CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VĂN HÓA TRUNG QUOC 1.1 Khái niệm văn hóa Theo Joseph S., sức mạnh mềm của một quốc gia chủ yếu dựa trên ba nguồn cơ bản: văn hóa của quốc gia đó (tại những điểm mà nó hấp dẫn người khác), các giá trị về mặt chính trị (mà họ thụ hưởng cả khi ở trong và ngoài nước), và các chính sách đối ngoại (khi những người khác coi đó là hợp pháp và có căn cứ về mặt đạo đức) [119]. Trong đó, văn hóa là một nguồn đặc biệt của sức mạnh mềm. Từ văn hóa, các nguồn cơ bản khác của sức mạnh mềm có thé được tạo ra hoặc chịu ảnh hưởng. Văn hóa thê hiện với các cấp độ vô cùng đa dạng, và thường rất khó thay đổi, các yếu tố văn hóa khác nhau cũng tương tác theo những cách thức khác nhau.
Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, ở Mỹ đã có hơn 200 định nghĩa văn hoá [164]. Cách nhìn về văn hóa rất đa dạng. Mỗi nhà nghiên cứu trên bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều tìm thấy ảnh hưởng của văn hóa, họ cũng tìm ra một cách định nghĩa riêng về văn hóa cho mình. Một cách phô biến, văn hoá được quan niệm trước hết là sự chiếm hữu kho tàng các giá trị nghệ thuật: văn học, kiến trúc, mỹ thuật, âm nhạc.
Trong “The Expediency of Culture: Uses of Culture in the Global Era” (Phương tiện văn hóa, lợi ich của nó trong thời đại toàn cầu) của George Yudice, một nhà nghiên cứu văn hóa xã hội người Mỹ, đã cho ra đời học thuyết tiên phong trong việc thay đổi vai trò của văn hóa trong thế giới toàn cầu hóa. George Yudice khám phá cách các nhóm/ tô chức bản địa hoạt động cho quốc gia, tô chức phi chính phủ xem văn hóa như là một nguồn tài nguyên có giá trị dau tư, tranh chấp và được sử dụng cho những mục dich da dạng về chính trị xã hội và kinh tế [68]. Ông mô tả một thé giới là nơi ma văn hóa là một mô hình dé phát triển đô thị, các phong tục tập quán, nghi lễ được sử 13 dụng dé thúc đây sự phát triển các ngành du lịch, công nghiệp di sản, ngành công nghiệp văn hóa hiện đại, đóng góp một phan to lớn vào sự phát triển quốc dân. Chủ nghĩa tương đối văn hoá định nghĩa văn hoá với tư cách là một hệ thống ký hiệu do con người tạo tác và sử dung dé hiệp thông với nhau, chủ nghĩa tương đối văn hoá xuất phát từ việc vừa quay lại lấy ngôn ngữ làm nền tảng cho văn hoá, vừa xem mỗi ngôn ngữ như một thế giới quan biệt lập.
Giả thuyết Sapir-Whorf (Edward Sapir va Benjamin L. Whorf) thường được viện dẫn làm cơ sở với các luận điểm sau: 1) mỗi ngôn ngữ là một cách thức mô tả thế giới khác nhau (hành động, vận động, không gian, thời gian); 2) mỗi nền văn hoá đều bị quy định bởi «phần hạ tầng» của ngôn ngữ qua đó nó được thể hiện, và phần này chính là nơi chôn giấu những cách thức tư duy của ngôn ngữ mà Whorf gọi là «an mô» (cryptotypes); 3) Do đó, những người sử dụng ngôn ngữ khác nhau sẽ không tư duy về thé giới và không nhận thức không gian, thời gian. Nói cách khác, cấu trúc văn phạm và từ vựng của ngôn ngữ quy định vô cùng chặt chẽ phương cách con người nhận thức và tu duy [128]. Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.” Với định nghĩa này, văn hóa đã được nhiều quốc gia nhìn nhận với vai trò là nhân tố xuất hiện trong tất cả mọi lĩnh vực.
Cựu Tổng Giám đốc UNESCO, GS Federico Mayor khi ông đưa ra một định nghĩa: "Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sông động mọi mặt của cuộc sông (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tai, qua hàng bao thé kỷ, nó đã cau thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lỗi sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khang định ban sắc riêng của mình" [06, tr.01-10], đã giúp những nhà nghiên cứu sâu về văn hóa đã đánh giá văn hóa như là một sản phâm kỳ diệu sau tât cả các sản phâm sáng tạo của 14 con người, nó hình thành, phát triển và lưu tồn một cách kiên nhẫn, âm thầm và mãnh liệt. Trong một góc nhìn về giá trị thuần túy của văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra một khái niệm: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toản bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoa". Còn trong lý luận văn hóa của Đảng cộng sản Việt Nam, khái niệm "văn hoá" được hiểu là “hoạt động nhằm phát huy những nhu cầu và năng lực của con người hướng tới Chân, Thiện, Mỹ” [12].
Khái niệm văn hóa có bao gồm gid trị tiêu cực? Đối với một số người, văn hóa là đạo đức như công thức của Albert Schwettzer "Văn hoá chính là đạo đức", hay đồng quan điểm với vị học giả nay, Giáo sư Trần Ngọc Thêm có khái niệm: “Trong các hoạt động sáng tạo! của con người chỉ có những hoạt động mang tính nhân bản, vì lợi ích của con người, mới tạo ra văn hóa va là văn hóa. Những hoạt động như trộm cướp, tham nhũng., hoạt động của những người như Hitler.không những không tạo ra văn hóa và không phải là văn hóa, mà còn làm cho văn hóa ton hại nặng nề - đó là những hoạt động phản văn hóa, kéo lùi bánh xe lịch sử của nhân loại” [38]. Bên cạnh đó, một định nghĩa khái quát và rộng hơn cũng được ông đưa ra: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh than, tĩnh và động, vat thé và phi vật thé.) do con người sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [39, tr. Đối với những kẻ tôn sùng ! Theo GS.
Trần Ngọc Thêm, hoạt động văn hóa của con người bao gồm hoạt động sáng tạo và hoạt động tái tạo. Hoạt động sáng tạo, theo nghĩa hẹp có tác dụng làm phát triển vốn văn hóa của dân tộc, của con nguoi: trong lich sử nhân loại, ta từng biết đến những sáng tao cực kỳ quan trong như việc phat minh ra lửa, bánh xe, thuần dưỡng súc vật, sáng chế ra chữ viết, kim la bản, công nghệ In ấn. Hoạt động tái tạo tuy không phát triển, nhưng có tác dung bảo tồn và phô biến các giá trị văn hóa. Viết ra một cuốn sách - đó là hoạt động sáng tao, còn việc in, nhân bản cuốn sách ay - đó là hoạt động tai tao.
15 một tôn giáo nào - sẽ là vô văn hoá nếu ai đó không có kinh nghiệm tôn giáo đó; đối với số người chuộng khoa học thì những ai không biết đến những thành tựu cao của khoa học, người đó sẽ nằm “ngoài văn hoá”. Văn hoá - về ban chất đó chỉ là tổng hợp những giá trị tích cực. Tuy nhiên, trong đời sống quan hệ quốc tế, nếu loại bỏ những giá trị tiêu cực, nguy hiểm cho một chủ thé hoặc một số chủ thể, thì tự khắc văn hóa đã trở thành một tương đối luận cực đoan, và không còn giữ nguyên bản chất vốn có của nó. Thật khó dé xác định một giá trị văn hóa thuần túy nào là tiêu cực hay tích cực khi đứng ngoài luồng văn hóa ấy.
Cũng thật khó dé đưa ra một cái nhìn bớt tiêu cực hơn khi cái được đánh giá là tiêu cực ở nơi này lại được cho là tích cực ở nơi khác. Federico Mayor, Cựu Tổng giám đốc UNESCO đã công bố: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tỉnh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise” [39]. Xu thế quan hệ quốc tế ngày nay là chấp nhận tính hạn chế trong những định nghĩa về văn hóa: “văn hoá là tổng cộng, tổng số, tổng hoà những sáng tạo của con người”[164].
Người ta đồng ý với nhau rằng các cách tiếp cận thuần tuý giá trị hoc về văn hoá là mang tính hạn chế, một chiều, bởi vì chúng khép văn hoá vào phạm vi tương đối hẹp, vì đôi khi tốt ở mặt này, nhưng không tốt trong hoàn cảnh khác, cái được cho là tích cực, đáng hoan nghênh ở nơi này lại bị lên án, đả phá ở nơi khác. Khi sự khác biệt của văn hóa đi ngược với quy luật tồn tại chung của văn hóa thế giới, tự động nó sẽ đảo thải.2 Vai trò văn hóa Từ định nghĩa của E.Tylor trong cuốn Văn hóa nguyên thuỷ (Primitive culture) xuất bản ở London năm 1871, đến năm 1952, hai nhà nhân học người Mỹ 16 là A. Kluckhohn đã viết một cuốn sách chuyên bàn về các định nghĩa văn hóa nhan đề: Văn hóa - tổng luận phê phán các quan niệm và định nghĩa (Culture: a critical review of concepts and definitions), trong đó đã dẫn ra và phân tích 164 định nghĩa về văn hóa. Trong lần xuất bản thứ hai của cuốn sách này, số định nghĩa văn hóa đã tăng lên đến trên 200.
Còn hiện nay thì số lượng định nghĩa về văn hóa khó mà biết chính xác được: có người bảo là 400, có người nói là 500, lại có người quả quyết rang chúng lên đến con số nghìn [38]. Với cách hiểu rộng rãi, có thể nói mỗi nhà nghiên cứu văn hóa lại có thêm ít nhất một cách định nghĩa riêng về văn hóa.