Chương 1: Téng quan hình hình nghiên cứu tìm hiểu các công trình của các học giả trong và ngoài nước về ngoại giao văn hoá dé có được hình dung chung về ngoại giao văn hoá và rút ra được những tổn tại trong các công trình này dé tiếp tục nghiên cứu trong dé tài này. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của ngoại giao văn hoá Việt Nam cung cấp những khái niệm cơ bản, đặc điểm và vai trò của ngoại giao văn hóa, nghiên cứu thực tiễn ở Việt Nam cũng như trên thế giới, đồng thời xem xét các nhân tố tương quan như ngoại giao công chúng và quyền lực mềm. Chương 3: Nội dung và thực tiễn triển khai chính sách ngoại giao văn hoá Việt Nam giai đoạn 2009-2020 sẽ xác định nội hàm của ngoại giao văn hóa Việt Nam đề đánh giá những thay đổi và hoạt động chính của ngoại giao văn hóa Việt Nam trong giai đoạn 2009-2020; nghiên cứu trường hợp cụ thê dé án “Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chi Minh” Chương 4: Đánh giá, dự báo và khuyến nghị phân tích những thành tựu, hạn chế, thuận lợi, khó khăn của ngoại giao văn hóa Việt Nam dé từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm phát triển ngoại giao văn hóa Việt Nam hiệu quả và chất lượng. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU Liên quan đến nhóm tài liệu nghiên cứu của đề tài có thể chia làm ba nhóm chính: 1.
Các công trình nghiên cứu lý luận về ngoại giao văn hóa Văn hóa đóng vai trò nền tảng và nòng cốt của ngoại giao văn hóa, văn hóa là xương sườn của cá thé sống ngoại giao văn hóa, chính vì thế không ít công trình nghiên cứu tập trung đến đề tài này. Liên quan chặt chẽ đến vai trò của văn hóa trong quan hệ quốc tế, mối quan hệ giữa văn hóa và ngoại giao văn hóa không thể không dé cập đến tác giả Samuel P. Huntington (2007) với cuốn Sw va cham của các nên văn minh đã chỉ ra vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa trong quan hệ quốc tế, những tác động bao trùm của văn hóa lên toàn thé giới. Huntington (2007) đã nói trong thế giới hậu chiến tranh Lạnh, văn hóa chứ không phải lý tưởng, chính trị hay kinh tế mới là nét khác biệt, sự độc đáo phân biệt người này với người khác.
Joseph Nye, Jr (1990, 2002, 2009) (tiêu biểu như Soft Power: The Means to Success in World Politics) là người đầu tiên đưa ra khái niệm quyền lực mềm là chủ thé bao trùm của ngoại giao văn hóa và ngoại giao công chúng cũng như mối tương quan của các chủ thé này. Ông đã nhấn mạnh văn hóa chính là một trong những cội nguồn của quyền lực mềm; theo đó năng lực của một quốc gia ảnh hưởng đến quốc gia khác thông qua van hóa, các ý tưởng chính trị và các chính sách, trong đó van hóa được coi là một nguồn của quyền lực mềm. Hay cuốn sách Culture and International History của Gienow-Hecht J. (2004) đã khái quát văn hóa “thực sự là phần thiết yếu của ngành quan hệ quốc tế, nó là nhân tố cơ bản cho nghiên cứu của ngành”.
Đối với nguồn tài liệu về lý thuyết ngoại giao văn hóa, hiện nay đã hình thành nên một hệ thống bài viết, tác phẩm, công trình về ngoại giao văn hóa với tư cách là một chủ thé nghiên cứu xuất hiện khá nhiều như Gienow-Hecht J. (2010) Searching for a Cultural Diplomacy hay Laos N. (2011) với Foundations of cultural diplomacy. Nếu như Laos tập trung vào nền tang của ngoại giao văn hóa như van hoá, quy chuan, quan hệ quôc tê, các giá tri, các học thuyết thì Gienow-Hecht lại tập trung phân tích đặc điểm ngoại giao văn hóa của các quốc gia khu vực khác nhau nhằm làm rõ và khái quát lên mô hình của ngoại giao văn hóa.
Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ sử dụng ngoại giao văn hóa để miêu tả quá trình quốc gia gia tăng khu vực ảnh hưởng thông qua những hình thức phi chính trị, phi quân sự với tư cách là một cực của thế giới. Lịch sử nghiên cứu và tìm kiếm định nghĩa về ngoại giao văn hóa được thể hiện khá đầy đủ trong cuốn sách Searching for Cultural Diplomacy với khái quát ba hướng chính là: (i) sự trao đổi ý tưởng, thông tin, nghệ thuật và các khía cạnh văn hóa khác giữa các quốc gia và người dân của họ dé thúc đây sự hiểu biết lẫn nhau; (ii) việc sử dụng các nhân tố văn hóa dé gây ảnh hưởng tới người dân nước khác, các nhà hoạch định quan điểm và thậm chi là các lãnh đạo nước ngoài; (iii) một quá trình đa diện của chính trị văn hóa quốc tế dưới tác động của các mục tiêu quốc gia và bối cảnh chính trị-xã hội khác nhau. Ngoài ra, không thé không ké đến những đóng góp không nhỏ trong việc xây dựng lý thuyết và cung cấp một bức tranh tổng thê về ngoại giao văn hóa trong các công trình nghiên cứu chính sách của các quốc gia ví dụ như Luke M. Cultural Diplomacy and Archaeology: Soft Power, Hard Heritage.
Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu về ngoại giao văn hoá nói chung vẫn còn rất mới nhưng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả và nhà nghiên cứu. Bài viết “Giao lưu văn hoá và sự xích lại gần nhau giữa các nền văn hoá Đông-Tây trong thời đại ngày nay” trên Tap chí Nghiên cứu lý luận của Nguyễn Hồng Sơn (2008) đã phân tích tầm quan trong của việc giao lưu văn hoá đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Cuốn sách Ngoại giao và Công tác Ngoại giao của Vũ Dương Huân (2009) đã trình bày những nội dung liên quan đến ngoại giao và công tác ngoại giao và dánh han một chương nói về ngoại giao văn hoá. Bài viết “Vài dòng suy nghĩ về ngoại giao văn hoá” của cùng tác giả trên tạp chí Nghiên cứu quốc tế năm 2007 cũng đã đề cập đến nội hàm khái niệm ngoại giao văn hoá trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Khái niệm về ngoại giao văn hoá và các khái niệm liên quan như văn hoá ngoại giao, văn hoá đối ngoại cũng được Hoàng Vinh Thành (2009) bàn tới trong bài viết “Ngoại giao văn hoá: bắt đầu từ khái 10 niệm” trên tạp chí Nghiên cứu quốc rể. Pham Thái Việt thì lại nghiên cứu về mối quan hệ giữa “Quan hệ công chúng và quan hệ văn hoá” trên tạp chí Nghiên cứu quốc tế số 3 năm 2009. Mối quan hệ giữa ngoại giao văn hóa và quyền lực mềm tại Việt Nam cũng ghi nhận một số bài viết rat thú vị như “Cultural diplomacy promotes Vietnam”s soft power” của VOV (01/02/2017) hay như trong “Ngoại giao Văn hóa- một trong ba trụ cột của Ngoại giao Việt Nam” trên VOV (16/10/2008) mà trong đó, Pham Gia Khiêm (2008), nguyên Phó Thủ tướng Việt Nam và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, thấy ngoại giao văn hóa như một công cụ cho Việt Nam dé tăng cường quyền lực mềm của nó và trở thành một tiếng nói có trọng lượng trong khu vực. Nghiên cứu về các yếu tố cau thành nên ngoại giao văn hóa Việt Nam Về bản sắc văn hóa và các giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam có thé kế đến Trần Văn Giàu (1980), Giá tri truyén thống của dân tộc Việt Nam; Tran Ngọc Thêm (1996) Tim về bản sắc văn hóa Việt Nam: Cái nhìn hệ thống - loại hình; Phan Ngọc (1998) Bản sắc Văn hóa Việt Nam.
Những nghiên cứu kỹ lưỡng và chuyên sâu này giúp đề tài khái quát và xác định các giá trị văn hóa truyền thống và quý báu của Việt Nam làm nền tảng của hoạt động ngoại giao văn hóa. Các nhà hoạch định chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam có nói: “Điều quan trọng nhất của ngoại giao văn hóa Việt Nam là giới thiệu cái hồn, cái tinh túy, và nét đẹp của con người Việt Nam”. Những tác phẩm nghiên cứu về văn hóa truyền thống của Việt Nam chính là dé khang định nét đẹp truyền thống của con người Việt Nam dé giới thiệu ra cộng đồng quốc tế. Bài viết “Van hóa dân gian và văn hóa dân tộc” của tác giả Ngô Đức Thịnh (2007) trên Tap chí Cộng sản khái quát khá day đủ những đặc điểm văn hóa dân gian tác động đến đời sống cũng như hình thành bản sắc văn hóa dân tộc.
Đó là văn hóa xóm làng trội hơn văn hóa đô thị, văn hóa truyền miệng lấn át văn hóa chữ nghĩa, ứng xử duy tình nặng hơn duy lý, chủ nghĩa yêu nước trở thành cái trục của hệ ý thức Việt Nam, nơi sản sinh và tích hợp các giá trị văn hóa Việt Nam. Nghiên cứu về bản sắc dân tộc, các học giả Việt Nam cũng có nhiều quan điểm khác nhau ví dụ như tác giả Trần Văn Giàu khái quát là: Yêu nước; Cần cù; Anh hùng; Sáng tạo; Lạc quan; Thương người; Vì nghĩa. Tác giả Trần Ngọc II Thêm đưa ra 5 đặc trưng: Tính cộng đồng; Tính ưa hải hòa; Tính trọng âm; Tính tổng hợp; Tính linh hoạt. Hay tác giả Trần Ngọc khái quát như sau: Sự quan tâm đến nhau; tinh thần đoàn kết; hòa thuận trong gia đình; lòng thương người; coi trọng con người không ké giàu nghèo.
Đặc biệt, học giả Italia Claude Palazzoli chuyên nghiên cứu về Việt Nam cho rằng, bản sắc văn hóa Việt Nam nỗi bật với ý thức “øiữ phâm giá không chịu dé mat trong bat cứ thử thách nào”; “Nét cần cù có thé lấp biển”; “Lịch thiệp, tế nhị. khiến không khí không thô lỗ, nặng nề”; “Một sự tỉnh tế có thể ché sợi tóc làm tư”; “Tinh dé dat, kéo dai sự cân nhắc, xét đoán, quyết định”, “Tính thực dụng, khả năng thích ứng khéo léo và sáng suốt với mọi tình huống”; “lãng mạn, đa cảm.” Nếu như nguồn tài liệu nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc phong phú và đa dạng thì các nghiên cứu đánh giá về quá trình thực hiện bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc còn nhiều hạn chế. Bên cạnh Luật di sản văn hóa, Việt Nam còn thiếu những chương trình cụ thé và thiết thực trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Điều này gây hạn chế đến việc đa dạng hóa hình thức hoạt động ngoại giao văn hóa đồng thời lãng phí một nguồn tài nguyên độc đáo và quý báu cho chiến lược phát triển ngoại giao văn hóa cả cấp nhà nước và địa phương trong cả ngắn hạn và dài hạn.