Chương 1 KHÁI QUAT VE GIẢI QUYẾT TRANH CHAP THUONG MAI QUOC TE 1. KHAI NIEM TRANH CHAP THUONG MAI QUOC TE 1. Thương mại quốc tế Khởi nguồn của hoạt động thương mại là các hoạt động trao đôi hàng hóa va dich vụ nhằm mục dich lợi nhuận. Ngày nay, phạm vi hoạt động thương mại không chỉ bó hẹp trong hai lĩnh vực truyền thống ấy.
Hoạt động thương mại trong khuôn khổ của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được hiểu rất rộng, bao gồm các hoạt động thuộc bốn lĩnh vực là thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại và quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại.! Theo Luật mẫu về Trọng tải thương mại quốc tế của Ủy ban về luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) thì “thudt ngữ “thương mại” can được giải thích theo nghĩa rộng dé bao trùm tat cả các van đề phát sinh từ các quan hệ có ban chất thương mại, di là quan hệ hợp đồng hay không phải quan hệ hợp đồng. Các quan hệ có bản chất thương mại bao gồm, nhưng không giới hạn bởi các giao dich sau: mua bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện hoặc đại lí thương mai; bao thanh toán; thuê mua; xây dựng công trình; tư van; kĩ thuật; li-xdng; đâu tr; tài chính; ngân hàng; bảo 1 Điều 2 Hiệp định thành lập WTO. hiểm; thoả thuận khai thác hoặc nhượng quyên khai thác; liên doanh và các hình thức hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh khác; vận tải hàng hoá hoặc hành khách bằng đường hàng không; đường biển, đường sắt hoặc đường bộ”.1 Việc xác định nội hàm khái niệm hoạt động thương mại ở mỗi nước phụ thuộc vào pháp luật của quốc gia đó. Theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 thì hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm việc mua bán hàng hóa, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi.? Thương mại quốc tế thường được hiểu là hoạt động thương mai liên quan tới hai hay nhiều quốc gia khác nhau.
Dựa vào chủ thể và tính chất của quan hệ thương mại thì thương mại quốc tế được chia thành hai nhóm chính: thương mại quốc tế công (international trade) và thương mại quốc tế tư (international commerce). Thương mại quốc tế công là các hoạt động thương mại diễn ra giữa các thực thé công (quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế liên chính phủ). Bản chất của hoạt động thương mại quốc tế công là việc các thực thé công tự mình ban hành hoặc cùng nhau cam kết các chính sách thương mại quốc tế (kí kết, tham gia các điều ước quốc tế hay các liên kết kinh tế quốc tế) và thực hiện các chính sách đó. Hộp 1: Chính sách thương mại chung của Liên minh châu Âu (EU) Chính sách thương mại chung (CCP) là một trong những trụ cột chính trong quan hệ của Liên minh châu Âu với các nước trên thé giới.
Đây là một lĩnh vực không thể thiếu trong thẩm quyền của Liên minh (Điều 3 của Hiệp ước về chức năng của Liên minh châu Âu (TFEU)), nghĩa là chỉ EU, chứ không phải bất cứ quốc gia thành viên đơn lẻ nào, có thể ban hành luật về những vấn đề thương mại và kí kết các hiệp định thương mại quốc tế. CCPám chỉ việc thực hiện đồng bộ quan hệ thương mại với các nước thứ ba, nhất là thông qua các phương tiện thuế quan ¬ Chú giải 2, Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của UNCITRAL năm 1985, sửa đôi năm 2006. 2 Khoản 1 Điêu 3 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005. 10 chung và quy chê xuất nhập khâu chung.
Cơ sở của chính sách này là liên minh hải quan với một Biêu thuê chung áp dụng với bên ngoài và phạm VI của chính sách này được xác định tại Điêu 207 của Hiệp ước TEEU, bao gôm: * Thay đổi về thuế suất; * Kí kết các hiệp định về thuế quan và thương mại liên quan đến thương mại hàng hóa và dịch vụ, cũng như các khía cạnh thương mại của sở hữu trí tuệ, đầu tư trực tiếp nước ngoài, đạt được sự đồng bộ trong các biện pháp tự do hóa, chính sách xuất khẩu và các biện pháp bảo hộ thương mại như những biện pháp áp dụng trong trường hợp bán phá giá hoặc trợ cấp; ¢ Chính sách thương mại chung phải được thực thi theo những nguyên tắc và mục tiêu của chính sách đối ngoại của Liên minh. Trong quan hệ quốc tế của mình, EUủng hộ “Thương mại tự do công bằng” (Điều 3.5 của Hiệp định TEU [Hiệp định về Liên minh châu Âu]). (Nguồn: EU-MUTRAP, Số tay Tổng quan Chính sách Thương mại của Liên minh châu Au, Nxb. Công thương, Hà Nội, 2015, tr.
16) Thương mại quốc tế tư là hoạt động thương mại quốc tế diễn ra giữa các thương nhân (cá nhân, tô chức kinh tế và có thé là quốc gia khi quốc gia tham gia với tư cách như một thương nhân). Tính “quốc té” hay sự liên quan tới hai hay nhiều quốc gia khác nhau của hoạt động thương mại quốc tế tư phụ thuộc vào quan niệm của mỗi học giả cũng như từng hệ thống pháp luật, điều ước quốc tế. Nhưng nhìn chung, cho đến nay, các tiêu chí thường được dùng để xác định tính “quốc te” cua hoạt động thương mại quốc tế tư, quan hệ thương mại quốc tế tư gồm: - Một bên hoặc các bên là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài; hoặc - Căn cứ dé xác lập, thay đôi, thực hiện hoặc cham dứt quan hệ thương mại phát sinh ở nước ngoài; hoặc - Tài sản là đôi tượng của quan hệ thương mại đang ở nước ngoài. 11 Hộp 2: Khoản 1 Điều 1 Công ước Vienna 1980 về hợp dong mua bán hàng hóa quôc tê “1.
Công ước này áp dụng cho các hợp đông mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau: a. Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước; hoặc b. Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công trớc nay.” Hộp 3: Điều 27 - Mua bán hàng hóa quốc tế, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 “1. Mua bán hàng hóa quốc té được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu.
Mua ban hàng hóa quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng băng văn bản hoặc băng hình thức khác có giả trị pháp li tương đương. ” Hộp 4: Khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 “2. Quan hệ dân sự có yếu to nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây: a. Có it nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài, b.
Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đôi, thực hiện hoặc cham đứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài, c. Các bên tham gia quan hệ đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đổi tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài. ” Quan hệ thương mại quốc tế giữa thương nhân và quốc gia (quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ, quan hệ giữa nhà đầu tư nước ngoài với nước tiếp nhận đầu tư.) có thé được coi là một dạng quan hệ thương mại quốc tế tư đặc biệt. Dù quan hệ này có sự tham gia của quốc gia - chủ thể có quyền miễn trừ tư pháp, ngày nay quốc gia thường từ bỏ quyền miễn trừ này khi tham gia quan hệ thương mại quốc tế với thương nhân, theo đó biến vị thế của 12 quốc gia trở nên tương tự như thương nhân trong quan hệ thương mại giữa hai bén.
Tranh chấp thương mại quốc tế Tranh chấp là điều khó tránh khỏi trong các hoạt động thương mại nói chung, hoạt động thương mại quốc tế nói riêng. Hiện có nhiều quan niệm khác nhau, quy định khác nhau về tranh chấp. Theo định nghĩa của Toà án Thường trực Công lí quốc tế (The Permanent Court of International Justice)? trong phán quyết năm 1924 về vụ tranh chấp Mavrommatis: “anh chấp (dispute) là sự bắt đông về mặt pháp lí hay thực tế, sự xung đột về quan điểm pháp lí hoặc lợi ích giữa hai người trở lên ”.3 Theo Tw điền Luật học Black (Black’s Law Dictionary) thì “anh chấp được hiểu là mâu thuan hay bat đông về các yêu cẩu hay quyên lợi giữa các bên; sự đòi hỏi về yêu cau hay quyên lợi của một bên bị đáp lại bởi một yêu câu hay lập luận trái ngược từ bên kia ”.* Nhìn chung, đưới góc độ pháp lí, tranh chấp được hiéu là các mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong một quan hệ xã hội nhất định. Theo đó, tranh chấp thương mại quốc tế là các mâu thuẫn, bất đồng về quyên và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ thương mại quốc tế.
Dựa vào chủ thể và đối tượng của tranh chấp, tranh chấp thương mại quốc tế được chia làm hai loại cơ bản: tranh chấp thương mại quốc tế công và tranh chấp thương mại quốc tế tư. Tranh chấp thương mại quốc té công Tranh chấp thương mại quốc tế công là tranh chấp thương mại quốc tế giữa các thực thể công về việc xây dựng và thực thi các 1 Xem thêm ở phan sau của Chương này. 2 Tién thân của Tòa án Công lí quốc tế (The International Court of Justice). 3 John Collier và Vaughan, Giải quyết tranh chấp trong Luật quốc tế, Nxb.
Dai học Oxford, 1999, tr. 4 Tw điển Luật học Black (Black’s Law Dictionary), năm 1991, tr. 13 chính sách thương mại như thuế xuất nhập khâu, chống bán pha giá, trợ cấp, tự vệ. Tranh chấp thương mại quốc tế công phát sinh khi một hoặc nhiều thực thê công cho rằng một thực thê công nao đó ban hành hoặc thực hiện chính sách thương mại không phù hợp hoặc không thực thi các nghĩa vụ đã cam kết với thực thê công/các thực thể công kia.
Tranh chấp thương mại quốc tế công có thê phát sinh trên cơ sở: khiếu kiện vi phạm, khiếu kiện không vi phạm, khiếu kiện tình huống hay khiếu kiện không thực thi. Trong đó, khiếu kiện vi phạm là khiếu kiện mang tinh phô biến trong các cam kết quốc tế, khiếu kiện không thực thi ít được quy định hơn. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đề cập tới 3 loại khiếu kiện: khiếu kiện vi phạm, khiếu kiện không vi phạm và khiếu kiện tình huống.