phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài có kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Nguyên nhân chính sách xoay trục của Mỹ sang khu vực Châu Á- Thái Bình Dƣơng từ năm 2009 đến nay 13 Ở chƣơng này, trƣớc hết tác giả đi vào khái quát chính sách ngoại giao trƣớc khi Tổng thống Obama lên cầm quyền để thấy đƣợc sự khác biệt trong chính sách ngoại giao của các đời Tổng thống trƣớc khi đƣa ra chiến lƣợc xoay trục sang khu vực Châu Á- Thái Bình Dƣơng. Sau đó, nêu rõ những nguyên nhân chính khiến Mỹ thực hiện chính sách xoay trục sang khu vực Châu Á- Thái Bình Dƣơng. Nội dung chính sách xoay trục của Mỹ sang khu vực Châu Á- Thái Bình Dƣơng từ năm 2009 đến nay Chƣơng này tác giả tập trung đi vào nghiên cứu nội dung và những hoạt động trong chính sách xoay trục của Mỹ trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống Obama (2009- 2015).
Đánh giá sơ bộ về tác động chính sách xoay trục của Mỹ sang khu vực Châu Á- Thái Bình Dƣơng từ năm 2009 đến nay Bƣớc đầu đƣa ra đánh giá về tác động chính sách đối ngoại của chính quyền Tổng thống Obama đối với Mỹ nói riêng và khu vực Châu Á- Thái Bình Dƣơng nói chung. Đặc biệt là trƣờng hợp Việt Nam, vai trò của Việt Nam trong chính sách xoay trục của Mỹ và tác động chính sách xoay trục tới Việt Nam. 14 NỘI DUNG Chƣơng 1. NGUYÊN NHÂN CHÍNH SÁCH XOAY TRỤC CỦA MỸ SANG KHU VỰC CHÂU Á- THÁI BÌNH DƢƠNG TỪ NĂM 2009 ĐẾN NAY 1.
Khái quát chính sách đối ngoại của Mỹ từ năm 1993 đến năm 2009 1. Chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton (1993- 2001) Năm 1993, Tổng thống Bill Clinton (B.Clinton) lên cầm quyền trong bối cảnh chiến tranh lạnh kết thúc, nƣớc Mỹ với vai trò là ngƣời thắng trận, nhƣng do trải qua hơn 40 năm với gánh nặng chạy đua vũ trang và “bao” về chi tiêu quân sự hầu khắp thế giới (Mỹ phải gánh chịu từ 50 đến 55% chi tiêu quân sự của toàn thế giới) nên nƣớc Mỹ đã bị “suy giảm thế mạnh” về nhiều mặt so với các nƣớc khác. Trong thời gian Mỹ và Liên Xô ráo riết chạy đua vũ trang để khẳng định sức mạnh của mình, đã tạo điều kiện cho các nƣớc khác phát triển kinh tế, nổi lên các trung tâm kinh tế và tài chính lớn: Tây Âu và Nhật Bản trở thành trong hai trong ba trung tâm kinh tế- tài chính lớn nhất thế giới (sau Mỹ). Cả Tây Âu và Nhật Bản trong thời gian này đều trở thành những đối thủ cạnh tranh vai trò số một thế giới với Mỹ.
Nhận thức rõ tình hình, sau khi nên nắm quyền Tổng thống B.Clinton đã ngay lập tức ƣu tiên thực hiện chính sách về kinh tế, xem đó là nhân tố hàng đầu của an ninh quốc gia. Ông đề ra chiến lƣợc “phục hƣng nền kinh tế Mỹ”. Các chính sách phát triển khoa học và công nghệ đƣợc chính phủ Mỹ hết sức chú trọng, nhằm tạo nên ƣu thế tuyệt đối cho sự cạnh tranh kinh tế của Mỹ. Với chính sách đó B.Clinton đã đƣa nƣớc Mỹ thoát khỏi tình trạng khủng hoảng về kinh tế sau chiến tranh lạnh và đƣa nƣớc Mỹ phát triển trở lại: Tăng trƣởng kinh tế đạt mức trung bình 2,5%/năm và đang có chiều hƣớng tăng lên (cao hơn mức trung bình của 25 năm qua); Thâm hụt ngân sách giảm từ 290 tỷ USD xuống còn 121 tỷ USD/năm; Tạo ra đƣợc 10,5 triệu việc làm so với 1,7 triệu trong nhiệm kỳ Tổng thống Georgy Herbert Walker Bush (G.Bush); Thu nhập bình quân đầu ngƣời sau khi tính thuế tăng 6% (G.
15 Song song với những chính sách phát triển kinh tế, chiến lƣợc đối ngoại của Tổng thống B.Clinton đƣợc hình thành trên cơ sở duy trì vị trí số một của Mỹ. Tháng 2 năm 1995, chính quyền B.Clinton đề ra chiến lƣợc toàn cầu mới “Chiến lƣợc an ninh quốc gia cam kết và mở rộng” theo hƣớng Mỹ cam kết tiếp tục can dự vào các công việc của thế giới với tƣ cách “ngƣời lãnh đạo thế giới”, nhƣng chú trọng hơn vào vai trò “trọng tài” mà giảm dần vai trò “sen đầm”. Mở rộng cộng đồng các quốc gia dân chủ, đề cao vai trò của các thể chế đa phƣơng, trong đó Mỹ là hạt nhân. Chiến lƣợc mới đó đƣợc thể hiện qua ba mục tiêu cơ bản: Một là, phục hƣng nền kinh tế Mỹ; Hai là, duy trì và phát triển ƣu thế quân sự của Mỹ trên thế giới; Ba là, thúc đẩy dân chủ và thị trƣờng tự do ở bên ngoài.
Thứ tự ƣu tiên trong chính sách ngoại giao của Mỹ trong thời kỳ này cũng không thay đổi: Châu Âu vẫn là khu vực quan trọng và đƣợc đƣa lên hàng đầu. Trong bài phát biểu điều trần nhậm chức ngày 13/1/1993, Bộ trƣởng ngoại giao Mỹ Warren Christopher đã sắp xếp thứ tự ƣu tiên trong chính sách đối ngoại của Mỹ lần lƣợt là: Châu Âu, Châu Á, Trung Đông, Châu Mỹ la tinh, Châu Phi [19; 27]. Đối với Châu Âu: Mục tiêu xuyên suốt trong chiến lƣợc an ninh mới của Mỹ là đặt trọng tâm vào Châu Âu. Châu Âu là “hạt nhân” lợi ích chiến lƣợc của Mỹ.
Tại Hội nghị cấp cao NATO, Tổng thống B.Clinton đã nhận định “an ninh của thế hệ chúng ta đƣợc quyết định bằng công cuộc cải cách ở các miền Đông Châu Âu thành công hay thất bại”. Mối quan tâm của Mỹ tới khu vực này đƣợc thể hiện rất rõ thông qua các chuyến thăm cấp cao tới các nƣớc ở Châu Âu nhƣ; Cộng hòa Czech, Nga, Hungary, Ukraine… Chính quyền B.Clinton luôn khẳng định khu vực Châu Âu là “hạt nhân” và là “trung tâm” lợi ích an ninh của Mỹ. Mỹ tiếp tục củng cố và tăng cƣờng quan hệ với các nƣớc đồng minh, đồng thời mở rộng NATO về hƣớng đông, kết nạp thêm các nƣớc Đông Âu cũ vào NATO nhƣ Ba Lan, Hungary, Cộng hòa Czech năm 1999. Chính sách Châu Âu của chính quyền B.Clinton theo đuổi hai mục tiêu cơ bản: Xây dựng một Châu Âu thực sự liên kết, dân chủ, thịnh vƣợng và hòa bình; Liên kết các đồng minh và đối tác ở bên kia Đại Tây Dƣơng để giải quyết những thách thức toàn cầu.
Mỹ đƣa ra sáng kiến “đối tác kinh tế xuyên Đại Tây Dƣơng” nhằm làm sâu sắc hơn mối quan hệ kinh tế và củng cố quan hệ của Mỹ với các nƣớc Châu Âu. 16 Đối với Châu Á: Bảo đảm vai trò và vị trí của Mỹ ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dƣơng. Mỹ cam kết ngày càng gắn bó chặt chẽ với các đồng minh của mình ở khu vực này nhƣ: Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippin, Thái Lan, Australia. Nhƣng vị trí Châu Á- Thái Bình Dƣơng trong thời gian này đối với Mỹ không thể so sánh với khu vực Châu Âu.
Châu Âu vẫn giữ vị trí hàng đầu, là trung tâm trong các ƣu tiên chính sách ngoại giao của Mỹ. Đối với Trung Đông: Mỹ tích cực tham gia giải quyết các xung đột ở khu vực này nhƣ vấn đề hòa bình giữa nhà nƣớc Palestine và Isarel. Trong giai đoạn này, Trung Đông chƣa thật sự nổi lên những vấn đề nổi bật để trở thành sự quan tâm đối với Mỹ. Đối với Châu Mỹ La tinh: Đã từ lâu Mỹ luôn coi khu vực Mỹ La tinh là “sân sau”, thuộc quyền kiểm soát của riêng mình, với khẩu hiệu “Châu Mỹ là của ngƣời Mỹ”.
Vì thế, Mỹ đã thi hành các chính sách đối với khu vực này về kinh tế nhƣ mở rộng đầu tƣ buôn bán với các nƣớc Mỹ La tinh và thực hiện liên kết giữa Mỹ với các nƣớc trong khu vực. Đối với Châu Phi: Chính quyền B.Clinton có những động thái tích cực trong việc tham gia thúc đẩy giải quyết các vấn đề ở khu vực Châu Phi nhƣ cuộc xung đột ở khu vực Hồ lớn Châu Phi, thông qua tổ chức Liên Hợp Quốc; Tham gia giải quyết xung đột ở Angola; Đồng thời Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến chống khủng bố ở Sudan… Nhìn chung, trong thời kỳ này, những chính sách ngoại giao của Mỹ không thật sự nổi bật vì chính quyền Tổng thống B.Clinton chỉ thực sự quan tâm phát triển kinh tế và khôi phục tình hình nƣớc Mỹ sau chiến tranh lạnh. Với chiến lƣợc “cam kết và mở rộng” trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Mỹ vẫn là Châu Âu. Vì vậy, vai trò và vị trí của khu vực Châu Á- Thái Bình Dƣơng hầu nhƣ không đƣợc nƣớc Mỹ quan tâm.
Chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống George Walker Bush (2001- 2009) Trong những năm đầu thế kỷ XXI, tình hình thế giới có nhiều biến đổi phức tạp. Thế giới vẫn đang trong thời kỳ quá độ sang một trật tự mới theo xu hƣớng đa cực. Quan hệ quốc tế phát triển theo xu hƣớng đan xen phức tạp, tác động đa chiều đến mối quan hệ song phƣơng cũng nhƣ đa phƣơng của các quốc gia dân tộc. Các 17 mâu thuẫn của thời đại vẫn tiếp tục dƣới nhiều hình thức và nội dung mới nhƣ: xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, mâu thuẫn tôn giáo, dân tộc, hoạt động khủng bố phát triển mạnh mẽ… Ngày 20 tháng 1 năm 2001, G.Bush chính thức nhậm chức Tổng thống Mỹ đời thứ 43.
Ông đƣợc thừa hƣởng những thành quả về kinh tế đáng nể mà Chính quyền B.Clinton để lại, trong đó có khoảng thặng dƣ liên bang 128 tỉ USD [31; 68]. Sau khi lên nắm chính quyền, Tổng thống G.Bush vẫn giữ khẩu hiệu duy trì vị trí số một của Mỹ, nhƣng nếu chính quyền B.Clinton coi trọng sự phát triển kinh tế, đầu tƣ cho phát triển kinh tế thì chính quyền của Tổng thống G.Bush lại coi trọng vấn đề chính trị, quân sự hơn kinh tế. Nhất là sau sự kiện ngày 11/9/2001, “Chiến lƣợc an ninh quốc gia trong thế kỷ mới” của Mỹ đƣợc đề ra. Chiến lƣợc đó nhấn mạnh quyền tự do hành động của Mỹ, “ngăn chặn sự thống trị của kẻ thù đối với những khu vực quan trọng nhƣ: Châu Âu, Trung Đông, Đông Nam Á.
Chính sách ngoại giao của chính quyền G.Bush nổi lên một số nội dung sau: Thứ nhất, chống khủng bố trở thành ƣu tiên an ninh quốc gia hàng đầu. Ƣu tiên chiến lƣợc này xuất phát từ sự xác định lại các mối đe dọa đối với Mỹ. Với việc nhận thức lại về vấn đề này, chính quyền G.Bush đã xác định chủ nghĩa khủng bố quốc tế trở thành kẻ thù số một của nƣớc Mỹ; Nƣớc Mỹ sẽ chiến đấu trong một thời gian dài, không hạn định trên phạm vi toàn cầu để tiêu diệt các tổ chức khủng bố [12; 110].