Chương 1 TONG QUAN VETINH HÌNHNGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tai 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Hiện nay, trong khoa học pháp lý quốc tế, vấn đề giải quyết tranh chấp biển nói chung va thêm lục địa nói riêng đã và đang được nhiều nhà luật học quan tâm, nghiên cứu, tìm hiểu. Có thể liệt kê các công trình nổi bật có liên quan trực tiếp (liên quan đến cơ sở pháp lý, nguyên tắc, biện pháp giải quyết tranh chấp về thềm lục dia nói chung va tranh chấp về thêm lục địa giữa Việt Nam và các nước nói riêng) và liên quan gián tiếp (liên quan đến cơ sở dé đưa ra các yêu sách về thềm lục địa; quyền chủ quyền và quyền tài phán trên thềm lục địa; thấm quyền và chức năng của CLCS, các giải thích về các thuật ngữ liên quan đến thềm lục địa, các thỏa thuận hợp tác khai thác chung/hợp tác cùng phát triển như là những biện pháp “qua độ” dé tiến tới giải quyết các tranh chấp về thêm lục địa; bối cảnh, lịch sử chính trị, ngoại giao liên quan đến các tranh chấp tại Biên Đông) đến dé tài như sau: 1.
Tình hình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài eL. Nelson (2009), “The Settlement of Disputes Arising From Conflicting Outer Continental Shelf Claims”, The International Journal of Marine and Coastal Law, 24, pp. Trong bai viết này, tác gia đã có sự đánh giá chung về hệ thống giải quyết tranh chap trong UNCLOS và các quy tắc về thủ tục của CLCS được soạn thảo với mục đích ngăn chặn hoặc giảm thiểu các tranh chấp liên quan đến hoạch định ranh giới ngoài thềm lục địa chang hạn như Quy tắc 46 và Khoản 5(a) Phụ luc I Bộ Quy tắc liên quan đến các tranh chấp biển hay dat liền. Trong bối cảnh một tranh chap như vậy tac giả đã nhận định rằng một bản đệ trình chung của quốc gia ven biến sẽ có thể khiến cho CLCS xem xét bản đệ trình đó.
Tác giả cũng đã phân tích và đánh giá vai trò của thiết chế như Cơ quan Quyền lực, ITLOS, và CLCS trong việc giải quyết tranh chấp về hoạch định thềm lục địa. Tác giả cũng đã xem xét các trường hợp mà quốc gia thành viên có thể thách thức những khuyến nghị của CLCS. Noyes (2009), Judicial and Arbitral Proceedings and the Outer Limits of the Continental Shelf, 42 Vanderbilt Journal of Transnational Law. Trong bai viết này, tác gia đã đánh giá những trường hợp mà các thiết chế tài phán quốc tế sẽ có thẩm quyên giải quyết các tranh chấp về hoạnh định ranh giới ngoài thềm lục địa.
Tác giả cho rằng mặc dù UNCLOS quy định các ranh giới ngoài được thiết lập dựa “trên cơ sở” các khuyến nghị của CLCS sẽ là “cuối cùng và ràng buộc”, nhưng hệ thống các biện pháp tài phán của UNCLOS có thể có thẩm quyền đối với các ranh giới ngoài đã được thiết lập như vậy. Mặt khác, tác giả cũng cho rằng các thiết chế tài phán quốc tế có nhiều khả năng chỉ có vai trò hạn chế trong việc đánh giá sự tuân thủ của một quốc gia ven biển đối với các quy định về nội dung và thủ tục liên quan đến các ranh giới ngoài của thềm lục địa. Tác giả nhận xét rằng các quy định về thấm quyền va tư cách pháp ly, và sự cần thiết của việc tôn trọng vai trò của CLCS sẽ hạn chế hầu hết các trường hợp mà các thiết chế tài phán có thể có thâm quyền giải quyết đối với các tranh chấp về hoạnh định ranh giới ngoài. Tuy nhiên, tác giả nhận định răng các ý kiến tư van của các thiết chế tài phán quốc tế có thể hỗ trợ cho việc giải quyết các tranh chấp như vậy và qua đó đây mạnh việc áp dụng thống nhất các quy định của UNCLOS.
eBarbara Kwiatkowska (2012), Submissions to the UN CLCS in Cases of Disputed and Undisputed Maritime Boundary Delimitations or Other Unresolved Land or Maritime Disputes of Developing States, Vandeplas Publishing: Law of the Sea Series 3. Trong ấn phẩm này, tác giả đã phân tích nguyên tắc “không gây phương hại” theo UNCLOS trong hoạt động của CLCS đối với các tranh chấp đất liền hoặc biển đã được giải quyết hoặc chưa được giải quyết. Tác giả đã lập luận rằng hoạt động giải thích các quy định của UNCLOS và Bộ Quy tắc của CLCS, cũng như thực tiễn rộng lớn về việc nộp các bản đệ trình ranh giới thêm lục địa ngoài 200 hải 10 lý của các quốc gia đã chứng minh răng các khuyến nghị của CLCS sẽ không gây phương hại cho các hoạt động phân định biển cũng như cho việc giải quyết các tranh chấp dat liền hay biển. Do đó, các tranh chấp này có thé được giải quyết trước hoặc song song hoặc sau khi các quốc gia đã nhận được các khuyến nghị của CLCS.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đã phân tích các biện pháp để thực hiện nguyên tắc “không gây phương hại” như nộp bản đệ trình từng phần, nộp bản đệ trình chung, nộp bản đề trình với sự đồng ý của tất cả các bên tranh chấp, và hoạt động không xem xét các ban đệ trình của CLCS. Ngoài ra, tac gia cũng đã đánh giá một cach toàn diện các bản đệ trình có liên quan tới tranh chấp về biên hoặc đất liền của các quốc gia đang phát triển từ vùng biển Caribbean, Mỹ La Tinh, Đông Bắc và Đông Nam A, Nam Thái Bình Dương, Nam A và Trung Đông, Đông Phi, An Độ Dương cho đến các vùng biển của Nam Phi, Tây Phi và Bắc Phi. Cuối cùng, tác giả nhận định rang sự liên kết chặt chẽ giữa quá trình phân định thềm lục địa (bởi các quốc gia và các thiết chế tài phán quốc tế) và quá trình hoạch định ranh giới thềm lục địa ngoài 200 hải lý của CLCS sẽ đảm bảo rằng CLCS vẫn giữ vị trí trung tâm trong việc thúc đây sự phát triển của luật biển quốc tế và giải quyết hòa bình các tranh chấp của đại đương. eVicente Marotta Rangel (2006), “Settlement of Disputes Relating to the Delimitation of the Outer Continental Shelf: The Role of International Courts and Arbitral Tribunals”, The International Journal of Marine and Costal Law, Vol 21, No 3.
Trong bài viết nay, tac gia đã làm rõ vai trò va chức năng của ICJ, ITLOS cũng như Tòa Trọng tài Phụ lục VII trong việc giải quyết các tranh chấp về phân định thêm lục địa. Mặc khác, tác giả cũng đã đánh giá về các loại phân định thềm lục địa (phân định thềm lục địa 200 hải lý và ngoài 200 hải lý), quyền quốc gia ven biển trên thềm lục địa và các phán quyết lịch sử về các tranh chấp này. Cuối cùng, tác giả đánh giá về sự kiểm soát tư pháp của các thiết chế tài phán đối với các ranh giới ngoài được thiết lập dựa trên khuyến nghị của CLCS. 11 eBjørn Kunoy (2013), “The Delimitaiton of an Indicative Area of Overlapping Entitlement to the Outer Continential Shelf”, British Yearbook of International Law.
Trong bai viết này, tác giả đã nhận định rằng việc xác định khu vực chồng lan là điều kiện tiên quyết cho việc phân định thêm lục địa ngoài 200 hải lý. Đề thực hiện điều này, tác giả cho rằng cần xác định các đường cơ sở có liên quan cho mục đích của việc phân định, ít nhất là đến khoảng cách 200 hải lý. Tác giả cũng cho rằng, mặc dù trên thực tế chỉ có một thềm lục địa duy nhất theo luật pháp quốc tế, các phương pháp dé xác định khu vực chồng lắn trong phân định thềm lục địa 200 hải lý không thé áp dung dé xác định khu vực chồng lấn trong phân định thềm lục địa ngoài 200 hải lý. eBjarni Mar Magnússon(2013), Dispute Settlement and the Establishment of the Continental Shelf Beyond 200 Nautical Miles (PhD Thesis), The University of Edinburgh.
Trong luận án của minh, tác giả đã giải thích nguồn gốc về thềm lục địa trong pháp luật quốc tế cũng như giải thích sự phát triển của khái niệm thềm lục địa dẫn tới việc hình thành Điều 76 UNCLOS. Tác giả đã nhận định rằng, nguyên tắc về “sự kéo đài tự nhiên” là khái niệm quan trọng nhất, là cơ sở cho sự hình thành quyền lợi của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa ngoài 200 hải lý. Trong luận án của mình tác giả đã phân tích những nguyên tắc và hoàn cảnh liên quan trong việc phân định thềm lục địa ngoài 200 hải lý và cho rằng cho rằng yếu tố “chân đốc lục dia” là hoàn cảnh cơ bản trong việc phân định thêm lục địa ngoài 200 hải lý bên cạnh các yếu tố địa ly/dia chất khác như các máng địa chất, các bãi ngầm, ghénh, nui, bai, mom. mà không phải là đường bờ biển.
Tác giả cho rằng phương pháp phân định thềm lục địa 200 hải lý và ngoài 200 hải lý là khác nhau. Tác giả cũng cho rằng CLCS không phải là một cơ quan tài phán quốc tế dé giải quyết các tranh chấp về hoạch định thêm lục địa ngoai. e Natalie Klein (2005), Dispute Settlement in the UN Convention on the Law of the Sea, Cambridge University Press. 12 Trong ấn phẩm này, tác giả đã phân tích và đánh giá một cách toàn diện hệ thống giải quyết tranh chấp của UNCLOS; đặc biệt là các thủ tục bắt buộc kèm theo quyết định ràng buộc, mối tương quan giữa các quy định về nội dung và thủ tục, cũng như các giới hạn và ngoại lệ của Điều 297 và 298 đối với từng vấn đề cụ thê trong đó có các tranh chấp về phân định thềm lục địa.
Tác giả cũng đã đánh giá nguyên tắc công bằng trong phân định biển và thềm lục địa cũng như các hoàn cảnh liên quan đối với việc phân định này. eBjarni Mar Magnusson (2013), “Outer Continental Shelf Boundary Agreements”, International and Comparative Law Quarterly, 62, pp. Trong bai viết này, tác gia đã phân tích các thỏa thuận phân định thềm luc địa ngoài 200 hải lý của các quốc gia và kết luận rằng không có một phương pháp phân định thống nhất đã được sử dụng. Tác giả nhận định rằng, phần lớn các quốc gia đã ký kết các thỏa thuận phân định thềm lục địa ngoài trước khi gửi bản đệ trình ranh giới ngoài thềm lục địa cho CLCS hoặc trước khi nhận khuyến nghị của CLCS.
Mặt khác theo tác giả, các thỏa thuận phân định thêm lục địa ngoài 200 hải lý được ký kết rất giống với các thỏa thuận phân định thềm lục địa 200 hải lý. eTran Hoang Yen (2012), The Role of the Commission on the Limits of the Continental Shelf in Cases of Unresolved Land or Maritime Disputes for the Consideration of the Joint Submission by Viet Nam and Malaysia in the Context of the South China Sea (LLM Thesis), University of Southamton.