CHƯƠNG 1: KHÁI QUAT VE QUA TRÌNH MO RỘNG LÃNH THO CUA TRUNG QUOC 1.1 Co sở lich sử của quá trình mở rộng lãnh thé của Trung Quốc. Xét tới cơ sở lịch sử của quá trình mở rộng lãnh thô Trung Quốc thì Chủ nghĩa banh trướng lãnh thô chính là một nhân tô cốt lõi chi phối hệ tư tưởng va chính sách của các vương triều Đại Hán và tiếp tục chi phối tới các chính sách đối ngoại của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày nay. Thuật ngữ “Chủ nghĩa bành trướng” trong tiếng anh là “Expansionism”. Theo từ điển tiếng Anh, từ “Expansionism” được định nghĩa là: “the belief that a country should grow larger: a policy of increasing a country's size by expanding its territory” (tam dịch là: Sự tin tưởng rằng một quốc gia nên phát triển mở rộng: một chính sách làm tăng quy mô của quốc gia bằng cách mở rộng lãnh thổ của mình).
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ bành trướng và xâm lược. Theo tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc 1974 về định nghĩa "xâm lược" có ghi: “Xâm lược là việc sử dụng các lực lượng vũ trang của một nhà nước chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của một quốc gia khác, hoặc bang bat ctr cach nao khác không phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc, như được nêu trong định nghĩa này””. Còn chủ nghĩa banh trướng hay bành trướng là một chính sách của một quốc gia nhăm mở rộng lãnh thổ, quyền lực, lợi ích. Trong khi xâm lược là hành động đưa lực lượng vũ trang vào lãnh thổ nước khác thì bành trướng là một chính sách.
Bành trướng có nhiều phương diện chính tri, văn hóa, kinh tẾ, lãnh thổ và chính sách này được triển khai qua nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, banh trướng có thé đồng nghĩa với xâm lược khi nó đạt hình thái cực ? www.com/dictionary/expansionism> [4/4/2015]. United Nations, “UN Documents Gathering a body of global agreements. 14 đoan nhất của bành trướng lãnh thé là đưa quân vào chiếm giữ lãnh thé quốc gia khác.
Như vậy, có thé nêu ra một khái niệm về chủ nghĩa bành trướng như sau: Chủ nghĩa bành trướng là một chính sách hay một tư tưởng của một quốc gia mong muốn mở rộng quyền lực, lợi ích của mình về mặt lãnh thô, kinh tế, chính trị, văn hóa.Cũng có thể đưa ra một khái niệm: bành trướng lãnh thổ là một chính sách, tư tưởng hoặc hành động đe dọa hay sử dụng vũ lực dé chiếm một phần lãnh thô của một quốc gia khác. Cụ thế bành trướng lãnh thổ với Trung Quốc sẽ bao gồm việc đưa ra các tuyên bố lãnh thổ mới, sử dụng vũ lực dé theo đuôi các tuyên bố này tại các vùng lãnh thé mới hoặc tại các tranh chấp lãnh thé hiện có. Nền văn minh cé đại của Trung Quốc xuất hiện sớm nhất và ôn định lâu dài trên lưu vực sông Hoàng Hà. Vào thời khuyết sử, các bộ tộc, bộ lạc và liên minh bộ lạc trong quá trình gặp gỡ, đồng ton tại, tiêu diệt và thôn tính lẫn nhau, thì chưa thé xác định lãnh thé cụ thé được.
Trên cơ sở cư trú hoàn toàn tự nhiên thì lãnh thé của nền văn minh Trung Quốc khởi thủy là lưu vực sông Hoàng Hà. Trải qua các thời nhà Hạ, nhà Thương, lãnh thổ quốc gia cô đại Trung Quốc vẫn chỉ gói gon trong lưu vực sông Hoang Hà. Toi thời kỳ nhà Tây Chu và thời Xuân Thu chiến quốc, bờ cõi lãnh thé Trung Quốc đã mở rộng thêm tới lưu vực sông Trường Giang. Từ đó trở di, những triều đại Tần, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh- mỗi triều đại là một đế quốc hùng mạnh, đóng vai trò to lớn trong việc mở rộng bờ cõi lãnh thổ của Trung Quốc được như hiện nay.
Có thé chia 2000 năm lich sử của Trung Quốc ra làm 7 giai đoạn lớn dé có thé dé hình dung thấy các giai đoạn bành trướng lãnh thé cụ thé qua các thời kỳ. Giai đoạn nhà T.an (năm 221-206 trước Công nguyên): Trong 15 năm ton tại ngắn ngủi, nha Tần đã dốc sức đem quân xâm chiếm đất đai. Về Phía Bắc, Tần Thủy Hoàng cho 30 vạn quân đánh người Hung Nô, cướp được cả khu vực phía Nam sông Hoàng Hà ( Ninh Hạ, Tây Viễn.) vốn đĩ trước đây không 15 thuộc đất của người Trung Quốc. Về phía Nam, Tần Thủy Hoàng cho đem 50 vạn quân đánh chiếm vùng Bách Việt rộng lớn ( các Tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Chiết Giang, Giang Tây, Hồ Nam, Quý Châu hiện nay) rồi lập cơ quan hành chính địa phương tại những khu vực này.
Giai đoạn nhà Hán ( năm 202 trước Công nguyên- năm 220 sau Công nguyên): Kéo dài 4 thế kỷ, nhà Hán được coi là một triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử Trung Quốc. Vương triều Hán với những đội quân viễn chinh khổng 16, liên tiếp mở những cuộc chiến tranh xâm lược, phía Bắc đánh Hung nô ( Mông Cổ hiện tại) làm lãnh thô đề chế Hung Nô này bị thu hẹp đi đáng kẻ. Phía tây đánh Tây Vực ( Tân Cương ngày nay), phía Đông đánh Triều Tiên, phía Nam đánh Việt Nam thành lập nên Giao Châu ( vùng Đông Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay). Kết quả, lãnh thổ Trung Hoa đã mở rộng với quy mô lớn.
Đặc biệt, tại giai đoạn nay, về phía Nam nhà Hán đã xâm chiếm tới Đèo Hải Vân của Việt Nam ngày nay. Giai đoạn nhà Đường ( năm 618 đến năm 907): vào thời nhà Đường, đặc biệt là thời Duong Thai Tông, Trung Hoa là một quốc gia phát triển phon thịnh và là một dé quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới. Các đời vua nhà Đường với quân số đông đã liên tiếp mở các cuộc tiến đánh, xâm lược các quốc gia lân bang như Đông Đột Quyết ( Mông Cổ ngày nay), Tây Đột Quyết ( gồm các nước Kazakhstan, Kyrgyzstan, Taijikistan ngày nay) và Cao Ly. Công cuộc banh trướng lãnh thé của nhà Đường đã mở rông diện tích lãnh thé Trung Quốc lên gấp rưỡi thời nhà Hán, và vươn tới những vùng lãnh thổ xa xôi, vượt xa biên giới lãnh thổ Trung Quốc hiện nay.
Về phía Bắc biên giới đã vươn tới Hồ Baikal của Nga ngày nay, Phía Đông tới Biển Aral, các nước Uzbekistan, Kyrgyzstan, Ta1jikistan, một nửa lãnh thé Kazakhstan và một phần Afghanistan đều thuộc Lãnh thô nha Đường. Phía Tây lãnh thổ đã vươn tới Triều Tiên, Hàn Quốc ngày nay. Phía Nam tới dãy núi Hoành Sơn của Việt Nam. 16 Giai đoạn nhà Nguyên ( năm 1271 đến năm 1368): Dé chế Mông Cổ sau khi xâm chiếm Trung Quốc đã thành lập ra nhà Nguyên, tuy là vương triều ngoại tộc nhưng những vị vua nhà Nguyên sau này đều bị Hán hóa và tự coi mình là hoàng dé Trung Hoa.
Nhà Nguyên với đội quân hùng mạnh đã mở các cuộc chinh phục, thảo phạt, tiễn hành các cuộc xâm lược. Tới năm 1294, lãnh thổ bao gồm vùng Siberi cua Nga, Mông Cổ, mở rộng tới toàn bộ bán đảo Triều Tiên tới biên Nhật Bản, phía Nam xâm lược Mién Điện. Giai đoạn nhà Minh (từ năm 1368 đến năm 1644): dưới triều Minh Thành Tổ, Trung Hoa là một dé quốc cường thịnh, bành trướng thé lực ra ngoài rất mạnh. Đáng chủ ý là tới thế kỷ này, những cuộc xâm lược, bành trướng thế lực của dé quốc Trung Hoa hướng trọng tâm xuống khu vực Đông Nam A.
Dé quốc Minh đã có những đoán thuyền biển hàng trăm chiếc lần lượt đi tới các Biển Đông, tới các vùng biển miền Trung Việt Nam và các vùng đảo ở ban đảo Đông Dương, bán đảo Mã Lai. Năm 1407, nhà Minh đem quân xâm lược nước Đại Ngu (miền Bắc và miền Trung Việt Nam ngày nay) và cai tri Đại Ngu trong vòng 20 năm tới năm 1428. Giai đoạn nhà Thanh (năm 1636 đến năm 1911): Nhà Thanh khởi thủy là dé quốc Mãn Chau, sau khi xâm lược va chinh phục Trung Quốc, nhà Thanh đã lần lượt mở rộng xâm chiếm Đài Loan (1683),Mông Cổ. Đến thời nhà Thanh, hình dạng lãnh thé và đường biên giới Trung Quốc cơ bản đã được định hình và gần giống với ngày nay.
M@ rộng lãnh thé của Trung Quốc từ năm 1949 đến năm 1991. Sự thành lập vào ngày 1-10-1949 cua Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức hình thành nên lãnh thổ Trung Quốc như hiện tại. Từ năm 1949 đến năm 1991 là giai đoạn chứng kiến nhiều tranh chấp lãnh thé và căng thăng day cao tới chiến tranh lãnh thổ giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giéng. 17 Với Liên Xô (Nga ngày nay): những tranh cãi về đường biên giới giữa Trung Quốc và Liên Xô bat đầu chính thức né ra từ mùa hè năm 1960.
Từ tháng 8 đến 9/1960 những người chăn cừu Trung Quốc gốc Kirghiz đưa gia súc vượt biên giới với Liên Xô ở cùng Buz-Aigyr và đèo Berta ở Kirghistan, chăn thả trên lãnh thé Liên Xô. Khi bị các lực lượng biên phòng Liên Xô chặn lại, yêu cầu họ rời lãnh thổ Liên Xô, họ đáp trả lại rằng họ hành động theo lệnh của lãnh đạo và họ đang làm việc trên lãnh thé Trung Quốc. Phía Trung Quốc khang định trên các phương tiện thông tin đại chúng rằng “ Mùa hè năm 1960, tại vùng đèo Buz- Aigyr thuộc Thiên Tân, Trung Quốc đã xảy ra sự cố, khi lính biên phòng Xô Viết bắt trói, đánh đập và xua đuổi những người chăn cừu Trung Quốc. Đây là sự cô đầu tiên trên đường biên giới từ khi nước Trung Hoa mới được thành lập”.
Xung quanh vấn đề trên, hai bên đã gửi cho nhau ba công hàm dài và hai tuyên bố miệng. Tranh cãi kéo đài tới tháng 10, khi những người chăn cừu Trung Quoc buộc phải rời khỏi vùng này về Trung Quoc do mùa lạnh đên. Sau sự kiện trên biên giới Xô- Trung vùng Kirghistan và Viễn Đông, trên toàn bộ đường biên giới Trung- Xô, các vụ vi phạm biên giới diễn ra một cách có hệ thống và không ngừng phát triển thêm về số lượng và số người tham gia. “Trong năm 1960, tổng số vụ vi phạm biên giới là khoảng 100 vụ.
Năm 1962, con số này lên tới 5000 vụ. Từ giữa năm 1962, các vụ vi phạm biên giới từ phía Trung Quốc mang tính khiêu khích rõ rệt. Trong hai năm 1963-1964, các vụ vi phạm biên giới còn tăng thêm nhiều nữa. Chỉ riêng năm 1963, số lượng người Trung Quốc tham gia vào các vụ vi phạm biên giới Trung- Xô lên đến hơn 100 000 người””.
Công hàm ngày 21/9/1960 của Bộ Ngoại giao Trung Quốc gửi Bộ Ngoại giao Liên Xô cũng về vấn đề này đã nói rõ: “như phía Trung Quốc hiểu, biên giới tại khu vực này được xác lập từ năm 1884 bang hiệp định giữa Trung Quốc và Nga về việc mô tả đường biên giới Kashgar.