CHƯƠNG 1: TỪ XÃ HỘI CÔNG DÂN ĐẾN “ĐÊM TRƯỜNG TRUNG CỔ” Chương đầu tiên của luận văn tập trung xem xét những nét tiến bộ trong đời sống của công dân Hy-La cổ đại và những sinh hoạt bước đầu của cư dân Man tộc khi họ đã làm chủ lịch sử châu Âu trung đại, để thấy được sự khác biệt giữa đời sống của con người ở hai thời kì cũng như nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi đó. Công dân Hy-La cổ đại – một đời sống tự do và sáng tạo Hy Lạp và La Mã là hai quốc gia điển hình của văn minh phương Tây cổ đại. Thuật ngữ phương Tây đã xuất hiện từ sớm trong lịch sử. Vào thời cổ đại, khi con người còn chưa tìm ra những lục địa mới, người Hy Lạp đã gọi khu vực mặt trời lặn so với họ là phương Tây, các vùng đất còn lại (Châu Á, châu Phi ngày nay) gọi là phương Đông.
Sự phân loại này mang tính chất tương đối và chỉ là sự quy ước của con người mà thôi. Xét về mặt địa lý, phương Tây cổ đại bao gồm Nam Âu, Tiền Á, Tiểu Á, bờ cực Bắc vùng Bắc Phi, rìa nước Anh ngày nay và có cả Tây Âu, một phần đảo Britain và bán đảo Iberia khi đế chế La Mã mở rộng phạm vi. Khác với nền văn minh của các quốc gia cổ đại phương Đông, văn minh phương Tây cổ đại hình thành và phát triển trên những khu vực tự nhiên không thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp. Nhưng bù lại, điều kiện khí hậu ôn hòa và địa hình hướng biển với nhiều cảng, vịnh đã chấm phá nên những nét đặc sắc riêng biệt cho nền văn minh này.
Cụ thể hơn, Hy Lạp cổ đại nằm ở phía Nam bán đảo Balkan, giống như cái đinh ba của thần biển từ đất liền vươn ra địa Trung Hải. Đất đai Hy Lạp cổ đại bao gồm Hy Lạp ngày nay, các đảo trong biển Aegean tới phía Tây Tiểu Á, và phía Bắc của Bắc Hải, nhưng vùng quan trọng nhất là vùng lục địa Hi Lạp ở phía Nam Balkan. Lục địa Hy Lạp gồm 3 phần: miền Bắc là vùng đồng bằng rộng lớn; miền Trung ngăn cách với phía bắc bởi đèo Thermopil hiểm trở, nơi đây có 2 đồng bằng lớn là Attique và Beotie trù phú với thành thị Athens nổi tiếng; miền Nam là bán đảo Peloponesus như hình bàn tay bốn ngón xòe ra Địa Trung Hải – đây là nơi xuất hiện một trong những thành bang quan trọng của Hy Lạp – Sparta. Mặc dù có các đồng bằng rộng lớn nhưng nhìn chung đất đai Hy Lạp không phì nhiêu lắm, chủ yếu trồng nho, ô liu và phát triển các nghề thủ công, còn lương thực chính là lúa mì phần lớn được nhập từ Ai Cập.
Địa hình Hi Lạp tương đối trở ngại về giao thông đường bộ nhưng có sự thuận lợi tuyệt vời với con đường giao thông trên biển, bờ biển có nhiều cảng, vịnh, 11 thuận lợi cho tàu bè hoạt động. Từ đây, người Hi Lạp dễ dàng tới vùng Tiểu Á, Bắc Hải để giao thương. Nằm gần kề với Hy Lạp là bán đảo Ý nơi phát sinh quốc gia La Mã cổ đại. Đó là một dải đất dài và hẹp như chiếc hia duỗi thẳng xuống Địa Trung Hải với diện tích lớn gấp 5 lần bán đảo Hy Lạp.
Phía Bắc có dãy núi Alps như một bức tường thành tự nhiên ngăn cách bán đảo với lục địa châu Âu; ba phía Đông, Tây, Nam đều có biển bao bọc. Dãy núi Apennines như một chiếc xương sống chạy dọc bán đảo từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Khác với Hy Lạp, điều kiện tự nhiên của La Mã tương đối thuận lợi hơn. Nơi đây có một số đồng bằng rộng lớn, màu mỡ và phì nhiêu: đồng bằng sông Po (miền Bắc), đồng bằng sông Tiber (miền Trung), các đồng bằng trên đảo Sicily.
Ở miền Nam còn có nhiều đồng cỏ rộng lớn thuận tiện cho việc phát triển nghề nông và chăn nuôi gia súc. Chính vì vậy, ở La Mã thời kì này đã có các Latifundia rộng lớn mà cuộc sống của những người dân ở đó có những điểm khác biệt với dân thành bang Hy Lạp và lãnh địa trung đại sau này. Ở phía Tây và Nam, bờ biển có nhiều cảng, tàu bè ra vào dễ dàng, thuận lợi cho giao thông và buôn bán. Vào thời đế chế phạm vi của La Mã mở rộng không ngừng với cương giới là cả thế giới Địa Trung Hải cổ đại.
Con người Hy Lạp và La Mã ngay từ sớm đã chinh phục biển để tìm nguồn lương thực nuôi sống họ bằng cách trao đổi những sản phẩm như rượu nho, dầu oliu để lấy lúa mì ở những vùng lân cận như Ai Cập, Tiểu Á. Những con đường giao thương trên biển, hải cảng, tàu bè… không chỉ thúc đẩy sự phát triển trong mỗi quốc gia mà còn thúc đẩy sự giao lưu, buôn bán giữa các nước, tạo điều kiện cho cư dân Hy-La tiếp xúc và đón nhận những nền văn hóa mới. Yếu tố mở về tư duy, ngôn ngữ, tộc người đã tạo nên những xã hội công dân ở Hy- La, lập nên những nền dân chủ, cộng hòa đầu tiên trên thế giới. Cư dân Hy-La cổ đại đã có quyền công dân của mình một cách tương đối (nô lệ, phụ nữ, trẻ em không được tính).
Việc bầu cử chọn lựa người lãnh đạo và các quyết định quan trọng đưa ra không của riêng rẽ một cá nhân nào mà phải thuộc số đông. Từ những xã hội công dân phát triển, công dân Hy-La cổ đại đã xây dựng cho mình một nền văn minh tiên tiến với đời sống vật chất và tinh thần phát triển mà thế giới phải nghiên mình. Trong đời sống vật chất, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ về điều kiện sống của công dân Hy-La cổ đại. Những túp lều thuở ban sơ dần được thay thế bằng những 12 ngôi nhà khang trang, nhiều phòng với nhiều chức năng hơn.
Những công trình kiến trúc đồ sộ nhưng uyển chuyển và tinh tế mọc lên không ngừng với những hàng cột chạy dài, thay cho tường, đem đến một không gian mở, rộng rãi và thoáng mát. Điêu khắc Hy-La vô cùng tỉ mỉ và sống động đến từng chi tiết. Nghệ thuật Hy-La mà đặc biệt là nghệ thuật Hy Lạp là bậc thầy của nhiều nền nghệ thuật trên thế giới. Những con đường trong các phố La Mã đã được lát gạch, sạch sẽ và thuận tiện.
Trong thời đại vàng Periclet ở Hy Lạp, công dân đã được hưởng phúc lợi xã hội và các quan chức đã được trả lương. Rome với thời kì cực thịnh – Pax Romana đã nổi tiếng với câu nói “mọi con đường đều đổ về La Mã”. Dáng vẻ bề ngoài của cư dân cũng được quan tâm từ sớm. Trang phục của nam và nữ công dân khá đa dạng về kiểu dáng.
Vải lanh mịn được trang trí kết hợp với những chiếc ghim cài đã tạo nên những bộ trang phục mềm mại và thướt tha của nữ giới. Những bức tượng điêu khắc hay tranh vẽ còn tồn tại đến ngày nay đã cho thấy điều đó. Làm đẹp cũng được các quý cô, quý bà xem trọng. Những trang sức như vòng tay, nhẫn, vòng cổ bằng vàng bạc, đá quý được sử dụng nhiều.
Nguồn tài nguyên kim loại đã góp phần làm phong phú hơn các phụ kiện đi kèm này. Cư dân cũng đã đi giày bằng cách buộc dây da thành những đôi xăng đan hay giày ống bằng lông thú tuy không thể giống thời đại ngày nay nhưng cũng cho thấy sự tiến bộ trong đời sống con người. Ăn uống tuy còn đơn giản với đại bộ phận công dân nhưng với giới quý tộc nó như một nghệ thuật. Nhiều sách vở viết về bữa ăn của những công dân giàu có ở Hy-La.
Nhà sử học người Pháp Pierre Grimal miêu tả về bữa Cena của người La Mã: “Bữa cena thường bao gồm ba lượt thức ăn. Dù thế nào đi nữa, lượt thức ăn dọn đầu tiên, các món “nhập bữa” chỉ hầu như mới xuất hiện vào thế kỷ cuối cùng của nền Cộng hòa. Nó bao gồm trứng, cá nguội, rau sống, các món ăn ngon khác, nhìn chung là mặn và người ta uống rượu nhẹ mật ong khi ăn thức ăn đó. Sau đó là tới các món chính: món thịt, nhưng thường người ta thích thịt thú rừng hay gia cầm hơn.
Món ngon tuyệt hảo là món cá bể, được người ta đưa tới từ rất xa. Nhưng dần dần, các chủ sở hữu giàu có bắt đầu cho đặt ngay trên lãnh địa của mình và đặc biệt ở vùng bờ biển, trong các biệt thự ở Campanie, các bể chứa lớn (piscine), đây là nơi họ bảo quản cá, vừa dùng cho các nhu cầu ăn uống của mình, vừa để kinh doanh. Cũng theo cách đó, và ngay đầu thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, người ta thấy xuất hiện các vườn thú săn gần như khắp xung quanh thành La Mã. Ở đây, lợn lòi, hươu đực tự do sinh sống gần tới mức có thể chạm được vào, lại còn có cả thỏ rừng, 13 thậm chí cả sóc và chuột sóc, thịt của loại động vật này rất được ưa chuộng.
Varron (116-27 TCN), người đã mô tả khu vườn kiểu này cho chúng ta biết có khu chuồng chim đặt ở trên con nước, để nuôi ngỗng và vịt vẫn còn nửa hoang dã, thậm chí cả diệt và cò nữa. Các chuồng chim này còn nuôi cả các loại gà tây, công và chim trĩ, mới đưa về và nhập từ phương Đông. Tóm lại, hầu như nhà nào ở nông thôn cũng có chuồng chim câu và sân nuôi gà vịt. Loại thức ăn thứ ba được phục vụ trong bữa cena là món tráng miệng.
Lúc này, người ta dọn ra hoa quả và bánh ngọt. Ở Italy, bao giờ cũng có rất nhiều hoa quả. Một số hoa quả bản xứ như táo, lê, mận, vả, hạnh nhân và hạt dẻ. Một số khác được nhập từ phương Đông: các quả anh đào có được là nhờ ở Lucullus, một người sành ăn nổi tiếng, ông đồng thời cũng là nhà chinh phạt vĩ đại và là người chiến thắng vua Mithridate.
Chính trong chiến dịch này, ông đã biết tới cây anh đào và khi trở về, ông đã dâm một vài cành anh đào trong vườn nhà mình, ở đây cây phát triển tươi tốt. Cũng theo cách đó, đào có nguồn gốc từ Ba Tư, nhưng chúng ta không được biết loại quả này đã lan rộng ở Italy như thế nào. Đào đã được người La Mã biết tới và ưa chuộng. Lựu và chà là chỉ bắt đầu xuất hiện vào buổi ban đầu của Đế chế, khi mà toàn bộ thế giới Địa Trung Hải lọt vào trong quỹ đạo thương mại của La Mã.