Chương 1 cua Luận án tập trung tổng quan lại lịch sử nghiên cứu vấn dé của học giả trong và ngoài nước. Ngoài những tác phẩm mang tính kinh điển về công nghiệp văn hóa, Luận án chủ yêu diém luận các công trình được nghiên cứu từ dau thê kỷ XXI đên nay. 12 Chương 2: Công nghiệp văn hóa Trung Quốc: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2 luận án tập trung phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu sự phát triển ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc. Về cơ sở lý luận, luận án di sâu phân tích nội ham “công nghiệp văn hóa”, dua ra phân loại và đánh giá vai tro của ngành này.
Trong chương 2, Luận án con tập trung phân tích bối cảnh tác động đến sự phát triển của ngành công nghiệp văn hoá đặc biệt chủ trọng bối cảnh gia tăng sức mạnh mém những năm dau thé kỷ XXI của Trung Quốc. Về cơ sở thực tiên, luận án chú trọng phân tích xu thé phát triển ngành công nghiệp văn hóa trên thế giới và một số mô hình tiêu biểu của Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc. Chương 3: Thực trạng phát triển của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc từ năm 2002 đến nay Trọng tâm chương 3, Luận án tập trung phân tích những điểm nồi bật về tình hình, thành tựu và hạn chế trong phát triển ngành công nghiệp văn hóa của Trung Quốc. Từ đó, Luận án đi sâu phân tích điểm mạnh, điểm yếu của ngành công nghiệp văn hoá Trung Quốc và lý giải nguyên nhân.
Mục tiêu của chương 3 là dựng lên bức tranh ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc trong giai đoạn nước này không ngừng day mạnh chiến lược gia tăng sức mạnh mém. Chương 4: Triển vọng phát triển của ngành công nghiệp văn hoá Trung Quốc và gợi mở cho Việt Nam Chương 4 là chương cuối cùng của Luận án, tập trung những đánh giá của Luận án về triển vọng phát triển của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc trong thời gian tới thông qua việc phân tích thời cơ, thách thức và những hướng phát triển chính. Đông thời từ kết quả nghiên cứu sự phát triển ngành công nghiệp văn hoá Trung Quốc trong bồi cảnh gia tăng sức mạnh mém, bằng cách nhìn tương quan biện chứng, Luận án dua ra một số gợi mở đối với sự phát triển của ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam. 13 CHUONG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
TINH HÌNH NGHIÊN CUU CUA HỌC GIÁ NƯỚC NGOÀI 1. Học giả Trung Quốc Bắt đầu từ năm 2000, sau khi Cục công nghiệp văn hoá trực thuộc Bộ Văn hoá Trung Quốc được thành lập, ngành công nghiệp văn hoá nước này đã chuyên từ giai đoạn phát triển tự phát sang giai đoạn phát triển tự giác, có sự định hướng và quy hoạch từ phía Chính phủ. Đến nay, ngành công nghiệp văn hoá Trung Quốc đã và đang được day lên nac thang phát triển mới “từng bước trở thành ngành kinh tế trụ cột” (tức là ngành đóng góp khoảng 5% trong tổng GDP của cả nước).[146] Cùng với “sức nóng” đó, các nghiên cứu về ngành công nghiệp văn hoá được các học giả Trung Quốc đặc biệt quan tâm. Có thể nhìn nhận một cách tong quan rang, việc nghiên cứu chủ đề công nghiệp văn hoá Trung Quốc có một số đặc điểm nỗi bật sau: Thi nhất, trào lưu nghiên cứu vấn đề này bắt đầu nở rộ từ năm đầu thế kỷ XXI - trùng khớp với giai đoạn phát triển của ngành công nghiệp văn hóa.
7 hai, phạm vi và chủ đề nghiên cứu tương đối phong phú, đa dạng. Qua các tài liệu tham khảo có thê thây, việc nghiên cứu vân đê này tại Trung Quốc có thê được phân chia thành các hướng nghiên cứu chính sau: Thứ nhất, hướng nghiên cứu mang tính lý luận về công nghiệp văn hóa của các học giả Trung Quốc. Trong hướng này, các nhà nghiên cứu chủ yếu đi sâu lý giải nội hàm “công nghiệp văn hóa”, chú trọng phân tích quan niệm của thé giới, quan niệm của Trung Quốc, cũng như đặt nó trong tương quan so sánh với những khái niệm khác như “sự nghiệp văn hóa”, “văn hóa đại chúng” dé làm rõ những tinh chất đặc biệt của ngành này. Dién hình cho xu hướng này là các tác giả như Lý Tư Khuất, Hồ Huệ Lâm, Hàn Tuan Vĩ.
Trong công trình “Khái luận công nghiệp van hóa” (2È) (2007) [96], tác giả Lí Tư Khuất — Đại học Chiết Giang đã cho rằng, muốn phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp văn hóa, nâng cao sức cạnh tranh tông thê và tô chât văn hóa của người dân cân 14 phải nắm vững các cơ sở lý luận liên quan, bao gồm việc nghiên cứu thảo luận khái niệm, đặc điểm bản chất, phát hiện tính quy luật của vấn đề. Theo đó, tác giả đã chỉ ra các góc nhìn khác nhau khi lý giải nội hàm khái nệm “công nghiệp văn hóa”. Cụ thê như: Góc nhìn từ “sản phẩm và dịch vụ tinh thần”, góc nhìn từ “nội dung, ý nghĩa”, góc nhìn từ “tiêu chuân ngành nghề”, góc nhìn từ “hạt nhân bản quyền” và góc nhìn “kết hợp giữa văn hóa và giải trí”. Tác giả cho rằng cách định nghĩa và phân loại mà Cục Thống kê Trung Quốc đưa ra năm 2004 là góc nhìn từ sự kết hợp giữa văn hóa và giải trí.
Nam trong hệ thong các cuốn sách về lý luận công nghiệp văn hóa, còn phải ké đến cuốn “Khái luận công nghiệp văn hóa” (CALF? LAE, 2005) [88] của tác giả Hồ Huệ Lâm; công trình “Công nghiệp văn hóa học” (LMFT) (2005) [97] của các tác giả Lưu Cát Pha, Nhạc Hồng Kỳ, Trần Hoài Bình hay cuốn “Khái quát về công nghiệp văn hóa” (17 Yt†Ê) (2014) [87] của nhóm tác giả Han Tuan Vĩ, Hồ Hiểu Minh - Đại học Trung Sơn. Ngoài ra, liên quan đến hướng nghiên cứu mang tính lý luận về công nghiệp văn hóa còn có một số bài viết của các học giả trên các website. Như bài viết “Nhận rõ những khó khăn trong nghiên cứu lý luận công nghiệp văn hóa Trung Quốc” (AEB HR BERS: nh Bị SC Abr MY EE ve EF A BH Z 3Ÿ) (2009) [164] trên website www.cn va bài viết “Công nghiệp van hoá Trung Quốc: Ly luận và kiến nghị chính sách” ( HỊ SCL Pe MY 4 a3 i 34#šï S?§##1) [142] trên www. Hau hết các bài viết đều trình bày khái quát những điểm lớn về công nghiệp văn hóa như khái niệm, lịch sử phát triển, những khó khăn còn tồn tại trong quá trình nghiên cứu lý luận.
Mặc dù các bài viết mới chỉ dừng lại ở những bài nghiên cứu ngắn song cơ bản đã phác họa những nét nôi bật của tình hình nghiên cứu mang tính lý luận về công nghiệp văn hóa ở Trung Quôc. Nhìn chung, trong hướng nghiên cứu thứ nhất này mặc dù số lượng chưa phong phú song chất lượng các công trình, bài viết tương đối sâu sắc, đề cập nhiêu khía cạnh vê công nghiệp văn hóa. Tác giả cho răng, những nghiên cứu này 15 có giá tri lớn trong việc xây dựng nên tang ly luận vê công nghiệp văn hóa của Trung Quốc. Thứ hai, hướng nghiên cứu về chính sách phát triển công nghiệp văn hóa Trung Quốc.
Day là góc tiếp cận mang tính truyền thống, được nhiều học giả tập trung khai thác với hai khía cạnh chính: M6t /à, những công trình chủ yêu phân tích chính sách vĩ mô của Nhà nước; Hai là, những công trình đi sâu vào chính sách một ngành, một lĩnh vực cụ thé bên trong. Tiêu biểu cho khía cạnh thứ nhất, nghiên cứu chính sách tổng thể có các công trình như: Công trình “Chính sách công nghiệp văn hóa và nghiên cứu sự phát triển của công nghiệp văn hóa” (AGT? ERS TL RR) (2011) [98] do tác giả Âu Dương Kiên chủ biên; cuốn “Nghiên cứu chính sách công nghiệp văn hóa sáng tạo Trung Quốc” (FE *.?*Yk8l|3fLZ§OT FE) (2012) [82] của tác giả Trần Hồng Ngọc, Viện Khoa học Xã hội Bắc Kinh.và một số bài viết liên quan như: Chính sách công nghiệp văn hóa của Trung Quốc (® 4t?) (2006) [181] của tác giả Chu Hoà Quân, Thdi độ và chính sách của Chính phủ Trung Quốc đổi với sự phát triển của công nghiệp văn hóa (FE EBB XỊ 2 HE SC ML A AS EEL) (2008) [147] của tác giả Vương Vinh Chương, Những sự kiện lớn về chính sách công nghiệp văn hóa Trung Quốc (th FE] CLP VBE KF id) (2009) [124] của tác giả Tào Dương. Trong đó, cuôn “Nghiên cứu chính sách công nghiệp văn hóa sáng tạo Trung Quốc” (FE SCL FAL GT LR FE) (2012) [82] của tác giả Trần Hồng Ngọc đã đi sâu phân tích về bối cảnh, nội hàm, đặc trưng, chủ thể, cơ cấu, hạn chế của công nghiệp văn hóa sáng tạo; đồng thời, tác giả tổng kết những thành tựu bước đầu trên phương diện chính sách cổ vũ sáng tạo của Trung Quốc. Tác giả cho rằng, hiện nay, công nghiệp văn hóa Trung Quốc đang ở vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ và giai đoạn then chốt của quá trình chuyên đổi.
Từ bài học kinh nghiệm về chính sách sáng tạo công nghiệp văn hóa của các nước, tác giả đã phân tích nội dung và các tầng bậc về chính sách sáng tạo liên quan, qua đó kiến nghị về việc xây dựng hệ thống chính sách phát triển công nghiệp văn hóa lấy sáng tạo làm linh hồn. Theo tác giả, người Trung Quốc không thiếu tinh thần sáng tạo, cái thiếu là môi trường sáng tạo, thể chế sáng tạo. Và sáng tạo phải bắt đầu từ việc 16 giải quyết những mâu thuẫn và vấn đề tồn đọng ảnh hưởng và trói buộc sự phát triển của công nghiệp văn hóa. Đây là một công trình có giá trị lý luận học thuật và tham khảo thực tiễn hữu ích.
Còn tác giả Âu Dương Kiên trong công trình “Chính sách công nghiệp văn hóa và nghiên cứu sự phát triển của công nghiệp văn hoa” (CALF BRS Y8 J#U†?š) (2011) [98] đã khái quát tương đối đầy đủ và sâu sắc về chính sách phát triển nhóm ngành này của Chính phủ Trung Quốc. Đặc biệt, tác giả còn chú trọng đến việc phân tích thuộc tính kinh tế và văn hóa của công nghiệp văn hóa cũng như nhấn mạnh đến tác động của những nhóm thuộc tính này đối với việc hoạch định chính sách. Công trình cũng đưa ra những kiến nghị của tác giả trong việc xây dựng và thực thi các chính sách phát triển công nghiệp văn hóa. Ngoài ra, bài viết Nghiên cứu chính sách công nghiệp văn hóa Trung Quốc (“PEI SCP LER FT) (2006) [121] của tác giả Bạch Trọng Nghiéu cho răng hiện nay công nghiệp văn hóa Trung Quôc chỉ mới ở giai đoạn đâu của quá trình phát triển, vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn và tồn tại nhiều vấn đề.