Chương 1. Cách xác định và chế độ pháp lý các vùng bién theo quy định của Công ước Luật biển năm 1982. Pháp luật hiện hành của Việt Nam về cách xác định và chế độ pháp lý các vùng biển: thực trạng và những đề xuất. PHAN NOI DUNG CHUONG 1.
CÁCH XÁC ĐỊNH VA CHE ĐỘ PHAP LY CAC VUNG BIEN THEO QUY DINH CUA CONG UGC LUAT BIEN NAM 1982 1.1 Khái quát sự hình thành và phát triển các vùng biển trong Luật biển quốc tế Luật biển quốc tế là một ngành luật độc lập của hệ thông pháp luật quéc tế, được hình thành từ rất sớm do quá trình sử dụng, khai thác biển của con người và các quốc gia. Trong thời kỳ các hệ thống các quy phạm điều chỉnh các hoạt động về bién được hình thành, những quy định này còn đơn giản, chỉ áp dụng trong phạm vi từng khu vực, từng vùng biển là chính, chưa được áp dung sâu rộng. Theo xu thé phát triển ra biển của các quốc gia, các quy phạm của luật biển cũng phát triển và ngày càng mở rộng phạm vi điều chỉnh của nó. Theo lịch sử phát triển của các vùng biển, trên các đại đương từ lâu đã phải tuân theo học thuyết tự do trên biên - một nguyên tắc được đưa ra vào thế kỷ 17 vé co bản giới hạn các quyên và quyên tài phán của quốc gia đối với các đại đương trong phạm vi một vành đai biển hẹp bao quanh bờ biên của một quốc gia, từ đó hình thành nên các học thuyết về biên va tập quán trên biển va đại đương”.
Phan biển còn lại được tuyên bố là tự do cho tat cả mọi người và không thuộc về ai. Trong khi tình trạng này diễn ra phổ biến vào thé kỷ 20, đến giữa thé ky đã xuất hiện động lực mở rộng yêu sách quốc gia đối với các nguồn tài nguyên ngoài khơi. Ngày càng có nhiêu lo ngại về tồn thất đối với trữ lượng cá ven biển do các đội tàu đánh cá đường dai gây ra cũng như về mỗi de doa 6 nhiễm và chất thải từ các tàu vận tải và tàu chở dau chở hàng hóa độc hại chạy dọc các tuyến đường bién trên toàn cầu”. Năm 1945, Tổng thống Mỹ Harry S Truman đã đơn phương tuyên bố mở rộng quyên tài phán của Hoa Kỳ đối với tắt cả các tài nguyên thiên nhiên trên thêm lục địa của quốc gia đó - dâu, khí đốt, khoáng sản, v.
Đây là thách thức lớn đầu tiên đối với * Hoàng Việt (2023), 40 năm phát triển Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc va sự tham gia tích cực của Việt Nam, Tạp chí nhà nước và pháp luật số 1/2023, trang 1 k https://www.org/Depts/los/convention_agreements/convention_historical_perspective.htm#Historical%2 OPerspective quyên tự do - Học thuyết về biển cả. Các quốc gia khác nhanh chóng làm theo”. Vào tháng 10 năm 1946, Argentina tuyên bố chủ quyên thẻm lục địa và vùng biển epicontinental phía trên nó. Chile va Peru vào năm 1947, và Ecuador vào năm 1950, đã khẳng định quyền chủ quyền đối với một khu vực 200 hải lý, với hy vọng qua đó hạn chế sự tiếp cận của các đội tàu đánh cá xa bờ và kiểm soát sự cạn kiệt nguồn cá ở các vùng biên lân cận.
Ngay sau Thế chién thứ hai, Ai Cập, Ethiopia, A Rap Saudi, Libya, Venezuela và một số nước Đông Âu đã đưa ra yêu sách đối với lãnh hải rộng 12 hải lý, do đó rõ ràng khác xa giới hạn ba hải lý truyền thong’. Hệ thống các nguyên tắc, quy phạm của luật biển được phát triển và pháp điền hóa ngày càng day đủ, chặt chế và tiền bộ, đảm bảo lợi ích hang hải, lợi ích của các quá trình hợp tác quéc tế giữa các quốc gia trong việc sử dụng biển và đại sương, vì mục đích hòa bình và phát triển ở phạm vi khu vực cũng như phạm vi toàn cầu”. Hội nghị quốc tế lần thứ I về Luật biển do Liên Hợp Quốc triệu tập năm 1958 đã thông qua các công ước quốc tế dau tiên vẻ luật biển đó là: 1. Công ước vẻ lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải (có hiệu lực từ ngày 10/9/1964) 2.
Công ước về thêm lục địa (có hiệu lực từ ngày 10/6/1964) 3. Công ước về đánh cá và bảo vệ tài nguyên sinh vật biển (có hiệu lực từ ngày 20/3/1966) 4. Công ước bién cả (có hiệu lực từ ngày 30/9/1962) Các công ước trên đã đánh dấu sự tiền bộ đáng kề về quá trình pháp điền hóa luật biển quốc tế, tuy nhiên do hạn ché mang tính chất lịch sử và chính trị nên mỗi công ước chỉ được khoảng 40 quốc gia phê chuẩn”.org/Depts/los/convention_agreements/convention_historical_perspective.htm#Historical %2 OPerspective ® Nguyễn Hồng Thao, Nguyễn Như Mai (2014), Luật biển quốc tế và Luật Biển Việt Nam, Viện đại học Mở Hà Nội, trang 12 7 https://www.org/Depts/los/convention_agreements/convention_overview_convention.htm Š Nguyễn Văn Luận (1995), Công ước của Liên Hop Quốc về Luật biển năm 1982 và van dé Việt Nam phê chuẩn Công ước, Tạp chí Luật học, Số 4, 1995-08-01, trang 22 Hội nghị quốc tế luật biển lần thứ II được tổ chức tại Gio-ne-vo vào ngày 17/3/1960 nhưng cũng do có nhiêu ý kiến bat đồng giữa các quốc gia tham gia nên hội nghị cũng kết thúc mà không đạt được thỏa thuận nào”. Hội nghị quốc tế luật bién lần thứ II do Liên Hợp Quốc triệu tập nhằm xây dựng một trật tự pháp lý quốc tế mới vẻ biển và đại dương sau 5 năm trù bị (từ 1967 đến 1972) và trải qua 9 năm thương lượng (từ năm 1973-1982), trong 11 khóa họp đã thông qua Công ước mới về Luật biên ngày 30/4/1982'°.
Đây được coi là “Hiến pháp vẻ biển và đại dương”, Công ước Luật biển năm 1982 quy định một cách toàn diện các quyên và nghĩa vụ của tat cả quốc gia (có biên, không có biên, bất lợi về mặt dia ly.) trong việc sử dụng. biển và đại dương. Công ước được 119 doan đại diện các nước chính thức ký kết vào ngày 10/12/1982 tại Gia-mai-ca. Công ước Luật biên năm 1982 chính thức có hiệu lực từ ngày 16/11/1994 và tính đến 20/7/2009 có 159 quốc gia thành viên.
Công ước Luật biển năm 1982 là một văn kiện pháp lý quốc tế có ý nghĩa nên tang và có tầm quan trọng đối với quốc tế và đóng góp quan trọng trong việc xây dựng một trật tự pháp lý quốc tế về biển và đại đương dé đảm bảo bình an và ổn định trên biển, giữ vai trò chủ yếu nhát trong việc điêu chỉnh quan hệ phát sinh giữa các chủ thé luật quốc tế trong các hoạt động khai thác, bảo vệ biển và đại dương vi lợi ích của mỗi quốc gia và lợi ích của hòa bình, an ninh và hợp tác quốc tế hiện nay'. Công ước gồm 17 phan, 320 Điều và 9 Phụ lục, quy định khá toàn diện vẻ các vùng biền và quy ché pháp lý của chung cũng như các van dé có liên quan của luật biển quốc tế, trong. đó quan trọng nhát là các quy định vê: - Nội thủy - Lãnh hải; - Vùng tiếp giáp; - Vùng đặc quyên kinh tế; ° Trang web: htips://plo.vn/unclos Công ước Luật biển năm 1982 -40-nam-bai-1-nguon-luat-bien-vo-cung- gia-tri-va-do-so-post71 1782.html ° Duy Chiến (2011), Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc và sự tham gia của Việt Nam, Tap chí Cộng sản số 827 (9/2011), trang 103 7 Trang web: https://tapchicongsan.vn/web/guest/quoc-phon g-an-ninh-oi-ngoai I/-/2018/826103/cong- uoc-cua-lien-hop-quoc-ve-luat-bien-nam-1982--bon-muoi-nam-vi-hoa-binh%2C-phat-trien-ben-vung-bien- va-dai-duong.aspx 10 - Thêm lục địa bao gồm cả thêm lục địa mở rộng; - Biển cả (Công hai); - Quy chế dao và quốc gia quan đảo; - Giải quyết tranh chấp; - Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bién và đại đương Ngoài ra Công ước cũng có những quy định vê eo biển quốc tế, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biền, vùng (vùng đáy bién quốc té). Theo Công ước Luật biển năm 1982, các vùng bién thuộc chủ quyên, quyên chủ quyên và quyền tài phán của quốc gia bao gồm nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp, ving đặc quyền kinh tế và thêm lục dia: Không gian vũ trụ Vig trời Không phận ———al quốc gia quốc tế ‘12 bãi lý ——>| Nguén: Việt hỏa từ Schofield (2003) Hình 1: Sơ đỗ các vùng biển của quốc gia ven biển Nguồn: Việt hóa từ Schofiles (2003) Hon 40 năm qua, Công ước Luật biên năm 1982 đã trở thành nên tang pháp lý quan trong cho việc quan tri đại đương toàn cầu.
Mặc dù Công ước Luật biển năm 1982 không thẻ giải quyết được tat cả mọi bat đồng, nhưng các quy tắc và nguyên tắc của nó đã được sử dung dé giải quyết hoặc quan lý hàng chục tranh chấp biên trên thé giới”. Ngay tại khu vực Đông Nam A, một số quốc gia đã thay đổi luật pháp trong nước và điều chỉnh các yêu sách biển của minh dé phù hợp với Công ước Luật biển năm 1982 và nhờ đó có thé giải quyết các tranh chap vẻ biên giới biển cũng như các tranh chap biên khác với các nước láng giéng. Công ước Luật biển năm 1982 đã chứng tỏ giá trị của nó và các giá trị này can phải được bảo vệ và tôn vinh'Š.2 Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia theo quy định của Công ước Luật biển năm 1982 1.1 Vung nội thủy 1.1 Cách xác định Khoản 1, Điều 8 Công ước Luật biển năm 1982 định nghĩa, nội thủy là: “.các vùng nước phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải thuộc nội thủy của quốc gia”. Điều này nhắc lại và làm rõ thêm khái niệm về nội thuỷ đã được ghi nhận trong điều 5, khoản 1 của Công ước Giơ-ne-vơ năm 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp, theo đó “các vùng nước nằm về một bên của đường cơ sở lãnh hải đối diện với đất liền tạo thành vùng nước nội thuỷ của quốc gia”.
Như vậy, nội thủy của quốc gia ven biển chính là vùng biển có chiều rộng được xác định bởi một bên là đường bờ biển còn bên kia là đường cơ sở. Từ cuối thế kỷ XIX, đường cơ sở đã trở thành một khái niệm quan trọng đối với các quéc gia ven biển. Đường cơ sở là một khái niệm pháp ly được các quốc gia ven biển sử dụng trong việc hoạch định và tuyên bố các vùng biển thuộc chủ quyền (nội thủy và lãnh hải) và các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia (vùng tiếp giáp lãnh hãi, vùng đặc quyền kinh tế và thêm lục dia)'*. Hiện nay, khi Công ước Luật biển năm 1982 có hiệu lực được hon 40 năm va được hau hết các quốc gia trên thé giới tuân thủ thì định nghĩa về “đường cơ sở” van chưa được dé cập tới một cách chính thức.
Trong một số quy định của Công ước, định nghĩa đường cơ sở chỉ được lồng ghép ở các điều luật liên quan, theo đó tại Điều 3 Công ước Luật biển "TS.