mở đầu cho sự bành trướng của Trung Quốc trên quan đảo Hoàng Sa. Đến tháng 1/1974 một hạm đội gồm 8 tàu chiến Trung Quốc mở cuộc tấn công chống các tàu Nam Việt Nam, sau một cuộc hải chiến ngắn và đữ dội, quân Trung Quốc đã chiếm đóng nốt phần phía Tây của quần đảo Hoàng Sa và thực hiện việc quản lý bất hợp pháp Hoàng sa từ đó đến nay. Theo quy định của luật pháp quốc tế, các quốc gia không được tuyên bố chủ quyền, quyền chủ quyền của mình đối với các khu vực lãnh thé vẫn còn là đối tượng của các vụ tranh chấp chưa được giải quyết; mặt khác, với nhiều chứng cứ có tính chất lịch sử và pháp lý được đưa ra, Việt Nam có cơ sở để khăng định và bảo vệ chủ quyền của mình tại Hoàng Sa. Trang| 255 Hình 3: Hệ thống đường cơ sở quanhquan đảo Hoàng Sa trong Tuyên bé năm 1996 của Trung Quốc?5 Quan đảo Diéu Ngư (Senkaku) hiện nay vẫn là vùng lãnh thổ tranh chấp giữa Trung Quốc và Nhật Bản.
Nhật Bản nói rằng quần đảo Senkaku (Điều Ngư) là do một người Nhật tên là Koga Tatshuhiro phát hiện ra vào năm 1870 và được sát nhập vào lãnh thô Nhật Bản từ năm 1895 theo Hiệp ước Shimonoseki được ký kết giữa triều đình nhà Thanh và Nhật Bản sau khi chiến tranh Trung Quốc — Nhật Bản lần thứ nhất kết thúc, theo đó, triều đình nha Thanh nhượng lại cho Nhật Bản đảo Đài Loan và các đảo phụ cận, trong đó có đảo Senkaku. Còn Trung Quốc thì khẳng định rằng họ đã phát hiện và quản lý quần đảo này từ thé ky 14, diéu nay cũng được Nhật Ban công nhận cho đến năm 1895 khi xảy ra chiến tranh Giáp Ngọ giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Năm 1945, Nhật Ban thất bại trong Chiến tranh thé giới lần thứ hai, đảo Dai Loan và nhóm đảo phụ cận được trả lại cho Trung Quốc, Tuy nhiên Senkaku (Điều Ngư) không nằm trong vùng đất mà Nhật Bản từ bỏ theo Điều 2 Hiệp ước hòa bình San Francisco năm 1951, mà thuộc địa phận Okinawa nam dưới quyền kiểm soát của Hoa Kỳ, do đó Nhật Bản trao cho Hoa Kỳ quản lý quần đảo này. Sau khi có Hiệp ước Okinawa giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản năm 1972, Hoa Kỳ trao trả 26 Nguồn: United States Department of State, Bureau of Oceans and International Environmental and Scientific Affairs, Limits in the Seas, No.117: Straight Baseline Claim: China Trang| 256 chủ quyền quan đảo Senkaku (Diéu Ngư) cho Nhật Bản.
Việc này gây lên làn sóng phản đối của cộng đồng người Hoa ở khắp nơi. Phía Trung Quốc cho rằng quần đảo này phải được trả lại cho Trung Quốc - điều mà lẽ ra phải thực hiện từ ngay sau Chiến tranh thé giới lần thứ hai. Dé thiết lập quan hệ ngoại giao (1972) và đạt được Hiệp ước hòa bình giữa hai nước (1978), chính phủ Trung Quốc và Nhật Bản đã đồng ý gác lại tranh chấp sang một bên và sẽ giải quyết khi có điều kiện. Tình hình vừa tạm 6n thì đến năm 1979, Nhật Bản xây dựng sân bay trực thăng dã chiến trên quần đảo này và đã bị Trung Quốc và Dai Loan lên tiếng phản đối.
Ngày 25/2/1992, Trung Quốc thông qua luật lãnh hải và biển đảo, nhân việc này đưa luôn Diéu Ngư vào vùng chủ quyền của mình. Tất nhiên, Nhật Bản không bỏ qua hành động đó và cũng ra tuyên bố phản đối Trung Quốc. Sau đó, trong chuyến thăm Hồng Kông cuối tháng 8/1996, Ngoại trưởng Nhật Bản Ukeda Yukihiko đã đưa ra Tuyên bố về chủ quyền với Senkaku (Điều Ngư) đồng thời tăng cường các tàu tuần tra, tuần tiểu xung quanh vùng biển của Senkaku (Điều Ngư). Từ đó cho đến nay, Trung Quốc và Nhật Bản vẫn luôn đưa ra các chứng cứ lịch sử và pháp lý cũng như thực hiện các hoạt động thực tiễn nhăm chứng minh chủ hủ quyên của mình đối với quần đảo Senkaku (Diéu Ngư).
: i Na ¥ Chinese Claimed Straight Baseline for, bo - L Diaoyu Dao and Its Affillated Islands from Statement of September 10, 2012 CHINA re rf + Swaight baseane paints #ế. Straight baseine : es ==- Hypothelical median line PS on 2° EAST CHINA 2. Es SEA FOR ILLUSTRATIVE PURPOSES a ar an \ ee „ Hồ an ` bs B : X ‘.— thsune TP ewes Hoan pei wo: |. | aon Chiwsi Yu + Bayo wc = Due De Ne ¥, ⁄ óc —Ì .FaYe px Nivndao ep T———__ Nan Xiaedae tm ni ° zt Ed 1 =i den Hình 4: Bản đồ đường cơ sở quanh quan đảo Điều Ngư (Senkaku) do Trang| 257 Trung Quốc xác định ?7 - _ Thứ hai: không kể đến vấn dé quan đảo Hoàng Sa hay quan đảo Điều Ngư (Senkaku) có thuộc chủ quyền của Trung Quốc hay không, riêng về cách thức xác định đường cơ sở cho hai quan đảo này đã có sự bất cập se với UNCLOS 1982.
Đường cơ sở quần đảo là khái niệm mới được ghi nhận tại Điều 47 của UNCLOS 1982. Theo đó, quốc gia quần đảo?Š có thể vạch các đường cơ sở thang của quần đảo?” bang cách nối các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất thành đường liên tiếp gãy khúc sao cho thỏa mãn những yêu cầu sau: (i) tuyến các đường cơ sở quần đảo phải bao lấy các đảo chủ yếu; (ii) tuyến các đường cơ sở này phải xác lập khu vực mà tỉ lệ điện tích nước so với đất, kể cả vành đai san hô, phải dao động trong biên độ 1/1 cho đến 9/1; (ii1) chiều dai các đoạn đường cơ sở này không được vượt qua 100 hải lí; (iv) tuyến các đường cơ sở này không được tách xa rõ rệt đường bao quanh chung của quần đảo; (v) các đường cơ sở này không được kéo đến hay xuất phát từ bãi cạn lúc nỗi lúc chìm, trừ khi tai đó có xây dựng đèn biển hoặc công trình tương tự thường xuyên nhô lên khỏi mặt nước hoặc trừ trường hợp toàn bộ hay một phan bãi can ở cách đảo gần nhất khoảng cách không vượt quá chiều rộng lãnh hải; (vi) hương pháp vạch đường cơ sở này không được làm cho lãnh hai quốc gia khác bị tách rời với biển cả hay với vùng đặc quyền kinh tế?9, Như vậy, nếu xét theo các tiêu chuẩn này thì đường cơ sở bao quanh đảo Điếu Ngư và đá Xích Vỹ đều không đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ nước và tỷ lệ đất, theo đó, tỷ lệ này được xác định bởi 3 điểm cơ sở tại Đảo Diéu Ngư (Uotsuri Shima), Đảo Nan Xiao (Minami Kojima) và Huangwei Yu (Kuba Shima) là 27:1:13!. Ngoài ra, liên quan đến quy chế pháp lý của đảo?2, theo quy ? Tham khảo http:/www.orginsights/volume/17/issue/7/chima%E2%80%99s-straight-baseline-claim- senkaku-diaoyu-islands 28 Điều 46 UNCLOS 1982: Quốc gia quan đảo là một quốc gia hoàn toàn được cấu thành bởi một hay nhiều quan đảo và cỏ khi bởi một sé hòn đảo khác Điều 46 UNCLOS 1982: quan đảo được hiểu là một tổng thé các đảo, kế cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và các thành phân tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau đến mức tạo thành một thé thông nhất về địa ly, chính trị, kinh tê, hay được coi như thé về mat lịch sử. 30 Xem Điều 47 UNCLOS 1982 a Xem thêm: www.org/insights/volume/17/issue/7/china’s-straight-baseline-claim-senkaku-diaovu-islands “ Điều 121 UNCLOS 1982: Chế độ các đảo: “J.
Mét đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triéu lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước. Trang| 258 định tại Điều 121 UNCLOS 1982, với những đảo nhỏ và không có người ở, hoặc không thé thiết lập một đời sống kinh tế riêng như đảo Điều Ngư (Uotsuri Shima) thì đảo này sẽ chỉ được hưởng một vùng lãnh hải rộng 12 hải lý chứ không thể có đầy đủ các vùng biển thuộc chủ quyền hay quyền chủ quyền khác. Tuy nhiên, cả Trung Quốc và Nhật Bản đều tuyên bố có vùng đặc quyên kinh tế và thêm lục địa cho quần dao Điếu Ngư (do quan đảo này nằm trong phạm vi 200 hải lý tính từ bờ biển gần nhất của Trung Quốc và Nhật Bản), do đó tạo ra một khu vực chồng lấn về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai quốc gia này. Điều này là chưa hợp lý vi đảo Điều Ngư thực chất không có các vùng biển này.
PS ARAMEERARTMESRSRSSE tr Uk NTHÀ ANE via mir 1S ta ITN ` wine 8 Hình 5: Bản đồ đường cơ sở quan đảo Điều Ngư (Senkaku) Trung Quốc gửi Liên hợp quốc ngày 21/9/2012 ?? 1. Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thêm lục địa tủa hòn dao được hoạch định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thé dat liền khác. Những hòn đào đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh lễ riêng, thì không 26 vùng đặc quyền kinh tế và thêm lục dia”. b Nguồn: 1ttp://www.org/depts/los/LEGISLATIONANDTREATIES/PDFFILES/MAPS/chn_mzn89_2012.jpg Trang| 259 Điều đáng lưu ý là, thuật ngữ “đường co sở quan đảo”, theo quy định của ƯNCLOS 1982, chỉ được dùng để xác định đường cơ sở cho các quốc gia quần đảo chứ không áp dụng đối với các quốc gia lục địa như Trung Quốc.
Ngoài ra, việc xác định đường cơ sở quần đảo cho Hoàng Sa cũng khá khó hiểu vì theo quy định của UNCLOS 1982, Hoàng Sa trong biển Đông không được xác định là “quần đảo”đúng nghĩa, cách sử dụng thuật ngữ “quần đảo” ở đây chủ yếu dùng dé chỉ tập hợp về số lượng của các đảo, do đó không thể áp dụng Điều 47 của UNCLOS 1982 trong việc xác định đường cơ sở cho Hoàng Sa.Có thể thấy rang, việc Trung Quốc đưa ra tuyên bố về hệ thống đường cơ sở vẽ quanh quan đảo Hoàng Sa và quần đảo Điều Ngư (Senkaku) là hoàn toàn không phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế, cụ thể là UNCLOS 1982. Bên cạnh đó, hệ thống đường cơ sở lục địa mà Trung Quốc tuyên bố vẫn còn tồn tại khá nhiều điểm bất hợp lý. Chính điều này đã làm cho việc xác định vi tri của các vùng biển khác của Trung Quốc vẫn còn nhiều vướng mắc. Là một thành viên của UNCLOS 1982, Trung Quốc cũng như các quốc gia khác cần có sir tuân thủ triét dé và nghiêm túc các quy định của UNCLOS 1982, trong đó có những quy định liên quan trực tiếp đến cách xác định đường cơ sở và các vùng biên.
CÁCH XÁC ĐỊNH VÀ QUY CHE PHÁP LÝ CAC VUNG BIEN THUỘC CHỦ QUYEN, QUYEN CHỦ QUYEN VÀ QUYEN TÀI PHÁN CỦA TRUNG QUỐC 1. Vùng Lãnh hải và Tiếp giáp lãnh hải 1.