Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CHO HỌC VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG Ở TRƯỜNG CHÍNH TRỊ CẤP TỈNH 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về giáo dục đạo đức Về mặt lý luận cũng như thực tiễn nghiên cứu vấn đề GDĐĐ đã được nhiều học giả quan tâm, nhìn nhận, đánh giá dưới các góc độ khác nhau. Thế kỷ XVI - XVII, nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc Komensky (1592 - 1670) cho rằng việc trau dồi đức hạnh cần phải bắt đầu từ lúc tuổi còn thơ, trước khi tâm hồn bị hoen ố; đạo hạnh của con người có thể trau dồi bằng cách luôn luôn xử sự chân chính.
Trong các phương pháp giáo dục sinh động của mình, ông đề cao giáo dục động cơ và hành vi đạo đức. Thế kỷ XX có rất nhiều nhà giáo dục học và tâm lý học nổi tiếng đã dày công nghiên cứu vấn đề GDĐĐ cho học sinh như Makarenko A. ,… đặc biệt nhà giáo dục học Makarenko A. với tác phẩm nổi tiếng “Bài ca sư phạm” [35] đã bày tỏ quan điểm GDĐĐ cho học sinh, phương pháp giáo dục cá biệt.
Nhiều nguyên tắc GDĐĐ của ông đã được nhiều nhà sư phạm trên thế giới quan tâm. Berkowitz, Wolfgang Althof, Marvin W. (2006) [59] cho thấy bất cứ xã hội nào cũng phải quan tâm đến giáo dục đạo đức người dân ngay từ thời còn thơ ấu, trong đó nhà trường có vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng sự phát triển đạo đức công dân. XU Xiao-mei, XU Fu - ming (2009) [69] cho rằng trong xã hội hiện đại ngày nay, phương pháp giáo dục đạo đức cần dựa trên sự trao đổi bình đẳng giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với gia đình, giữa cá nhân với trường học và với xã hội.
Không khí gia đình, mạng internet có vai trò quan trọng trong định hướng, giáo dục GDĐĐ công dân. 8 Tác giả người Trung Quốc Trương Đình (2013) [75] cho rằng đạo đức công dân là một nền tảng đặc biệt cho sự phát triển của xã hội dân sự, trong đó giáo dục học đường có vai trò quan trọng trong xây dựng một xã hội hài hòa ở Trung Quốc; để kinh tế - xã hội đất nước phát triển trong thời kỳ toàn cầu hóa, tôn trọng được quyền tự chủ và quyền cá nhân của công dân thì chính phủ, xã hội, gia đình, trường học cần có sự kết hợp, tham gia vào quá trình GDĐĐ. Còn Đơn Liễu Nghênh, Dương Đức Hoa (2010) [73] và Phàn Khiết (2013) [76] thì cho rằng để phát triển được đạo đức cá nhân, các trường học cần nêu cao GDĐĐ dưới hình thức tinh thần, truyền thống văn hóa; giúp cho người học nhận thức về yêu cầu của đạo đức, nội dung, phương pháp tiếp cận các chuẩn mực đạo đức, cũng như xu hướng phát triển của xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng cho một lý luận mới về GDĐĐ ở Việt Nam.
Theo Người, tài phải đi đôi với đức, đức đi đôi với tài, nếu chỉ có tài mà không có đức thì là người vô dụng. Người chỉ rõ “Đạo đức là cái gốc của người cách mạng, đạo đức cũng là cái gốc của con người phát triển toàn diện mà nhà trường phổ thông có trách nhiệm đào tạo. Do đó công tác giáo dục tư tưởng, chính trị và đạo đức phải giữ vị trí then chốt trong các nhà trường. Công tác đạo đức được tiến hành tốt sẽ là cơ sở để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, vì thế đức dục có quan hệ mật thiết với các mặt giáo dục khác” [37, tr.
Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm đến vấn đề GDĐĐ. Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, các nghị quyết Trung ương, Luật Giáo dục, Điều lệ trường trung học đều coi việc GDĐĐ như một nguyên tắc quan trọng hàng đầu. Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [29, điều 35]. 9 Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã có những đóng góp quan trọng vào lĩnh vực nghiên cứu này với các tác giả Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng (1998) [12]; Hà Nhật Thăng (2001) [47]; Phạm Minh Hạc (1997) [19], (1986) [20], (2005) [21]; Đặng Thành Hưng (2012) [25]; Hà Thế Ngữ (1998) [41]; Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang (1995) [53]; Phạm Viết Vượng (2007) [54];… Để đi đến các quan niệm và giải pháp về GDĐĐ, các tác giả đã lựa chọn cho mình những cách tiếp cận khác nhau, tạo ra sự đa dạng, phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu. Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang (1995) [53] trong nghiên cứu đã trình bày hệ thống thang bậc giá trị, sự hình thành định hướng giá trị nhân cách cũng như việc giáo dục giá trị. Trong đó khía cạch phẩm chất đạo đức trong nhân cách được coi là giá trị đích thực, cao quý của con người, của mỗi cá nhân mà xã hội đang đòi hỏi, mong đợi.
Các tác giả cũng nhấn mạnh phải coi trọng cả việc kế thừa những giá trị truyền thống lẫn giá trị hiện đại trong việc giáo dục giá trị cho thế hệ trẻ. Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng (1998) [12] nhấn mạnh nội dung GDĐĐ cho học sinh, sinh viên là đạo đức trong gia đình, đạo đức trong tình bạn, đạo đức trong tình yêu, đạo đức trong học tập, đạo đức trong giao tiếp. Hà Nhật Thăng (2001) [47] đề cập đến những vấn đề chung như phương pháp luận của GDĐĐ, xây dựng các chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các giải pháp nâng cao hiệu quả GDĐĐ hiện nay. Phạm Minh Hạc (1986) [20] đã đưa ra 6 giải pháp cơ bản để GDĐĐ cho con người Việt Nam: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức GDĐĐ trong trường học, củng cố giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việc GDĐĐ cho con người; kết hợp chặt chẽ GDĐĐ với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân, trước hết là cho cán bộ, đảng viên, cho thầy cô các trường học; 10 xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về GDĐĐ, nâng cao nhận thức cho mọi người” [20, tr.
Nghiên cứu về vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự phát triển nhân cách trong cơ chế thị trường và giải pháp nâng cao hiệu quả GDĐĐ ở Việt Nam hiện nay phải kể đến công trình của Nguyễn Trọng Chuẩn (2001) [11]; Trần Hậu Kiểm (1997) [31]; Trần Kiều (2000) [32]; Nguyễn Thế Kiệt (2002) [33]; Nguyễn Duy Quí (2006) [45]; Huỳnh Khái Vinh (2001) [55]; … Nguyễn Duy Quí (2006) [45] và các cộng sự đã phác họa một cách trung thực và khá toàn diện đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực với những số liệu điều tra xã hội học phong phú, thuyết phục, làm hiện rõ thực trạng đạo đức của cán bộ, đảng viên, công chức, thanh niên, đạo đức trong lao động, giao tiếp và đạo đức trong gia đình. Từ đó các nhà khoa học đã chỉ ra nguyên nhân suy thoái đạo đức trong xã hội và đề xuất phương hướng, giải pháp xây dựng đạo đức xã hội. Nguyễn Trọng Chuẩn (2001) [11] cho rằng sự thiếu pháp luật, pháp luật không đồng bộ và những kẽ hở của pháp luật trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, suy thoái về đạo đức lối sống. Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như việc giáo dục đạo đức có phần bị coi nhẹ, thiếu định hướng rõ rệt.
Các nghiên cứu về giáo dục đạo đức công vụ cho cán bộ, công chức Nghiên cứu về đạo đức công vụ và giáo dục, rèn luyện đạo đức của cán bộ, công chức. Raga, Kishore (2005) [66] đã có một cái nhìn tổng quan về "đạo đức" và "trách nhiệm" của công chức trong bối cảnh khu vực công; ảnh hưởng của đạo đức và trách nhiệm đối với cung cấp dịch vụ công; tầm quan trọng của các nguyên tắc Batho Pele (Con người trước tiên) trong hoạt động CV. Chính phủ và xã hội không thể thúc đẩy và thực thi các hành vi đạo đức một cách đơn lẻ chỉ thông qua việc sử dụng mã số đạo đức của hành vi hoặc thông qua việc ban 11 hành một loạt các Điều luật. Và một chính phủ mở, minh bạch và có trách nhiệm là một điều kiện tiên quyết bắt buộc đối với cung cấp dịch vụ công hướng đến cộng đồng bởi vì nếu không có điều đó, những hành vi trái với luân thường đạo lý sẽ gây ra bởi người thay đổi chính kiến.
Carević, Melita, Kiš, Paula (2006) [60] trên cơ sở phân tích đạo đức của công chức hành chính, các tác giả đã xây dựng một Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp cho công chức. Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp dự kiến sẽ cải thiện và tạo điều kiện cho việc thực hiện các quyền dân sự và đảm bảo chất lượng thích đáng công việc hành chính công. Diệp Tổ Diểu (2003) [72] phân tích vai trò của GDĐĐ cán bộ đối với sự phát triển của đất nước. Tác giả cho rằng đạo đức của cán bộ chính là đạo đức nghề nghiệp đặc biệt - đạo đức CV.
GDĐĐ cho cán bộ cần có cơ chế quản lý giáo dục, khen thưởng, giám sát hoạt động của cán bộ. Lưu Bảo Diễm (2014) [77] cho thấy tình trạng đạo đức CBCC Trung Quốc hiện nay vẫn không lạc quan đã ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của Đảng và Chính phủ Trung Quốc. Để cải thiện đạo đức xã hội trong sự nghiệp phát triển kinh tế thị trường XHCN, Trung Quốc cần GDĐĐ nghề nghiệp cho CBCC, đồng thời cải thiện các điều khoản của pháp luật, các quy định và cơ chế giám sát hoạt động của CBCC trong thực thi CV.