hội nhập -> tiếp biến, làm rõ việc bản địa hóa các yếu tố tạo hình quốc tế để thể hiện bản sắc văn hóa Việt Nam.
  4. Lý thuyết giá trị của Karl Marx và khung chuẩn mực thẩm mỹ thời kỳ Đổi mới của Vũ Thị Kim Dung: Đánh giá tác phẩm trưng bày thông qua 4 tiêu chí: tính nhân văn; sự hài hòa và hoàn thiện thẩm mỹ (hài hòa nội dung - hình thức, con người - xã hội - tự nhiên); tính biểu cảm và tính hình tượng (tính đa nghĩa, thỏa mãn khoái cảm thẩm mỹ); tính sáng tạo (dấu ấn độc đáo của tư duy tạo hình).

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu thứ cấp: Xử lý các tài liệu văn bản, công trình khoa học, bản vẽ kỹ thuật kiến trúc không gian (mặt bằng phân khu chức năng, mặt đứng, bản vẽ phối cảnh 3D) và ảnh chụp thực tế tại các kỳ VMS từ năm 2012 đến 2017 nhằm nhận diện sự biến chuyển của hình thức tạo hình.
  • Phương pháp thống kê, phân loại: Chọn lọc và lập danh mục các không gian trưng bày tiêu biểu của 5 thương hiệu đại diện cho ba khu vực địa văn hóa (Toyota, Lexus, Honda - châu Á; Ford - Bắc Mỹ; Mercedes-Benz - châu Âu) trong giai đoạn 2012-2017 để so sánh, phân tích các chỉ số mặt bằng, kết cấu và ngôn ngữ thị giác.
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành: Đặt trên nền tảng thế giới quan duy vật biện chứng, kết hợp góc nhìn mỹ thuật học (phân tích ngôn ngữ tạo hình, nguyên lý thị giác, nguyên lý design) với lịch sử mỹ thuật (tiến trình phát triển của triển lãm) và văn hóa học (sự lan tỏa, tiếp biến văn hóa).

Hệ thống khái niệm và thuật ngữ then chốt được tác giả xác định:

  • Nghệ thuật trưng bày (Art Display / The Art of Display): Được định nghĩa là sự sáng tạo trên cơ sở chiến lược triển lãm của hoạt động bày ở nơi trang trọng thông qua các hình thức biểu hiện nghệ thuật thị giác có tính chiếm lĩnh không gian theo quy luật cái Đẹp nhằm làm sáng tỏ một vấn đề, một sự kiện trước công chúng. Điểm khu biệt mấu chốt của nghệ thuật trưng bày triển lãm thương mại so với bảo tàng là sự chi phối của "chiến lược triển lãm" và "thương hiệu" (Brand).
  • Triển lãm thương mại (Commercial Exhibition): Hoạt động xúc tiến thương mại có thời hạn tại một địa điểm tập trung, nơi doanh nghiệp trưng bày giới thiệu sản phẩm nhằm thiết lập giao dịch và quảng bá hình ảnh thương hiệu (theo quy định của Điều 129 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005).
  • Các khái niệm công cụ: Tạo hình (Plastic art), Thiết kế (Design), Bản sắc thương hiệu (Brand identity), Tuyên ngôn thương mại (Slogan).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận, khái quát về nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại “Motor Show” tại Việt Nam và thế giới

Chương 1 có dung lượng 42 trang, tập trung giải quyết ba nội dung chính: tổng quan tài liệu học thuật, xây dựng cơ sở lý luận và phác thảo lịch sử phát triển của triển lãm xe hơi thế giới và Việt Nam.

Tác giả khái quát lịch sử các kỳ Motor Show quốc tế hàng đầu:

  • Frankfurt Motor Show (Đức): Bắt đầu năm 1897 tại Berlin, chuyển về Frankfurt từ 1951, tổ chức thường niên vào tháng 9, quy mô lớn nhất thế giới, là bệ phóng cho các sản phẩm chiến lược và công nghệ khung gầm, động cơ.
  • Paris Motor Show (Pháp): Xuất hiện năm 1898, tổ chức định kỳ 2 năm một lần vào tháng 10, thu hút lượng khách tham quan đông nhất.
  • Geneva Motor Show (Thụy Sĩ): Tổ chức từ năm 1905, trở thành sự kiện quốc tế từ thập niên 1950, diễn ra vào mùa thu, là không gian trưng bày chính của các mẫu xe ý tưởng (concept car) và phiên bản thử nghiệm.
  • Tokyo Motor Show (Nhật Bản): Khởi xướng năm 1954, định kỳ 2 năm một lần vào tháng 10-11, đại diện tiêu biểu cho công nghệ và thẩm mỹ tạo hình châu Á.
  • Detroit Motor Show (Bắc Mỹ): Bắt đầu từ 1899, đạt quy mô quốc tế từ năm 1987, tổ chức vào tháng 1 hàng năm.

Về mặt nghệ thuật tạo hình, tác giả chỉ rõ: Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, triển lãm thế giới chú trọng sơ đồ luồng tuyến phân luồng người xem (vào - ra tách biệt) và phân loại hiện vật thuần túy. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khoa học design thị giác phát triển, triển lãm tích hợp các hệ kết cấu không gian linh hoạt, module hóa, dễ tháo lắp. Các thương hiệu lớn xây dựng phong cách tạo hình không gian gắn chặt với tuyên ngôn thương mại và bản sắc văn hóa:

  • Mercedes-Benz ("The best or nothing"): Sử dụng hình khối đa diện, khai thác độ tương phản nông - sâu, mảng vát chéo, tổ hợp diện tam giác và hình bình hành, bố cục tự do.
  • Audi ("Vorsprung durch Technik"): Tạo hình khí động học, chuyển khối êm mượt trên diện tích lớn bằng vật liệu nhôm kỹ thuật cao.
  • Toyota ("Moving Forward" / "Let's go places"): Tạo hình kiệm giản, khai thác diện phẳng xếp lớp phân tầng nhịp điệu.
  • Lexus ("The Pursuit of Perfection" / "Amazing in Motion"): Sử dụng hệ đường cong uốn lượn mềm mại kết hợp các diện phẳng sang trọng.
  • Honda ("The Power of Dreams"): Ngôn ngữ tối giản, cấu trúc diện phẳng lục giác kết hợp mảng uốn cong.
  • Ford ("Go Further") và Chevrolet ("Find New Roads"): Phong cách Bắc Mỹ khỏe khoắn, khoáng đạt, tạo dựng bối cảnh mô phỏng thực địa.

Tại Việt Nam, từ cột mốc Đấu xảo Hà Nội (1902), qua giai đoạn triển lãm phục vụ kháng chiến và bao cấp mang tính cổ động chính trị và phong trào nghiệp dư, đến năm 1994 khi Thủ tướng ban hành Quyết định 390-TTg ban hành Quy chế Hội chợ và Triển lãm thương mại, hoạt động này mới chính thức vận hành theo cơ chế thị trường. VMS ra đời năm 2002, lần lượt trải qua các chủ đề: "Vì cuộc sống tốt đẹp hơn" (2006), "Giấc mơ có thật" (2008), "Cho cuộc sống thêm phong phú" (2009), "Xanh hơn và tốt hơn" (2010), "Cùng xe hơi tận hưởng cuộc sống" (2011). Giai đoạn trước 2012, không gian trưng bày còn mang tính giản đơn, bố cục nghèo nàn, chủ yếu dùng các mảng pano phẳng phân chia ranh giới vật lý.

Chương 2: Hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại “Vietnam Motor Show” từ năm 2012 đến năm 2017

Chương 2 có dung lượng 47 trang, đi sâu phân tích thực nghiệm các phương tiện biểu đạt thị giác của 5 thương hiệu đại diện tại VMS từ năm 2012 đến 2017:

Bảng tổng hợp đặc điểm nghệ thuật trưng bày của 5 trường hợp nghiên cứu điển hình:

Thương hiệu Năm & Địa điểm Chiến lược & Thông điệp trưng bày Đặc điểm bố cục không gian & Tạo hình Xử lý ánh sáng, âm thanh & Trình diễn
Toyota 2012 (Hà Nội) "Chuyển động tiên phong" (Let's go places) Bố cục dạng phân khu mở; sử dụng các diện phẳng hình học màu trắng - đỏ xếp lớp, tạo nhịp điệu chuyển động phương ngang. Chiếu sáng tán xạ trắng làm nổi bật nước sơn; âm thanh hiện đại, trình diễn vũ đạo hình thể mang tính công nghệ.
Honda 2013 (TP. HCM) "Sức mạnh của những giấc mơ" (The Power of Dreams) Bố cục hướng tâm; tạo hình dựa trên cấu trúc module đa giác lục giác, kết hợp các vách ngăn uốn lượn mềm mại. Hệ thống đèn rọi kỹ thuật (spotlight) tập trung vào khối xe; tích hợp màn hình LED trung tâm trình chiếu đồ họa kỹ thuật số.
Ford 2014 (TP. HCM) "Đi xa hơn nữa" (Go Further) Bố cục tự do, phóng khoáng; tạo dựng bối cảnh không gian mở mô phỏng địa hình dã ngoại thực tế, khối phẳng khỏe khoắn. Ánh sáng mô phỏng ngoài trời kết hợp đèn chiếu nhấn; nhạc nền tiết tấu nhanh, hoạt động tương tác trải nghiệm lái xe thực tế ảo.
Lexus 2016 (Hà Nội) "Chuyển động tuyệt vời" (Amazing in Motion) Bố cục phi đối xứng tinh tế; tạo hình bằng các đường cong lượn sóng liên tục, sử dụng vật liệu cao cấp (gỗ, kính, kim loại phay xước). Chiếu sáng gián tiếp nhấn mạnh đường gân thân vỏ; âm thanh thính phòng êm dịu, trình diễn thời trang cao cấp đồng điệu màu sắc.
Mercedes-Benz 2017 (Hà Nội) "Tốt nhất hoặc không có gì" (The best or nothing) Bố cục tự do đa diện; vách không gian vát chéo dạng hình bình hành, độ tương phản mảng khối nông - sâu rõ rệt, màu đen - bạc chủ đạo. Chiếu sáng thông minh lập trình đổi màu theo kịch bản âm nhạc điện tử; nghệ thuật trình diễn tổng hợp (múa đương đại kết hợp hiệu ứng laser).

Phân tích của chương chỉ ra rằng cấu trúc mặt bằng gian hàng tại VMS giai đoạn này đã phân định rõ ràng giữa khu vực trưng bày sản phẩm (trung tâm, hạt nhân), khu vực sân khấu trình diễn và khu vực chức năng phụ trợ (phòng tiếp khách VIP, khu đàm phán hợp đồng, quầy phụ kiện, khu điều hành kỹ thuật). Sự chuyển biến nghệ thuật biểu hiện ở:

  • Bố cục không gian: Chuyển dịch từ bố cục đăng đối, chia ô tĩnh sang bố cục tự do, bố cục hướng tâm và không gian mở, tạo luồng tuyến tham quan tuần hoàn linh hoạt.
  • Ngôn ngữ tạo hình: Vận dụng ngôn ngữ tạo hình Hiện đại (khối hình học cơ bản, diện phẳng tối giản) và Hậu hiện đại (hình học phi đối xứng, đường cong phức hợp, mảng vát giải cấu trúc).
  • Nghệ thuật trình diễn và âm thanh: Không gian trưng bày trở thành một "sân khấu hóa tổng thể" (như quan điểm của M. Cagan), trong đó hiện vật xe hơi đóng vai trò chủ thể, kết hợp với nghệ thuật múa, biểu diễn thời trang, âm nhạc điện tử và công nghệ tương tác thực tế ảo, tạo ra trải nghiệm thị giác đa chiều cho công chúng.

Chương 3: Giá trị thẩm mỹ và xu hướng phát triển thẩm mỹ của nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại “Vietnam Motor Show”

Chương 3 có dung lượng 50 trang, đánh giá giá trị nghệ thuật và dự báo xu hướng tương lai của nghệ thuật trưng bày tại VMS:

Đánh giá giá trị thẩm mỹ theo khung tiêu chí:

  1. Giá trị nhân văn: Thiết kế không gian lấy con người làm trung tâm (nhân trắc học, ecgônômi), tổ chức luồng giao thông thông thoáng, tạo điểm dừng chân nghỉ ngơi, cung cấp thông tin trực quan minh bạch; hướng tới các giá trị cộng đồng thông qua việc quảng bá công nghệ xe hybrid, xe điện thân thiện với môi trường ("công nghệ xanh").
  2. Giá trị hài hòa và hoàn thiện thẩm mỹ: Đạt được sự thống nhất hữu cơ giữa nội dung thương hiệu và hình thức kiến trúc không gian; sự cân bằng giữa tỷ lệ khối hộp của trung tâm triển lãm với diện tích module gian hàng; sự hài hòa giữa ánh sáng tự nhiên và chiếu sáng nhân tạo kỹ thuật số.
  3. Giá trị biểu cảm và tính hình tượng: Tác phẩm trưng bày gợi mở cảm xúc thông qua hình tượng tốc độ, sự an toàn, tiện nghi và phong cách sống hiện đại. Không gian không còn là nơi đặt để hàng hóa đơn thuần mà trở thành tác phẩm tạo hình truyền tải thông điệp nghệ thuật.
  4. Giá trị sáng tạo: Sự tìm tòi vật liệu mới (vải căng xuyên sáng, kết cấu hợp kim siêu nhẹ, vật liệu tái chế) và các thủ pháp thị giác phi truyền thống.

Vấn đề tiếp biến văn hóa và bản sắc Việt: Luận án chỉ ra sự du nhập của các quy chuẩn Motor Show phương Tây đã được tiếp biến phù hợp với tâm lý thị giác người Việt. Thay vì phong cách công nghiệp cơ học thuần túy, các gian hàng tại VMS gia tăng các yếu tố mềm mại, sử dụng hình ảnh thiên nhiên, biểu tượng văn hóa truyền thống (hoa sen, chất liệu tre trúc cách điệu trong một số tiểu cảnh phụ trợ) nhằm tạo sự gần gũi với công chúng bản địa, thể hiện tinh thần xây dựng nền mỹ thuật "tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc".

Các hạn chế tồn tại:

  • Không gian triển lãm tại các trung tâm hội chợ Việt Nam (như Trung tâm Triển lãm Giảng Võ trước đây hay SECC tại TP. Hồ Chí Minh) có giới hạn về chiều cao tĩnh không và khẩu độ cột, ảnh hưởng đến tầm nhìn tổng thể.
  • Mức độ tương phản âm thanh giữa các gian hàng liền kề đôi lúc gây ô nhiễm tiếng ồn, làm giảm hiệu quả cảm thụ thẩm mỹ thị giác.
  • Hiện tượng lạm dụng người mẫu trình diễn (PG) lấn át vai trò trung tâm của hiện vật công nghệ xe hơi.

Xu hướng phát triển thẩm mỹ:

  • Chuyển dịch mạnh mẽ sang ứng dụng công nghệ số: màn hình LED cong không viền, trình chiếu Hologram 3D, nghệ thuật ánh sáng tương tác (Interactive Lighting).
  • Đẩy mạnh thủ pháp của nghệ thuật sắp đặt (Installation Art) và nghệ thuật truyền thông đa phương tiện (Multimedia Art) trong cấu trúc không gian.
  • Xu hướng thiết kế sinh thái (Green Design, Sustainable Design): sử dụng vật liệu xanh, module tái chế, giảm phát thải trong quá trình thi công và tháo dỡ triển lãm.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại VMS dưới góc độ Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật.
  • Xác lập khung lý thuyết liên ngành ứng dụng cho mỹ thuật không gian triển lãm thương mại tại Việt Nam, kết hợp giữa lý thuyết Hình thái học nghệ thuật của M. Cagan, lý thuyết mỹ học Hậu hiện đại, lý thuyết tiếp biến văn hóa và hệ giá trị thẩm mỹ.
  • Đưa ra định nghĩa khoa học chuẩn xác về "Nghệ thuật trưng bày" (Art Display) trong mối quan hệ hữu cơ với chiến lược triển lãm và bản sắc thương hiệu, phân biệt rõ với hoạt động trưng bày bảo tàng hay thiết kế trang trí đơn thuần.

Các đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Phân tích, phân loại và đúc kết có hệ thống các mô hình bố cục không gian, kỹ thuật xử lý ánh sáng, âm thanh và thủ pháp sân khấu hóa của các tập đoàn sản xuất xe hơi lớn (Toyota, Honda, Ford, Lexus, Mercedes-Benz) tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2012-2017.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và nguồn tài liệu tham khảo cho công tác đào tạo chuyên ngành Mỹ thuật ứng dụng, Thiết kế nội thất, Thiết kế không gian triển lãm tại các trường đại học mỹ thuật và kiến trúc.
  • Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng thẩm mỹ thị giác cho các công ty thiết kế sự kiện, hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và nhận diện thương hiệu khi tham gia các hội chợ, triển lãm thương mại trong nước và quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào 5 thương hiệu xe du lịch lớn thuộc VAMA trong giai đoạn 2012-2017; chưa bao quát toàn bộ các thương hiệu xe thương mại, xe tải hoặc các nhà nhập khẩu ô tô không chính hãng (VIMS).
  • Các điều kiện vật chất của hạ tầng nhà triển lãm tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu chưa hoàn toàn đồng bộ theo chuẩn quốc tế, dẫn đến một số giải pháp tạo hình không gian của các hãng phải thu hẹp quy mô so với nguyên bản tại các triển lãm quốc tế (như Frankfurt hay Tokyo).

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các triển lãm chuyên ngành khác tại Việt Nam (hàng không, du thuyền, công nghệ điện tử tiêu dùng, thời trang, nội thất).
  • Đi sâu nghiên cứu tác động của công nghệ thực tế ảo tăng cường (AR/VR), trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ số hóa không gian trong nghệ thuật trưng bày triển lãm tương lai.
  • Nghiên cứu so sánh đối chiếu trực tiếp giữa nghệ thuật trưng bày tại VMS với các triển lãm Motor Show trong khu vực Đông Nam Á (như Bangkok International Motor Show hay Gaikindo Indonesia International Auto Show).

Giá trị tham khảo

Luận án mang giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, Mỹ thuật ứng dụng, Thiết kế nội thất, Kiến trúc: Tiếp cận một khung lý thuyết liên ngành mới mẻ và phương pháp phân tích mỹ thuật thị giác đối với loại hình không gian sự kiện thương mại có tính tạm thời.
  • Các kiến trúc sư, nhà thiết kế đồ họa, chuyên viên dàn dựng không gian triển lãm: Vận dụng các bài học kinh nghiệm về bố cục luồng tuyến, tỷ lệ thị giác, phối hợp vật liệu, thiết kế chiếu sáng kỹ thuật và âm thanh trình diễn trong thực tế thi công gian hàng.
  • Các nhà quản trị thương hiệu, chuyên viên tiếp thị truyền thông và các nhà hoạch định chính sách xúc tiến thương mại: Nắm vững mối quan hệ giữa chiến lược thương hiệu và ngôn ngữ tạo hình nghệ thuật, phục vụ việc xây dựng kế hoạch tham gia hội chợ, triển lãm đạt hiệu quả thẩm mỹ và kinh tế cao.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao luận án lại chọn mốc thời gian nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2017? Năm 2012 là thời điểm VAMA thực hiện chiến lược "Hướng tới người tiêu dùng" cho kỳ VMS lần thứ 8, áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế khắt khe để lựa chọn đối tác tổ chức và truyền thông. Đây là bước ngoặt đưa hoạt động trưng bày tại VMS từ chỗ đơn giản, mang tính chia lô thuần túy chuyển sang chuyên nghiệp hóa đồng bộ về mỹ thuật tạo hình không gian. Khoảng thời gian 5 năm (đến năm 2017) được tác giả xác định là chu kỳ đủ để đánh giá toàn diện, khách quan quy luật vận động và sự biến chuyển thẩm mỹ của loại hình nghệ thuật này.

  2. Nghệ thuật trưng bày tại triển lãm thương mại khác gì so với trưng bày bảo tàng theo quan điểm của tác giả? Khác với bảo tàng vốn tập trung vào việc lưu giữ, bảo tồn và giáo dục lịch sử - văn hóa từ các hiện vật tĩnh có sẵn, nghệ thuật trưng bày tại triển lãm thương mại bị chi phối mang tính quyết định bởi "chiến lược triển lãm" và "bản sắc thương hiệu" của doanh nghiệp. Triển lãm thương mại mang tính tạm thời, tính quảng cáo, tính giải trí và tính sân khấu hóa cao độ, biến đổi liên tục theo thị hiếu thị trường và sử dụng đồ vật thực kết hợp công nghệ nghe nhìn để kích thích cảm xúc tiêu dùng.

  3. Luận án áp dụng lý thuyết Hình thái học nghệ thuật của M. Cagan như thế nào? Tác giả vận dụng lý thuyết của M. Cagan để xác định bản chất nghệ thuật trưng bày là loại hình nghệ thuật tổng hợp, chiếm lĩnh không gian thuộc kiểu không miêu tả, có tính kiến trúc. Cagan chỉ ra ngôn ngữ triển lãm là ngôn ngữ của đồ vật thực được sắp đặt theo một logic thẩm mỹ đặc biệt nhằm gây xúc động tinh thần cho công chúng. Luận án đã kế thừa luận điểm về tính tổng hợp, tính tạm thời, tính quảng cáo và tính sân khấu của Cagan để phân tích cấu trúc không gian VMS.

  4. 5 thương hiệu được luận án chọn nghiên cứu đại diện cho những trường phái thẩm mỹ nào? 5 thương hiệu đại diện cho ba trung tâm văn hóa và công nghệ lớn trên thế giới:

  • Châu Âu: Mercedes-Benz (CHLB Đức) đại diện cho trường phái kỹ thuật cao, đề cao tạo dáng hình khối đa diện, tương phản nông sâu, bố cục tự do.
  • Bắc Mỹ: Ford (Hoa Kỳ) đại diện cho phong cách khỏe khoắn, nam tính, khoáng đạt, tạo dựng bối cảnh thực tế.
  • Châu Á: Toyota, Lexus, Honda (Nhật Bản) đại diện cho tư duy tối giản, tinh tế, hòa hợp thiên nhiên; trong đó Toyota dùng mảng phẳng xếp lớp, Honda dùng cấu trúc lục giác, còn Lexus khai thác đường cong uốn lượn sang trọng.
  1. Luận án đưa ra những tiêu chí nào để đánh giá giá trị thẩm mỹ của gian hàng VMS? Dựa trên lý thuyết giá trị của Karl Marx và công trình nghiên cứu chuẩn mực thẩm mỹ thời kỳ Đổi mới của Vũ Thị Kim Dung, tác giả xác lập 4 tiêu chí đánh giá: (1) Tính nhân văn (hướng tới tiện nghi con người, ecgônômi và môi trường); (2) Sự hài hòa và hoàn thiện thẩm mỹ (hài hòa nội dung - hình thức, con người - tự nhiên); (3) Tính biểu cảm và tính hình tượng (khả năng khơi gợi cảm xúc thẩm mỹ đa tầng); (4) Tính sáng tạo (sự tìm tòi độc đáo về hình khối, ánh sáng, vật liệu mới).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hồ Nam là công trình khoa học chuyên khảo thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, giải quyết trọn vẹn khoảng trống nghiên cứu về nghệ thuật tạo hình không gian tại các triển lãm thương mại xe hơi Việt Nam giai đoạn 2012-2017. Thông qua việc vận dụng hệ thống lý thuyết liên ngành từ hình thái học nghệ thuật, mỹ học Hậu hiện đại, tiếp biến văn hóa đến hệ giá trị thẩm mỹ, luận án đã làm sáng tỏ quy luật cấu trúc, phương tiện biểu hiện và các giá trị thẩm mỹ đặc thù của loại hình nghệ thuật trưng bày. Công trình khẳng định nghệ thuật trưng bày tại Vietnam Motor Show là một bộ phận không tách rời của mỹ thuật ứng dụng hiện đại, vừa tiếp thu các chuẩn mực không gian quốc tế, vừa phản ánh quá trình tiếp biến văn hóa bản địa, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn giá trị cho công tác đào tạo và hoạt động thiết kế triển lãm chuyên nghiệp tại Việt Nam.