biên tài sản đang tranh chấp; - Biện pháp cưỡng chế quy định tại khoản 3 Điều 71 và các Điều 98, 99, 100 và 101 LTHADS để thi hành quyết định BPKCTT về cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm hàng hoá khác. Như vậy, chấp hành viên phải căn cứ vào việc phải thi hành quyết định áp dụng BPKCTT nào theo quy định của pháp luật để lựa chọn áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế phù hợp theo quy định của LTHADS. Ngoài ra, sau khi quyết định áp dụng BPKCTT mà toà án ra quyết định thay đổi, áp dụng bổ sung quyết định áp dụng BPKCTT thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định dé thi hành. Theo quy định tại Điều 131 LTHADS, khi nhận được quyết định thay đổi hoặc áp dụng bổ sung quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của toà án, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra ngay quyết định thi hành án, đồng thời thu hồi quyết định thi hành án đối với quyết định áp dụng biện pháp khan cấp tạm thời đã bi thay đổi.
Trường hợp quyết định áp dụng biện pháp khan cấp tạm thời bị thay đổi đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho toà án và giải thích cho đương sự quyền yêu cau toà án giải quyết. Trong trường hợp sau khi toà án đã ra quyết định áp dụng, thay đổi, áp dụng bố sung BPKCTT, cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án và đang tổ chức thi hành quyết định này, nếu toà án ra quyết định huỷ bỏ BPKCTT đang được áp dụng theo quy định tại Điều 122 BLTTDS thì cơ quan thi 201 hành án dân sự phải thi hành quyết định về việc huỷ bỏ BPKCTT. Theo quy định tại Điều 132 LTHADS, trường hợp toà án huỷ bỏ quyết định áp dụng BPKCTT thì ngay sau khi nhận được quyết định của toà án, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành quyết định áp dụng BPKCTT. Trong thời hạn 24 giờ, kế từ khi có quyết định đình chỉ thi hành quyết định áp dụng BPKCTT, chấp hành viên làm thủ tục giải toả, kê biên, trả lại tài sản, giải toả việc phong toả tài sản hoặc tài khoản của người có nghĩa vụ.
Trường hợp quyết định áp dụng BPKCTT bị toà án huỷ bỏ nhưng cơ quan thi hành án dân sự đã thi hành được một phần hoặc thi hành xong thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho toà án và giải thích cho đương sự quyền yêu cầu toà án giải quyết (khoản 2 Điều 131 LTHADS). Khi thi hành quyết định áp dụng BPKCTT mà cơ quan thi hành án dân sự thấy cần uỷ thác thi hành án thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chỉ được uỷ thác cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản đối với những BPKCTT như cam hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định; giao người chưa thành niên cho cá nhân, cơ quan hoặc tô chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm đình chỉ quyết định sa thải người lao động; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng: buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm; buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động; kê biên tài sản đang tranh chấp; cho thu hoạch, cho ban hoa mau 202 hoặc sản phâm hàng hoá khác. Khi người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi khác thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chỉ được ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản đối với các quyết định áp dụng BPKCTT như: Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định; giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tô chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm đình chỉ quyết định sa thải người lao động; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm; buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động; kê biên tài sản đang tranh chấp; cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm hàng hoá khác. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra ngay quyết định ủy thác thi hành án khi có căn cứ ủy thác.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác phải ra quyết định thi hành án và phân công chấp hành viên áp dụng ngay các biện pháp theo quy định tại Điều 130 LTHADS dé tổ chức thi hành. THI HANH QUYẾT ĐỊNH GIÁM DOC THÂM, TÁI THÂM 1. Đặc điểm của thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái tham Theo quy định tại Điều 283, Điều 305 BLTTDS, các bản 203 án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nếu có sai lầm, vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ án thì được xét lại theo thủ tục giám đốc thấm, nếu phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án thì được xét lại theo thủ tục tái thẳm. Nhu vậy, đối tượng của việc xét lại theo thủ tục giám đốc thâm và thủ tục tái thâm là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và trên thực tế trước khi bản án, quyết định này được xét lại theo thủ tục giám đốc thâm hoặc tái thâm có thé đã hoặc đang được thi hành.
Vì vậy, việc thi hành các quyết định giám đốc thâm, tái thâm có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, việc thi hành quyết định giám đốc thâm, tái thâm được thực hiện trên cơ sở kết hợp với việc thi hành các phần bản án, quyết định khác giải quyết vụ việc dân sự. Trước khi các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thâm, tái thâm thì các bản án, quyết định này có thể đang được đưa ra thi hành, đã thi hành một phan hoặc thi hành xong. Khi xét xử giám đốc thẩm, tái thâm, hội đồng giám đốc thâm, tái thâm có thé có các quyết định giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị; giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật đã bị huỷ hoặc bị sửa; huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thấm lại hoặc huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ việc giải quyết vụ án. Vi vậy, dé thi hành quyết định giám đốc thâm, tái thâm, cơ quan thi hành án dân sự không chỉ thi hành theo nội dung quyết định giám đốc thâm, tái thâm mà còn thi hành theo nội 204 dung của bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định được hội đồng giám đốc thẩm, tái thâm giữ nguyên.
Thi hai, việc thi hành quyết định giám đốc thâm, tái thâm phải kết hợp với việc xử lí hậu quả của việc đã thi hành được một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định bị kháng nghị. Trước khi có quyết định giám đốc thâm, tái thâm đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và bản án, quyết định này có thé đã thi hành được một phan hoặc thi hành xong. Vi vậy, để bảo đảm sự thống nhất khi thi hành quyết định giám đốc thâm, tái thâm cơ quan thi hành án dân sự phải căn cứ vào nội dung của quyết định giám đốc thâm, tái thâm và kết quả của quá trình thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trước đó. Nếu khi xét xử giám đốc thâm, tái thâm, hội đồng giám đốc thâm, tái thẩm không chấp nhận kháng nghị và tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục việc thi hành án theo nội dung bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.
Nếu quyết định giám đốc thâm, tái thâm tuyên huỷ bỏ toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị thì việc thi hành án sẽ được thực hiện theo kết quả giải quyết lại vụ án sau đó. Trong trường hợp quyết định giám đốc thâm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật đã bị huỷ hoặc bị sửa thì cơ quan thi hành án dân sự cần căn cứ vào sự khác nhau giữa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị được thi hành trước đây với quyết định giám đốc thâm và tình hình thực tế việc thi hành bản án, quyết định trước khi bi kháng nghị dé có thé có biện pháp thi hành phù hợp nhằm bảo đảm việc thi hành án đồng 205 thời phải khắc phục hậu quả của việc thi hành bản án, quyết định hoặc phan bản án, quyết định trước đó đã bị thay đổi hoặc bị huỷ bỏ bởi quyết định giám đốc thâm, tái thâm. Thủ tục thi hành quyết định giám đốc thâm, tái thẩm a. Thủ tục thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Quyết định giám đốc thâm, tái thẩm tuyên giữ nguyên ban án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị có đặc điểm là không làm thay đổi nội dung của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.
Theo quy định tại Điều 134 LTHADS, trường hợp quyết định giám đốc thâm, tái thâm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà bản án, quyết định đó chưa thi hành hoặc đã thi hành được một phan thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án. Trường hợp bản án, quyết định đó đã thi hành xong thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho toà án đã ra quyết định giám đốc thâm, tái thâm, viện kiểm sát cùng cấp và đương sự.