CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG 1.1 Khái quát về đào tạo 1. Khái niệm đào tạo. Theo từ điển giáo dục học: Đào tạo là quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, chuyên môn đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học để họ sẵn sàng đi vào cuộc sống lao động tự lập. Đào tạo được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ,…để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả.
Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn. Dù khái niệm đào tạo được nhìn theo các góc độ khác nhau nhưng nội hàm của nó đều chứa đựng những thuộc tính bản chất là tác động giáo dục và đào tạo nhằm trang bị cho người học cả hệ thống kiến thức những kỹ xảo, thói quen, kỹ năng, kinh nghiệm thực hiện các hoạt động, quan hệ giao tiếp và rèn luyện phẩm chất đạo đức theo một mô hình nhân cách xác định. Mục tiêu đào tạo Mục tiêu đào tạo trình độ Cao đẳng để người học có năng lực thực hiện được và giải quyết được các công việc có tính chất phức tạp của chuyên ngành; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc, hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc. Như vậy, ta thấy điều đáng lưu ý là mục tiêu đào tạo đã nhấn mạnh đến khả năng tự tìm kiếm việc làm trong cơ chế thị trường.
Mục tiêu đào tạo hay sản phẩm đào tạo chính là người học sinh tốt nghiệp với nhân cách đã được thay đổi, cải biến thông qua quá trình đào tạo. Mục tiêu đào tạo là căn cứ để đánh giá kết quả và chất lượng của quá trình đào 5 tạo, mục tiêu cần được cụ thể hóa cho các ngành nghề và cấp trình độ. Việc xây dựng mục tiêu đào tạo đối với từng ngành, nghề và cấp trình độ cụ thể cần phải bám sát các yêu cầu của kinh tế - xã hội về kiến thức kỹ năng và thái độ của người học. Tiếp đó là sự cụ thể hóa hơn trong trong các tiêu chí, mục tiêu môn học bài học.
Cấp độ sau là sự triển khai cụ thể hóa cấp độ trước, là thành phần cấu trúc mục tiêu cấp độ trước. Việc xác định mục tiêu càng cụ thể, càng chi tiết đến đơn vị cuối cùng có thể mô tả, đo đếm được, càng thuận lợi, chính xác cho việc xây dựng các yếu tố đạt mục tiêu như: chương trình, nội dung, giáo trình, phương pháp, phương tiện, hình thức đào tạo. Mục tiêu đào tạo cần phải được cụ thể hơn đặc biệt là mục tiêu môn học bài học. ở cấp độ này cần phải được cụ thể hóa bằng các tiêu chí mô tả, đo lường được vì có như vậy các chuyên gia, từng giáo viên đứng lớp mới thi công cụ thể, chính xác khi biên soạn giáo trình, tổ chức dạy học từng nội dung kiên thức, ra đề kiểm tra, đánh giá, thi.
Tóm lại: mục tiêu đào tạo nhằm đào tạo con người có có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động và tự tìm được việc làm hoặc học tập nâng cao sau khi tốt nghiệp; Để đảm bảo yêu cầu về chất lượng đào tạo, mục tiêu phải được thể hiện với các chuẩn trình độ (chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ) để sau khi học xong có thể đánh giá mức độ đạt được so với mục tiêu. Mục tiêu đào tạo cần phải được định hướng gắn bó chặt chẽ hơn với đời sống hiện thực của xã hội và của cá nhân, với hoạt động nghề nghiệp. Mục tiêu đào tạo không chỉ hướng đến yêu cầu hình thành kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp mà còn hình thành và phát triển nhân cách, ý thức và thái độ nghề nghiệp đúng đắn ở mỗi cá nhân. Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo để đưa ra mô hình nghiên cứu nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng đào tạo của trường.
Nếu mục tiêu đào tạo sát, hợp với yêu cầu của xã hội thì người học được đào tạo sau khi ra trường sẽ có khả năng làm việc tốt với hiệu quả cao và ngược lại, nếu mục tiêu đào tạo không phù hợp thì hiệu quả thấp. Do vậy xác định mục tiêu đào tạo là yếu tố hết sức quan trọng và cần thiết. Chất lượng đào tạo của các trường cao đẳng 1.1 Khái niệm chất lượng đào tạo Theo Giáo sư David D. Dill trong bài viết A Matter of Quality: Markets Informattion and the Assurance of Academic Standards cho rằng chất lượng giáo dục được xem như là những chuẩn mực về giáo dục.
Đó là mức độ thành tựu mà sinh viên đạt được sau khóa học. Theo quan điểm của các nhà kinh tế nhận định về nguồn nhân lực tương lai của đất nước thì cho rằng chất lượng giáo dục là: “Các khoản trợ cấp của công chúng được đầu tư vào giáo dục bởi chúng ta tin tưởng vào các kiến thức, các kỹ năng và giá trị mà sinh viên sẽ cống hiến đóng góp cho xã hội”. Họ hy vọng sau khi sinh viên tốt nghiệp sẽ có những đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế và góp phần phát triển xã hội. Trong một nghiên cứu khá nổi tiếng của Harvey và Green (1993, p.17) nhằm tổng kết những quan niệm chung của các nhà giáo dục, chất lượng giáo dục được định nghĩa như tập hợp các thuộc tính khác nhau: (1) Chất lượng là sự xuất sắc (quality as excellence) (2) Chất lượng là sự hoàn hảo (quality as perfection) (3) Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu (quality as fitness for purpose) (4) Chất lượng là sự đáng giá với đồng tiền [bỏ ra] (quality as value for money) (5) Chất lượng là sự chuyển đổi về chất (quality as transformation) Các nhà Giáo dục Việt Nam cũng đưa ra một số định nghĩa khác nhau, nhưng các định nghĩa này thường trùng với các định nghĩa của nước ngoài.
Nguyễn Đức Chính (2000), có đưa ra định nghĩa về chất lượng của giáo dục Việt Nam như sau: “Chất lượng giáo dục đại học được đánh giá qua mức độ trùng khớp với mục tiêu định sẵn”. Định nghĩa này tương đồng với quan niệm về chất lượng của hầu hết các tổ chức đảm bảo chất lượng trên thế giới.2 Chất lượng giáo dục của các trường cao đẳng Theo văn bản Số: 08/VBHN-BGDĐT ngày 04 tháng 3 năm 2014: Chất lượng giáo dục trường cao đẳng là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về 7 mục tiêu giáo dục đại học trình độ cao đẳng của Luật giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của ngành.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo 1. Một số quan niệm đánh giá chất lượng đào tạo a. Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu vào” Một số nước phương Tây có quan điểm cho rằng “Chất lượng một trường đại học phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó”.
Quan điểm này được gọi là “quan điểm nguồn lực” có nghĩa là: Nguồn lực = Chất lượng. Theo quan điểm này, một trường đại học tuyển được sinh viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy uy tín, có nguồn tài chính cần thiết để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đường, các thiết bị tốt nhất được xem là trường có chất lượng cao. Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo diễn ra rất đa dạng và liên tục trong một thời gian dài (4 đến 6 năm) trong trường đại học. Thực tế, theo cách đánh giá này, quá trình đào tạo được xem là một “hộp đen”, chỉ dựa vào sự đánh giá “đầu vào” và phỏng đoán chất lượng “đầu ra”.
Sẽ khó giải thích trường hợp một trường đại học có nguồn lực “đầu vào” dồi dào nhưng chỉ có những hoạt động đào tạo hạn chế; hoặc ngược lại, một trường có những nguồn lực khiêm tốn, nhưng đã cung cấp cho sinh viên một chương trình đào tạo hiệu quả. Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu ra” Một quan điểm khác về chất lượng giáo dục đại học (CLGDĐH) cho rằng “đầu ra” của giáo dục đại học có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào” của quá trình đào tạo. “Đầu ra” chính là sản phẩm của giáo dục đại học được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của sinh viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường đó. Có 2 vấn đề cơ bản liên quan đến cách tiếp cận CLGDĐH này.
Một là, mối liên hệ giữa “đầu vào” và “đầu ra” không được xem xét đúng mức. Trong thực tế mối liên hệ này là có thực, cho dù đó không phải là quan hệ nhân quả. Một trường có khả năng tiếp nhận các sinh viên xuất sắc, không có nghĩa là sinh viên của họ sẽ tốt nghiệp loại xuất sắc. Hai là, cách đánh giá “đầu ra” của các trường rất khác nhau.
Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng” Quan điểm thứ 3 về CLGDĐH cho rằng một trường đại học có tác động tích cực tới sinh viên khi nó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ và cá nhân của sinh viên. “Giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của “đầu ra” trừ đi giá trị của “đầu vào”, kết quả thu được: là “giá trị gia tăng” mà trường đại học đã đem lại cho sinh viên và được đánh giá là CLGDĐH. Nếu theo quan điểm này về CLGDĐH, một loạt vấn đề phương pháp luận nan giải sẽ nảy sinh: khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng “đầu vào” và “đầu ra” để tìm ra được hiệu số của chúng và đánh giá chất lượng của trường đó. Hơn nữa các trường trong hệ thống giáo dục đại học lại rất đa dạng, không thể dùng một bộ công cụ đo duy nhất cho tất cả các trường đại học.