CHƯƠNG I KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG NGUYÊN TÁC CƠ BẢN CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM I. CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VE NHUNG HÌNH THÁI HON NHÂN VÀ GIA DINH TRONG LICH SỬ Hôn nhân và gia đình - đó là những hiện tượng xã hội mà luôn luôn được các nhà triết học, xã hội học, sử học, luật học. Hôn nhân là cơ sở của gia đình, còn gia đình là tế bào của xã hội mà trong đó kết hợp chặt chẽ, hài hoà lợi ích của mỗi công dân, Nhà nước và xã hội.Ăngghen đã chứng minh một cách khoa học rằng hôn nhân và gia đình là những phạm trù phát triển theo lich sử, rang giữa chế độ kinh tế-xã hội và tổ chức gia đình có mối liên quan trực tiếp và chặt chẽ. Trong tác pham "Nguôn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước" (1884) Ph.Angghen đã nhân mạnh rằng chế độ gia đình trong xã hội phụ thuộc vào quan hệ sở hữu thống trị trong xã hội đó và bước chuyền từ hình thái gia đình này lên một hình thái gia đình khác cao hơn suy cho cùng được quyết định bởi những thay đổi trong điều kiện vật chất của đời sống xã hội.
Băng tác pham đó, Ph.Angghen đã làm thay đổi quan điểm trước đây về các hình thái hôn nhân và gia đình trong lịch sử. Quan điểm trước chủ nghĩa Mác cho rằng, hình thái cổ xưa nhất của cuộc sống xã hội loài người là gia đình; sau gia 5 đình là bộ lạc và cuối cùng là bộ lạc chuyên sang Nhà nước.Ăngghen là người đầu tiên chứng minh răng nhận định trên là hoàn toàn sai lầm, là nó xuyên tạc thực tế lịch sử của xã hội loài người. Ông đã phân tích nguồn gốc hôn nhân và gia đình từ giai đoạn thấp nhất của xã hội loài người, khi con người mới chỉ bắt đầu tách ra khỏi thiên nhiên, chưa sản xuất ra được một thứ nào cả, chỉ hái lượm những thức ăn sẵn có của thiên nhiên và vì thế mà khi đó còn chưa có sự phân công lao động xã hội. Đặc điểm của giai đoạn này của xã hội loài người là quan hệ tính giao bừa bãi - xã hội lúc đó chia ra thành các bộ lạc và quan hệ tính giao của con người ở đây không có sự chọn lọc ngôi thứ thích thuộc.
Lúc này không có hôn nhân, không có gia đình và bộ lạc như là một don vi duy nhất không tách rời của xã hội nguyên thủy. Theo sự tính toán của các nhà sử học, thời kỳ đó kéo dai đến hàng trăm nghìn năm hoặc có thể hàng triệu năm. Từ trạng thái nguyên thủy đó trong bước tiếp theo của lịch sử phát triển những hình thái hôn nhân và gia đình đầu tiên, hôn nhân và gia đình không như bây giờ chúng ta thấy mà là chế độ quan hôn. Chế độ quan hôn có hai thời kỳ phát triển chính tương ứng với hai hình thái hôn nhân (gia đình).
Gia đình huyết tộc Đó là giai đoạn đầu tiên của quá trình phát triển các hình thái hôn nhân và gia đình. Quan hệ hôn nhân xây dựng theo thế hệ, mỗi thế hệ (thế hệ cha mẹ, thế hệ các con) tạo thành những nhóm hôn nhân nhất định mà chỉ trong giới hạn đó mới cho phép có quan hệ tính giao. Quan hệ đó bị cắm giữa những người có quan hệ dòng máu trực hệ, cấm giữa cha me và các con. Thực thé lúc bay giờ anh chị em đồng thời là vợ, là chồng của nhau.
Gia đình Pu-na-lu-an Đây là bước phát triển mới, tiến bộ hơn so với gia đình huyết tộc. Thực tế của gia đình này là ở chỗ diện quan hệ tính giao hạn chế hơn nữa; không những cắm giữa thế hệ cha mẹ với thé hệ các con mà còn cấm giữa anh em trai với chị em gái trong cùng một gia đình. Như vậy, lúc bấy giờ, một nhóm các chi em gái là vợ của một nhóm các anh em trai, trừ các anh em trai của họ sống trong cùng một gia đình. Các ông chồng này gọi nhau là pu-na-lu-an (theo tiếng của người da đỏ ở mỹ có nghĩa là cùng hội cùng thuyền hay người bạn đường).
Như vậy, việc chung chạ vợ chồng trong một nhóm hôn nhân ở gia đình Pu-na-lu-an vẫn còn. Thế nhưng trong nhóm đó đã loại trừ anh em trai của vợ và chị em gái của chồng. Các ông chồng không sống chung với các bà vợ. Họ sống và làm việc trong gia đình mẹ đẻ của mình và không có một quyền gì đối với tài san trong gia đình của các bà vợ.
Trong chế độ quan hôn, rõ ràng là không thé xác định được ai là cha của đứa trẻ mà chỉ biết mẹ nó thôi. Vì thế trẻ con sinh ra chỉ theo dòng họ mẹ mà không theo dòng họ cha. Các bà mẹ gọi tất cả các trẻ em (con của các chị em gái) là con của mình và gia đình đó là "gia đình không có cha". Nêu một người phụ nữ chết thì tài sản của bà ta thừa kế lại cho các con, mẹ, anh em trai và chị em gái.
Tất cả những người này hợp lại thành cái mà chúng ta gọi là thị tộc. 7 Việc tồn tại hình thức quần hôn rõ ràng không thể xem như một hiện tượng ngẫu nhiên trong lịch sử, mà nó có một cơ sở kinh tế vững vàng trong hiện thực xã hội. Chúng ta biết rằng, cơ sở kinh tế của chế độ quần hôn là kinh tế gia đình tập thé. Trong nên kinh tế ấy người phụ nữ chiếm một địa vị quan trọng quyết định bởi vì lúc đó người đàn ông chỉ săn bắn, hái lượm và thu thập được rat it.
Người phụ nữ là lao động chính trong nền kinh tế tương đối ôn định xung quanh khu vực gia đình, có một vi trí vinh dự trong thi tộc: Là thành viên của người đứng đầu thị tộc, địa vị của người phụ nữ trong thị tộc lúc đó là độc lập và vững vàng, tính chất của thị tộc lúc này là "thi toc mẫu quyên". Hôn nhân (gia đình) đối ngẫu Bước phát triển tiếp theo của gia đình là ở chỗ trong một nhóm, những người có thé có quan hệ hôn nhân ngày càng thu hẹp lại, từ chỗ anh chị em trai và chị em gái, bây giời loại trừ cả anh em, chị em họ hàng ở hàng chú bác, cháu chắt và những người ho hàng xa khác. Và như vậy thì cuỗi cùng trong nhóm đó không thé có hình thức quan hôn được. Vì thé gia đình Pu-na-lu-an phải chuyên thành gia đình đối ngẫu, nghĩa là chỉ còn lại từng cặp vợ chồng.
Mặt khác, với sự phát triển của xã hội, người phụ nữ muốn được thuộc về chỉ một người đàn ông và theo Ph.Ăngghen, gia đình đối ngẫu xuất hiện, trước hết là do công của người đàn bà, chứ không phải là đàn ông. Tuy vậy, hôn nhân đối ngẫu trong điều kiện chế độ thị tộc không thê vững bền được, nó dé bị người vợ hoặc người chồng phá vỡ, con cái do hôn nhân đó sinh ra vẫn thuộc về 8 thị tộc mẹ như trước. Sở dĩ như vậy là do kinh tế vẫn thuộc về thị tộc. Gia đình đối ngẫu vẫn chưa phải là một đơn vị kinh tế.
Nó chỉ là một đơn vị hôn phối, một cặp hôn nhân, còn thị tộc vẫn là một đơn vị kinh tế. Hôn nhân một vợ một chồng và các biến thể của nó Hôn nhân đối ngẫu không phải là hôn nhân một vợ một chồng. Hôn nhân một vợ một chồng là hôn nhân mới trong lịch sử đặc trưng cho một chế độ xã hội khác.Angghen đã chỉ rõ, bước chuyền từ hôn nhân đối ngẫu sang hôn nhân một vợ một chồng khớp với giai đoạn mà mức phân hoá lao động cao nhất, khi mà hiệu suất lao động phát triển đến mức có của cải thừa. Ông đã phân tích và đi đến kết luận rang dan dần những của cải thừa bị gia đình đối ngẫu chiếm lấy.
Nhờ việc chiếm hữu ấy mà gia đình đối ngẫu sau đó đã có những thay đổi căn bản. Nó bắt đầu đối mình với thị tộc, như một đơn vị kinh tế độc lập của thị tộc, tùy ý sử dụng tài sản của mình. Thực tế, tài sản đó không thuộc về gia đình và các thành viên gia đình một cách bình đăng mà nó chỉ thuộc về người đứng đầu gia đình, tức là người chồng. Sự việc ấy diễn ra do sự phân công lao động xã hội.
Chong là lao động chính với hiệu suất lao động cao hơn và có của cải thừa, còn người vợ vẫn làm việc nhà như cũ, hiệu suất lao động thấp hơn và không có của cải dư thừa. Chính từ đây là cội nguồn của sự bất bình dang đầu tiên trong xã hội: ".Của cải dan dan tăng thêm thì một mặt nó làm cho người chong có một địa vi quan trong hon người vợ, va mặt khác, của cải đó khiến cho người chong nảy ra xu hướng lợi dung dia vị vững vàng hon ấy dé thay đổi luật lệ thừa kế cổ truyền 7 dang làm lợi cho con cdi mình. Vi vậy, can phải xoá bỏ chế độ huyết tộc theo mau quyên đi đã và chế độ đó đã bị xoá bỏ, huyết tộc theo họ cha và quyên kế thừa cha được xác lập". Do kết quả của sự kiện trên, gia đình đối ngẫu đã trở thành một đơn vị kinh tế độc lập trong thị tộc, không còn phụ thuộc vào thị tộc va cuối cùng làm tan rã thị tộc.
Vào thời kỳ này xuất hiện một hình thức trung gian là gia đình gia trưởng. Nét đặc trưng của gia đình này là "sự /ổ chức một số người tự do và không tự do thành gia đình dưới quyên lực gia trưởng của người chủ gia đình. Hình thức gia đình đó đánh dấu bước chuyển từ chế độ hôn nhân đối ngẫu sang chế độ một vợ một chong". Từ đó dẫn đến kết quả mà Ph.Angghen gọi là một cuộc cách mạng xã hội triệt để nhất - chuyên từ chế độ thị tộc không có giai cấp sang chế độ tư hữu - có giai cấp.
Cuộc cách mạng đó đã bắt đầu không phải nơi nào khác mà ngay trong gia đình. Chính trong gia đình cá thể đã xuất hiện sự bat bình dang giai cấp đầu tiên giữa các giới.Ăngghen đã kết luận rằng chế độ một vợ một chồng "qyết không phải là kết quả giữa tình yêu trai gái, nó tuyệt nhiên không dinh dáng gì đến thứ tình yêu này, vì như trước kia các cuộc hôn nhân van là những cuộc hôn nhán có tính lợi hại.