phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài có kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Khái quát quan hệ Hoa Kỳ – ASEAN từ năm 1967 đến năm 2000 Ở chƣơng này trƣớc hết sẽ đi vào khái quát sự ra đời của tổ chức ASEAN và phân tích thái độ của Hoa Kỳ khi tổ chức này ra đời, sau đó tập trung làm rõ mối quan hệ Hoa Kỳ – ASEAN trong giai đoạn từ khi ASEAN ra đời đến năm 2000. Chƣơng 2: Quan hệ Hoa Kỳ – ASEAN giai đoạn cầm quyền của G. Bush (2001 – 2008) Chƣơng này tập trung phân tích những nhân tố tác động đến quan hệ Hoa Kỳ – ASEAN trong giai đoạn cầm quyền của G. Bush (2001 – 2008), đặc biệt là sau sự kiện ngày 11/09/2001.
Đồng thời làm rõ những nội dung cơ bản trong quan hệ Hoa Kỳ – ASEAN giai đoạn này trên các lĩnh vực chủ yếu nhƣ kinh tế, chính trị – ngoại giao, an ninh – quân sự. Bƣớc đầu đƣa ra nhận xét về kết quả chính sách đối ngoại của chính quyền G. Bush với ASEAN và chính sách đối ngoại của các nƣớc thành viên ASEAN tác động ngƣợc trở lại. 8 Chƣơng 3: Quan hệ Hoa Kỳ – ASEAN giai đoạn cầm quyền của B.
Obama (2009 – 2012) Tƣơng tự nhƣ chƣơng 2, nội dung chƣơng này trƣớc hết sẽ tập trung vào những nhân tố tác động đến quan hệ Hoa Kỳ – ASEAN trong giai đoạn cầm quyền của B. Sau đó đi vào phân tích những nội dung cơ bản trong quan hệ Hoa Kỳ – ASEAN giai đoạn này trên các lĩnh vực chủ yếu nhƣ kinh tế, chính trị – ngoại giao, an ninh – quân sự và đƣa ra một số nhận xét. Qua đó làm rõ nhân tố Việt Nam trong trong chính sách ASEAN của Hoa Kỳ và triển vọng quan hệ Hoa Kỳ – ASEAN trong những năm tới. 9 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT QUAN HỆ HOA KỲ – ASEAN TỪ NĂM 1967 ĐẾN NĂM 2000 1.
Sự ra đời của tổ chức ASEAN và thái độ của Hoa Kỳ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (The Association of Southeast Asian Nations – ASEAN) đƣợc thành lập ngày 08/08/1967 trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực có nhiều biến động. Thứ nhất, phải kể đến sự phát triển phức tạp của quan hệ quốc tế từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, để bảo vệ lợi ích quốc gia của từng nƣớc cũng nhƣ từng khu vực, chủ nghĩa khu vực đã hình thành và phát triển nhanh chóng trên khắp thế giới. Nhiều tổ chức khu vực đã xuất hiện, điều đó đã có tác động nhất định đến các nƣớc Đông Nam Á, họ nhận thức đƣợc rằng việc thành lập một tổ chức khu vực sẽ tạo ra những ƣu thế nhất định về kinh tế và chính trị. Về kinh tế, một tổ chức khu vực sẽ giúp các nƣớc trong tổ chức thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế thông qua hợp tác thƣơng mại, phân công lao động.
Về chính trị, tổ chức khu vực giúp các nƣớc tăng cƣờng sự đoàn kết, thống nhất trong việc giải quyết các vấn đề nội bộ khu vực và quốc tế, từ đó nâng cao địa vị của mình trên trƣờng quốc tế. Thứ hai, do tác động của Chiến tranh lạnh và trật tự thế giới hai cực Xô – Mỹ, các nƣớc trong khu vực bị phân chia thành hai nhóm đối lập nhau về hệ tƣ tƣởng và chịu những ảnh hƣởng khác nhau từ các cƣờng quốc. Song các nƣớc Đông Nam Á cũng nhận thức đƣợc rằng, cách tốt nhất để giảm sự chi phối của các cƣờng quốc là phải liên kết với nhau trong một tổ chức khu vực. Thông qua tổ chức đó, các nƣớc tăng cƣờng hợp tác về chính trị và phát triển kinh tế để tạo nên một sức mạnh tập thể nhằm cân bằng lợi ích với các nƣớc lớn trong khu vực.
10 Thứ ba, sau khi giành đƣợc độc lập, năm nƣớc Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan đều đi theo con đƣờng phát triển tƣ bản chủ nghĩa. Chính phủ các nƣớc này đều chú trọng việc phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá đất nƣớc và thu đƣợc những kết quả khả quan. Tuy vậy, các nƣớc này đều gặp phải những khó khăn, thách thức về chính trị, kinh tế, giải quyết mâu thuẫn, xung đột trong quan hệ với nhau và cả sức ép từ bên ngoài. Cả năm nƣớc đều mong muốn có một nền an ninh, chính trị ổn định để xây dựng và phát triển đất nƣớc, không muốn quá lệ thuộc vào tƣ bản phƣơng Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ.
Trƣớc tình hình đó, các nƣớc đã tạm gác lại những mâu thuẫn và xung đột để cùng nhau thành lập một tổ chức khu vực nhằm đối phó với những thách thức ở khu vực và thế giới. Đầu tiên là sự thành lập Hiệp hội Đông Nam Á (ASA) vào 31/07/1961 tại Bangkok, bao gồm ba nƣớc Thái Lan, Malaysia và Philippines. Trong thời gian tồn tại của ASA, một tổ chức hợp tác khu vực khác gồm 3 nƣớc Malaysia, Philippines và Indonesia (gọi tắt là MAPHILINDO) cũng đƣợc tuyên bố thành lập vào tháng 08/1963. Tuy nhiên, cả ASA và MAPHILINDO đều không tồn tại đƣợc lâu do những bất đồng không thể giải quyết giữa các nƣớc về vấn đề lãnh thổ và chủ quyền.
Cuối năm 1966, ngoại trƣởng Thái Lan gửi đến các ngoại trƣởng Indonesia, Malaysia, Philippines và Singapore bản dự thảo về việc tổ chức “Hội các quốc gia Đông Nam Á về hợp tác khu vực”. Sau nhiều cuộc thảo luận, tháng 08/1967, ngoại trƣởng 5 nƣớc họp ở Bangkok và ngày 08/08/1967 đã ra tuyên bố về việc thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (The Assoliation of Southeast Asian Nations) viết tắt là ASEAN [8], [10], [26]. Trong tuyên bố thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (08/08/1967) ở Bangkok (còn gọi là Tuyên bố Bangkok), những ngƣời sáng 11 lập ra tổ chức hợp tác khu vực này đã nêu rõ tôn chỉ, mục đích của ASEAN nhƣ sau: Một là, thúc đẩy sự tăng trƣởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá trong khu vực thông qua những nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác nhằm tăng cƣờng cơ sở cho một cộng đồng thịnh vƣợng và hoà bình của các quốc gia Đông Nam Á. Hai là, tăng cƣờng hoà bình và ổn định khu vực bằng việc tôn trọng công lý và nguyên tắc luật pháp trong quan hệ giữa các quốc gia trong vùng và tuân thủ các nguyên tắc của Hiến chƣơng Liên Hợp Quốc.
Ba là, thúc đẩy sự cộng tác tích cực và giúp đỡ lẫn nhau trong các vấn đề cùng quan tâm trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá , kỹ thuật, khoa học và hành chính. Bốn là, giúp đỡ lẫn nhau dƣới các hình thức đào tạo, cung cấp phƣơng tiện nghiên cứu trong các lĩnh vực giáo dục, nghề nghiệp, kỹ thuật và hành chính. Năm là, hợp tác có hiệu quả hơn để sử dụng tốt hơn nền công nghiệp và các nghành công nghiệp của nhau, mở rộng mậu dịch kể cả việc nghiên cứu các vấn đề về trao đổi hàng hoá quốc tế, cải tiến các phƣơng tiện giao thông, liên lạc và nâng cao mức sống của nhân dân. Sáu là, tăng cƣờng nghiên cứu Đông Nam Á.
Bảy là, duy trì sự hợp tác chặt chẽ cùng có lợi với các tổ chức quốc tế và khu vực có cùng tôn chỉ mục đích và thăm dò tất cả các lĩnh vực hợp tác chặt chẽ hơn giữa các tổ chức này [8; 173 – 174]. Những mục đích trong tuyên bố Bangkok cho thấy: ASEAN là một tổ chức hợp tác khu vực đƣợc thành lập nhằm thúc đẩy sự hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hoá giữa các nƣớc thành viên. Mục đích của sự hợp tác này là nhằm tăng cƣờng sức mạnh của mỗi nƣớc cũng nhƣ của tổ chức để đối phó có hiệu quả hơn trƣớc các mối đe doạ từ bên ngoài. 12 Sự ra đời của ASEAN đã đánh dấu sự trƣởng thành về mặt chính trị của các nƣớc thành viên, đồng thời nó cũng đánh dấu sự thắng lợi của tinh thần hoà hợp giữa các nƣớc trong khu vực.
Tuyên bố thành lập của ASEAN cũng đã nói rõ rằng: các nƣớc ASEAN mong muốn thiết lập một cơ sở vững chắc cho hành động chung nhằm “đẩy mạnh hợp tác khu vực ở Đông Nam Á trên tinh thần bình đẳng và hợp tác, góp phần vào hoà bình, tiến bộ và thịnh vượng ở khu vực” và các nƣớc này cũng tuyên bố “quyết tâm giữ gìn ổn định và an ninh của mình chống lại sự can thiệp từ bên ngoài dưới bất cứ hình thức hoặc biểu hiện nào” [8; 172]. Ngay từ khi ASEAN mới tuyên bố thành lập, Hoa Kỳ đã tỏ rõ thái độ khuyến khích và ủng hộ. Bởi vì theo Hoa Kỳ, sự ra đời của ASEAN lúc đó là phù hợp với chính sách của Hoa Kỳ; trong ASEAN có Thái Lan và Philippines là đồng minh của Hoa Kỳ và cũng là thành viên của SEATO, nên Hoa Kỳ không những không lo ngại sự chống đối của ASEAN mà còn thấy có khả năng chi phối tổ chức này; cả Hoa Kỳ và các nƣớc ASEAN đều theo đuổi chính sách chống cộng sản; hơn nữa, Hoa Kỳ muốn thông qua sự ủng hộ đối với các nƣớc thành viên ASEAN để các nƣớc này nằm trong vòng ảnh hƣởng của Hoa Kỳ, hoặc có thể đƣợc thì biến ASEAN thành một liên minh quân sự mới thay cho SEATO đã mất tác dụng. Chính vì những lý do trên mà Hoa Kỳ đã ngày càng tăng cƣờng quan hệ vốn có với các nƣớc thành viên ASEAN trên tất cả các lĩnh vực an ninh, chính trị và kinh tế.
Quan hệ Hoa Kỳ – ASEAN giai đoạn 1967 – 1989 1. Quan hệ Hoa Kỳ – ASEAN 1967 – 1975 ASEAN đƣợc thành lập trong hoàn cảnh cuộc chiến tranh ở Đông Dƣơng và chiến tranh lạnh trên thế giới phát triển đến đỉnh điểm. Đây là thời kỳ Hoa Kỳ đang leo thang chiến tranh ở Việt Nam, thất bại trong chiến lƣợc “chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh” đã buộc Hoa Kỳ phải xuống thang chiến tranh ở Việt Nam và ngồi vào bàn đàm phán. Cùng thời 13 gian này, Hoa Kỳ gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của các nƣớc đồng minh trong tổ chức quân sự SEATO.
Hơn nữa, sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc theo xu hƣớng hòa bình, trung lập và không liên kết ngày càng có tác động lớn đến các nƣớc trong khu vực làm cho Hoa Kỳ hết sức lo ngại. Ngoài ra, Hoa Kỳ còn phải chịu sức ép lớn từ phong trào đấu tranh của nhân dân các nƣớc trên thế giới, đặc biệt là nhân dân trong nƣớc phản đối cuộc chiến tranh đang tiến hành ở Việt Nam.