144 Hoạt động đấu tranh đòi trả tự do cho tù chính trị ở đô thị SG - GD một mặt đã tố cáo những âm mưu và thủ đoạn đối xử với tù chính trị của chính quyền VNCH, vi phạm nghiêm trọng các quy định về trao trả nhân viên các bên bị bắt theo Hiệp định Paris. Mặt khác, góp phần bảo vệ quần chúng cách mạng đang bị giam giữ sau những cuộc đấu tranh chính trị chống CQSG. Phong trào đô thị Sài Gòn - Gia Định trong cuộc Tổng tiến công và nỗi dậy mùa Xuân năm 1975 Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng SG - GD bắt dau từ giữa tháng 4-1975 nhưng có thể thấy PTĐT SG - GD đã có những bước chuẩn bị từ trước đó, hòa nhịp với sự chuyền biến của cuộc kháng chiến từ cuối năm 1974, đầu năm 1975. Nhận thức rõ CQSG do Nguyễn Văn Thiệu đứng đầu là một chính quyền hiếu chiến và “còn Thiệu là còn chiến tranh”, từ cuối năm 1974, ở đô thị SG - GD, phong trào đầu tranh đòi lật đồ chính quyền này đã phát triển thành một cao trào công khai mạnh mẽ, tạo nên làn sóng tấn công mạnh mẽ về chính trị đối với CQSG, cô lập chính quyền này hơn bao giờ hết.
Trong bối cảnh đó, những thất bại có tính chất về chiến lược của quân đội Sài Gòn đã đây CQSG vào tình thế nguy ngập, tiếp tục sai lầm và thất bại trên lĩnh vực quân sự. Trong tháng 3-1975, PTĐT SG - GD rất sôi nổi với các cuộc dau tranh chống bắt lính, chống tổng động viên của sinh viên, hoc sinh, nổi bật là tại trường Cao Thắng. Học sinh Cao Thắng đã bãi khóa từ ngày 25-3-1975, chiếm trường và đánh trả cảnh sát. Sau Cao Thắng, học sinh các trường Nguyễn Trãi, Lương Văn Can, Trương Tấn Bửu, Huỳnh Khương Ninh.
cũng liên tục đấu tranh. Lo ngại phong trào học sinh, sinh viên, CQSG cho đóng cửa tat cả các trường học. Ngày 31-3-1975, khoảng 1000 thanh niên tăng SG - GD đã tham dự hội thảo tại chùa Ấn Quang và tham gia tuần hành nhằm phản đối lệnh tổng động viên của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Phong trào công nhân tiếp tục diễn ra trong nhiều lĩnh vực như hãng dét Liên Phương, bông gòn Bạch Tuyết, Hãng BGI, công nhân xe lam, xe buýt, hỏa xa.
Trước những that bại liên tục về quân sự, CQSG lần lượt rút khỏi Tây Nguyên, Hué, Đà Nang và có giữ phòng tuyến Xuân Lộc - Phan Rang phòng thủ từ xa cho Sài Gòn. Ngày 1-4-1975, Bộ Chính trị Đảng LĐVN đã gửi thư cho Bí thư Trung ương Cục miền Nam quyết định thực hiện tổng tiến công và nồi dậy kết thúc cuộc kháng chiến tốt nhất trong tháng 4-1975. Ngày 8-4-1975, Bộ Chỉ huy Chiến dịch giải phóng SG - GD được thành lập, trong đó phụ trách công tác nôi day của quan chúng được giao cho Phó bí thư Trung ương Cục Nguyễn Văn Linh phụ trách. Ngày 14-4-1975, Bộ Chính trị quyết định đặt tên chiến dịch giải phóng SG - GD là Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Nhân dân các đô thị SG - GD tùy vào vị thé của mình đã tham gia vào cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam dưới nhiều hình thức khác nhau. 145 Thực hiện chủ trương và kế hoạch khởi nghĩa của Thành ủy, dưới sự chỉ đạo của các cơ sở Đảng, việc chuẩn bị nổi dậy đã diễn ra bí mật ở nhiều nơi. Thành đoàn nhận nhiệm vụ triển khai nhiệm vụ khởi nghĩa tại năm khu vực trong nội đô gồm khu vực Tân Phú - Tân Son - Bà Quẹo, khu vực Ngã Bảy - Bàn Co - Vườn Chuối, khu vực Cầu Kiệu - Phú Nhuận, khu vực Cầu Bông - Bà Chiểu và khu vực Xóm Chiếu - Khánh Hội. Việc chuẩn bị nổi dậy được tiến hành một cách bí mật như in ấn truyền đơn, may cờ, biểu ngữ, huấn luyện cứu thương, tích trữ lương thực thực phẩm, thuốc men.
được sự tham gia của lực lượng học sinh, sinh viên, tiêu thương và bà con lao động. Ở một phương diện khác, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng SG - GD, bên cạnh tiến công của lực lượng vũ trang và nổi dậy của quần chúng còn phải ké đến sự tham gia của lực lượng trí thức, nhân sĩ quy tụ quanh Dương Van Minh. Từ sau cuộc bầu cử tông thống độc diễn ở Sài Gòn tháng 10-1971, lực lượng đối lập với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu không ngừng lớn mạnh, trong đó nhóm có ảnh hưởng nhất tập trung quanh cựu đại tướng Dương Văn Minh bao gồm nhiều trí thức tiến bộ, dân biểu, nghị sĩ đối lập, chức sắc tôn giáo. Thành ủy SG - GD đã nhắn mạnh đến đặc điểm của nhóm này “là ít nhiều chống đế quốc, chống chính sách của Mỹ và tay sai về một số mặt, lại không nằm trong phạm trù đối lập do dé quốc Mỹ đạo diễn.
Nói chung đối lập ở Sài Gòn là sự phản kháng của những người trong guồng máy thống trị hiện nay, có những mối liên hệ với quan chúng hoặc muốn có mối liên hệ đó, và do đó có thái độ hòa giải đối với ta” (Thành ủy SG - GD, tháng 10-1971). Trong những chuyền biến của cuộc KCCM từ sau khi Hiệp định Paris được ký kết, vấn đề thành lập ở miền Nam một chính quyền có khuynh hướng hòa bình, tiến tới hòa giải và hòa hợp dân tộc luôn là một dự kiến của phía cách mạng. Trong bối cảnh đó, nhóm chính trị của Dương Văn Minh là phù hợp nhất. Bản thân Dương Văn Minh như chính ông đã thừa nhận mình từng là tay sai của Pháp rồi tay sai của Mỹ, ông trước sau dù có tỉnh thần dân tộc nhưng chưa có thê có lập trường cách mạng, chưa sẵn sàng đứng về phía cách mạng.
Cho đến trước thời khắc Sài Gòn được giải phóng, nhiều thế lực vẫn muốn thông qua Dương Văn Minh dé có được một cuộc thương lượng với chính quyền cách mang và duy trì những quyền lợi của họ ở miền Nam. Trong bối cảnh đó, chính sự phát triển của PTĐT SG - GD và tác động của nhiều nhân vật trong phong trào đã chỉ phối đến suy nghĩ, hành động của Duong Văn Minh. Dưới sự chỉ đạo của Thành ủy SG - GD và Ban An Ninh T4, một số trinh sát hoạt động trong nội đô và tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí đối lập đã tiếp cận và có mối quan hệ chặt chẽ với những dân biéu đối lập trong nhóm Dương Văn Minh, thông qua đó thúc đây nhóm này tham gia các phong trào đấu tranh đưới nhiều hình thức công khai. Ngay sau khi Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức (ngày 21-4-1975) và Tran Văn Hương lên giữ chức tong thống, nhóm dân biểu đối lập đã đề nghị Dương Văn Minh ra một Tuyên cáo chống lại chính quyền Trần Văn Hương “chính 146 phủ Thiệu không có Thiệu”.
Tờ Tuyên cáo được dịch ra tiếng Việt, tiếng Anh và phân phát cho nhiều hãng thông tan nước ngoài và các t6 chức quan chúng, tạo nên dư luận rộng rãi trong và ngoài nước về diễn biến chính trị tại Sài Gòn. Tiếp đó, 40 tô chức, phong trào cũng ra tuyên cáo đòi Trần Văn Hương từ chức (Nhiều tác giả, 1985, tr. Trước áp lực của nhóm dân biểu đối lập tại nghị viện, Trần Văn Hương buộc phải từ chức và đồng ý phê chuẩn Dương Văn Minh làm tông thống VNCH. Với cương vị là tổng thống VNCH, Dương Văn Minh đã đồng ý cho nhiều nhân vật von là những người tiến bộ hoặc là cơ sở của cách mạng hoặc có múi liên hệ với cách mạng giữ các chức vụ quan trọng trong nội các như phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, Tổng trưởng thương mại và kỹ nghệ Nguyễn Văn Diệp, Bộ trưởng Bộ Thông tin Lý Quý Chung, Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh làm phụ tá tham mưu trưởng đặc trách hành quân, Luật sư Triệu Quốc Mạnh làm Chỉ huy trưởng cảnh sát SG - GD.
Khi nhóm tướng lĩnh hiếu chiến Nguyễn Cao Kỳ, Căn Văn Viên với âm mưu thiết lập một chính quyền cứng rắn đề đối phó với lực lượng cách mạng thông qua linh mục Trần Hữu Thanh yêu cầu Dương Văn Minh chấp nhận cho nhóm này giữ bốn ghế bộ trưởng quan trọng Quốc phòng, Kinh tế, Tài chính, Nội vụ nhưng Dương Văn Minh không đồng ý. Tiếp đó, ngay trong diễn văn nhận chức chiều ngày 28-4-1970, Dương Văn Minh đã yêu cầu người Mỹ phải rời hết khỏi Việt Nam trong 24 giờ, quyết định trả tự do cho tù chính trị. Chiều ngày 29-4-1970, Chỉ huy cảnh sát SG - GD Triệu Quốc Mạnh đã nhân danh “lệnh tong thống” cho phép lực lượng cảnh sát SG - GD “ai muốn về dé lo việc nhà cứ về” nên đã vô hiệu hóa 16.000 nhân viên cảnh sát, tạo điều kiện dé quần chúng nổi dậy tại cơ sở, ngăn ngừa những hành động trả thù nhằm vào quân đội cách mạng và quần chúng. Những hoạt động xung quanh chính quyền Dương Văn Minh trong những ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến góp phần tạo nên cục diện “trong đánh ra” của quân và dân SG - GD cùng với các cuộc tiễn công vây ép từ vòng ngoài đã “vô hiệu hóa lực lượng cảnh sát, kèm kẹp từ thành phó đến phường, khóm” (Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến,.
Quá trình nổi dậy ở SG - GD cũng diễn ra nhanh chóng. Từ ngày 29 đến sáng 30-4-1975 có 66 điểm nồi dậy trong nội thành trước khi quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc lập. Trong các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở Đảng dưới sự chỉ đạo của Ban Công vận đã vận động công nhân nhất là các lĩnh vực cơ yếu như điện, nước, bưu chính viễn thông tham gia nổi dậy làm chủ nhà máy, ngăn chặn hành động phá hoại của bọn chủ và binh lính VNCH trú đóng trong nhà máy. Tại nhà máy nước Thủ Đức, từ sáng sớm 30-4-1975, công nhân đã tìm cách treo cờ của Mặt trận DTGP lên mái nhà cao chót vot trong nhà máy, kêu gọi binh lính bỏ vũ khí trở về nhà.
Khi Trung đoàn đặc công 116 quân Giải phóng đến, công nhân đã đón tiếp và cùng bảo vệ nhà máy, mọi hoạt động tại nhà máy nước diễn ra bình thường trong va sau ngày 30-4-1975 (Ban Sử Liên hiệp công đoàn TPHCM, 1986, tr. 147 Tại nhiều nhà máy khác như nhà đèn Thủ Đức, dệt Liên Phương, nhà đèn Chợ Quán, nhà máy Ba Son,. tinh hình nổi dậy của công nhân cũng diễn ra tương tự. Riêng trong ngành hỏa xa, cư xá hỏa xa nằm trên đường Lý Thái Tổ trở thành nơi tập hợp quan chúng, trọng điểm khởi nghĩa của khu vực Ngã Bảy Chuồng Bò.