CHƯƠNG I: TONG QUAN CÁC QUY ĐỊNH VE DUONG CƠ SỞ THEO CONG UOC LUAT BIEN 1982 1. Khái niệm đường cơ sở 1.1 Định nghĩa Từ những năm cuối thế kỷ XIX, thuật ngữ pháp lý “đường cơ sở” đã mang một ý nghĩa quan trọng đối với các quốc gia ven biển trong việc hoạch định và tuyên bố các vùng biển thuộc chủ quyền (nội thủy và lãnh hải) và các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia (vùng tiếp giáp lãnh hãi, vùng đặc quyền kinh tế và thêm lục địa). Đường co sở là cách nói ngắn của từ “đường cơ sở dùng dé tính chiều rộng của lãnh hải”. Tuy nhiên, do sau này đường cơ sở là căn cứ để xác định ranh giới của tất cả các vùng biển còn lại nên người ta có xu hướng gọi tắt”.
Hiện nay, khi Công ước Luật bién1982 có hiệu lực được hơn 20 năm và được hầu hết các quốc gia trên thế giới tuân thủ thì định nghĩa về “đường cơ sở” vẫn chưa được đề cập tới một cách chính xác. Trong một số quy định của Công ước, định nghĩa đường cơ sở chỉ được lồng ghép ở các điều luật liên quan, theo đó tại Điều 3 Công ước Luật biển 1982 khi đề cập đến việc xác định chiều rộng của lãnh hải đã quy định: “Mọi quốc gia đều có quyên ấn định chiêu rộng lãnh hải của mình; chiều rộng này không vượt qua 12 hải lý ké từ đường cơ sở vạch ra theo đúng Công ước ”. Hay như: “Trừ khi có quy định trái ngược của Công ước, đường cơ sở thông thường dùng để tính chiều rộng của lãnh hải là ngắn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển, như được thể hiện trên các hải đô tỷ lệ lớn đã được quốc gia ven biển chính thức cong bố” *: và “O nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lôi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển, phương pháp đường cơ sở * Hoàng Ngọc Giao (2002), “Sô tay pháp lý cho người đi biển”, Nxb Chính trị Quốc gia, tr. * Điều 5 Công ước Luật biên 1982 thang noi liền các điểm thích hợp có thé được sử dung để kẻ đường cơ sở dùng dé tính chiều rộng lãnh hải "` Mặc dù Công ước không đưa ra một định nghĩa cụ thé nào về đường cơ sở nhưng qua nghiên cứu các điều luật có liên quan, chúng ta có thể rút ra định nghĩa bao quát về đường cơ sở như sau: Đường cơ sở là “cột mốc pháp lý” được vạch dựa vào ngắn nước thủy triều xuống thấp nhất dọc theo chiều hướng chung của bờ biển hoặc là đường thang gãy khúc nối liền các mũi, các đỉnh, các đảo ven bờ dé các quốc gia xác định chiều rộng các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia.
Đường cơ sở chính là ranh giới phía trọng của lãnh hải và ranh giới phía ngoài của nội thủy”. Do sự khác nhau về địa hình, lãnh thổ của các quốc gia mà việc xây dựng các quy định về đường cơ sở cũng mang những quy tắc rất riêng biệt, vậy nên định nghĩa đường cơ sở không chỉ được xác định ở các quốc gia ven biển mà đường cơ sở còn được xác định ở các quốc gia quan đảo”. Theo cách hiểu phổ biên nhật, đường co sở quan đảo là đường cơ sở thăng nôi các diém ngoài cùng của các đảo và các bãi đá nổi xa nhất của quan đảo. Những quy định về ` A đường cơ sở của các quốc gia quần đảo được quy định cụ thể trong các điều luật của Công ước Luật biển 1982, chúng vừa kế thừa cách xác định đường cơ sở truyền thống và vừa có một số đặc thù riêng.
Việc quy định đường cơ sở của quốc gia quần đảo là căn cứ quan trong dé xác định chế độ pháp lý của vùng nước quần đảo nhằm điều hòa lợi ích của các quốc gia hữu quan, một mặt tàu thuyền nước ngoài vẫn được quyên qua lại không gây hại trong vùng nước quần đảo, mặt khác quốc gia quần đảo vẫn có vùng nội thủy của mình được xác lập phù hợp với quy định trong công ước quốc tế. ? Điều 7 Khoản 1 Công ước Luật biển 1982 * Ngô Hữu Phước (2005), “Những van dé pháp lý cơ bản về đường cơ sở trong Luật biển quốc tế và Pháp luật Việt Nam”, Khoa học pháp ly (05), tr. 7 Theo quy định của Điều 46 Công ước Luật biển 1982 thì quốc gia quan đảo là quốc gia bao gồm toàn bộ, một hay nhiều quần đảo.2 Lịch sử hình thành và phát triển các quy định về đường cơ sở trong Luật biển quốc tế 1.1 Hội nghị La Hay về luật bien Qua một số tài liệu đề cập đến lịch sử hình thành và phát triển các quy định về đường cơ sở trong Luật biển quốc tế, chúng ta có thé nhận thay Hiệp ước đầu tiên quy định về đường cơ sở là Hiệp ước Anh — Pháp 1893 về đánh cá. Tại Hiệp ước này, hai quốc gia Anh — Pháp đã thống nhất sử dụng ngắn nước thủy triều thấp nhất tạo thành đường cơ sở thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải.
Phương pháp nay liên quan nhiều tới sự thay đổi mực nước biển, tới mực 0 thủy triều trên các hải đồ. Mực 0 này rất khác nhau giữa các nước và ngay cả giữa các vùng của cùng một bờ biển quốc gia. Nếu nước Bi lấy trung bình ngắn nước thủy triều thấp nhất vào mùa xuân làm mực 0 hải đồ thì nước Pháp lại chọn ngắn nước thủy triều thấp nhất theo thiên văn làm mực hải đồ của Pháp. Do đó mực 0 của hai nước lệch nhau 30 cm, gây khó khăn cho việc hoạch định lãnh hải giữa hai nước.
Nước Mỹ quy định cùng một phương pháp xác định mực 0 hải đồ, nhưng các bang của Mỹ ở những vị trí khác nhau do đó mực 0 cũng không thé thống nhất." Phương pháp sử dụng ngắn nước thủy triều thấp nhất thời gian này mới chỉ được một số nước biết qua Hiệp ước song phương của Anh — Pháp, mãi cho đến Hội nghị pháp điển hóa luật quốc tế La Haye 1930 chúng mới được đông đảo các quốc gia trong cộng đồng quốc tế ghi nhận. Hội nghị đã chính thức được tiến hành họp tại La Hay từ ngày 13/3/1930 đến ngày 12/4/1930 với 8 phiên họp toàn thé, tập trung bàn cãi hai van dé chủ yếu là bề rộng lãnh hải và vùng tiếp giáp. Do có quá nhiều bất đồng giữa các nhóm nước về các vấn đề này nên đến phiên họp thứ 8 (ngày 12/4/1930) vẫn ? Nguyễn Hồng Thao, Nguyễn Thị Như Mai (2013), “Luật biển quốc tế và luật biển Việt Nam”, Dự án đại sự ký biên Đông, tại địa chi: https://daisukybiendong.com/2015/04/sc3al ch-lue | baadt- biel bb83n-vie1bb87t-nam-vc3a0-lue | baadt-bie ] bb83n-que Ibb9 Ic-te Ibabf.pdf, ngày truy cập 11/6/2016. không thé đồng nhất xây dựng một quy định chung mang tính quốc tế về van đề nêu trên.
Tuy nhiên một thành công lớn trong Hội nghị được ghi nhận mãi về sau này được thé hiện trong Điều 5 Công ước Giơnevơ năm 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp. Nó có ưu điểm phan ánh đúng đường bờ biển của các nước và hạn chế bớt sự mở rộng các vùng biển thuộc quyền tài pháp quốc gia. Điều 5 Công ước Luật biển năm 1982 vẫn duy trì phương pháp sử dụng ngắn nước thủy triều thấp nhất. “Tzừ khi có quy định trái ngược của Công ước, đường cơ sở thông thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải là ngắn nước triéu thấp nhất dọc theo bờ biển, như được thể hiện trên các hải dé tỷ lệ lớn đã được quốc gia ven biển chính thức công nhận ”#.
Đối với các đảo cấu tạo bằng san hô hoặc các đảo có đá ngầm ven bờ bao quanh, phương pháp đường cơ sở thông thường cũng được áp dụng. Tuy nhiên phương pháp này rất khó áp dụng đối với các bờ biển khúc khuyu, phức tap.2 Hội nghị Liên hợp quốc về Luật biển lần thứ nhất Sau Hội nghị La Hay 1930 các quy định về việc xác định đường cơ sở theo ngắn thủy triều thấp nhất đồng loạt được các nước đưa vào áp dụng. Tuy nhiên, năm 1951 Phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế Liên hợp quốc trong vụ Ngư trường Anh — Na Uy đã đưa ra một phương pháp mới. Tòa tuyên bố: “Người ta không thé khang khăng biểu thị đường ngắn nước thúy triéu thấp nhất như một quy tắc bắt buộc chạy theo bờ biển tại tất cả các chỗ uốn gập của nó.
Người ta cũng không thể biểu thị như các ngoại lệ của quy tắc này, các vi phạm nhiêu đến nỗi chúng goi lên các map mô của một bờ biển cũng gỗ ghế; quy tắc sẽ mat di trước các ngoại lệ. Toàn bộ một đường bờ biển như vậy doi hỏi phải áp dung một phương pháp khác: đó là đường cơ sở cách đường hình thé của bờ biển một khoảng cách hợp ly” (Tuyên tập các phán quyết của * Điều 6 Công ước Luật biển 1982 Tòa DC, 1951, tr. Tòa công nhận việc phân định của Na Uy dựa trên kỹ thuật đường cơ sở thăng “không trái với luật pháp quốc tế `. Các nguyên tắc áp dụng đường cơ sở thắng năm 1935 của Na Uy trờ thành các tiêu chuẩn mới của luật quốc tế, thé hiện trong Công ước Giơnevơ năm 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp, theo đó: Khoản 1 và 2 Điều 4 Công ước Giơnevơ 1958 quy định: “(1) Ở nơi nào có bờ biển bị khoét sâu và chia cắt hoặc néu CÓ một chuỗi các đảo nằm sát và chạy doc theo ba bién, phuong pháp đường co sở thang nối các điểm thích hop có thé sử dung dé xác định đường cơ sở dùng dé tính chiếu rộng lãnh hải.(2) Đường cơ sở thẳng không được đi chệch hình dang chung của bờ biển đến mức có thể nhận rõ, va những vùng biển bên trong các đường cơ sở phải gắn chặt với đất liền đủ để được theo chế độ nội thủy”.3 Hội nghị Liên hợp quốc về Luật biến lần thứ hai Từ Hội nghị Liên hợp quốc về Luật biển lần thứ nhất, các quốc gia đã dé nghị với Đại hội đồng Liên hợp quốc (trong phiên họp thứ 13) xét việc triệu tập tiếp hội nghị quốc tế lần thứ hai về luật biển.
Ngày 10/12/1958 Đại hội đồng Liên hợp quốc đã ra nghị quyết triệu tập hội nghị quốc tế lần thứ hai về luật biển nhằm “xét một lần nữa vẫn đề chiều rộng của lãnh hải và vẫn đề giới hạn của các vùng đánh cá”. Hội nghị đã tiến hành họp chính thức từ ngày 21/3/1960 đến ngày 13/4/1960 với 28 phiên họp toàn thé.