Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ giáo dục học của tác giả Đào Chánh Thức nghiên cứu đề tài "Xây dựng mô hình câu lạc bộ thể thao giải trí cho sinh viên trường Đại học An Giang – Tỉnh An Giang", thực hiện tại Trường Đại học Thể dục Thể thao TP. Hồ Chí Minh năm 2020 dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Huỳnh Trọng Khải và PGS.TS Lương Thị Ánh Ngọc.

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Khi điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, nhu cầu hoạt động thể thao giải trí (TTGT) của người dân, đặc biệt là học sinh, sinh viên, ngày càng gia tăng nhằm rèn luyện thể chất và giải tỏa căng thẳng tinh thần. Tại các quốc gia phát triển, trên 70% thanh thiếu niên tham gia hoạt động TTGT trong thời gian rảnh rỗi, giúp hình thành lối sống lành mạnh và hạn chế các thói quen tiêu cực như sử dụng rượu bia, thuốc lá. Tại Việt Nam, sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ngày 11/07/2007, TTGT có xu hướng phát triển nhanh nhưng vẫn là lĩnh vực mới mẻ. Các công trình nghiên cứu khoa học về TTGT chưa nhiều, hệ thống lý luận và thực tiễn chưa được tổng kết đầy đủ, thiếu các tiêu chuẩn và mô hình tổ chức phù hợp. Tại tỉnh An Giang và Trường Đại học An Giang (nơi đào tạo đa ngành với quy mô khoảng 13.000 sinh viên, học viên), phong trào thể dục thể thao (TDTT) còn nhiều hạn chế, trong khi nhu cầu tham gia câu lạc bộ (CLB) TTGT của sinh viên, cán bộ quản lý và giảng viên rất lớn nhưng chưa có mô hình tổ chức khoa học.

  • Mục đích và mục tiêu nghiên cứu:

    • Mục đích nghiên cứu: Xây dựng mô hình CLB TTGT phù hợp cho sinh viên Trường Đại học An Giang, góp phần đa dạng hóa các loại hình hoạt động giải trí, nâng cao sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và sức khỏe xã hội cho sinh viên và người lao động.
    • Mục tiêu nghiên cứu (được đánh số theo văn bản luận án):
      1. Đánh giá thực trạng các loại hình hoạt động TTGT tại An Giang và Đại học An Giang.
      2. Xây dựng mô hình câu lạc bộ TTGT cho sinh viên trường Đại học An Giang.
      3. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả hoạt động của mô hình câu lạc bộ TTGT đã xây dựng.
  • Giả thuyết khoa học: Đề tài giả định việc xây dựng mô hình CLB TTGT và ứng dụng thực nghiệm sẽ mang lại hiệu quả cho sinh viên Trường Đại học An Giang trong việc nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần và xã hội; tạo điều kiện giải trí lành mạnh, tăng cường sự tự tin, hỗ trợ học tập, phòng ngừa tệ nạn xã hội và thúc đẩy quá trình tự đào tạo toàn diện của người học.

  • Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Mô hình câu lạc bộ thể thao giải trí cho sinh viên Trường Đại học An Giang.
    • Khách thể nghiên cứu: Sinh viên Trường Đại học An Giang, cán bộ quản lý, chuyên gia thể dục thể thao.
    • Phạm vi và thời gian nghiên cứu: Không gian nghiên cứu tại Trường Đại học An Giang (TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang). Thời gian thực hiện các đợt khảo sát, xây dựng mô hình và tổ chức thực nghiệm sư phạm đối chứng trong giai đoạn từ tháng 10/2017 đến tháng 10/2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về thể thao giải trí, xã hội hóa TDTT và mô hình câu lạc bộ trên thế giới cũng như tại Việt Nam:

  • Các hướng nghiên cứu quốc tế:

    • Bản chất và động cơ giải trí: J.R. Jelly (cuối thập niên 80) định nghĩa TTGT là sự tự do lựa chọn môn thể thao yêu thích và đạt được sự thoải mái khi tham gia. Kraus, R. (1997) phân tích các nhóm động cơ tham gia giải trí (thư giãn, giải tỏa áp lực, rèn luyện thể lực, khám phá bản thân) và xác định 12 yếu tố xã hội thúc đẩy giải trí; Torkildsen (2005) phân loại các yếu tố tác động đến sự tham gia giải trí gồm yếu tố cá nhân, hoàn cảnh và cơ hội hỗ trợ dịch vụ; Lauri (2005) tiếp cận dưới góc độ kinh tế vi mô, trung gian và vĩ mô; Mull (2005) nghiên cứu đặc điểm phát triển theo nhóm tuổi và 10 hình thức phát triển TTGT.
    • Rào cản tham gia hoạt động giải trí: MacGuire và O'Leary chỉ ra các trở ngại về thời gian, tài chính, cơ sở vật chất và kỹ năng; Scott và Munson (1994) nghiên cứu tại công viên Greater Cleveland xác định thu nhập và an toàn là trở ngại lớn nhất; Mannell và Zuzanek (1991) phân tích khó khăn về sức khỏe và phương tiện ở nhóm người cao tuổi.
    • Thực trạng tham gia và lợi ích của TDTT: Ifedi, F. (2008a, 2008b) công bố số liệu khảo sát xã hội tại Canada (người dân dành trung bình 30 phút/ngày cho thể thao chủ động); Fernando và Manuel (2007), Brooks (1998), Gratton và Taylor (1985) phân tích sự tham gia thể thao tại châu Âu; Bùi Trọng Toại (2011) tổng hợp báo cáo của Bộ Công nghiệp Canada (giai đoạn 1992–2005) và các cuộc khảo sát GSS (1998, 2005) chỉ ra 4 nhóm lợi ích nổi bật của TTGT đối với chất lượng cuộc sống (vui thú/thư giãn, sức khỏe, sự thỏa mãn cá nhân, gắn kết xã hội/gia đình).
    • Lý luận về tổ chức cung ứng dịch vụ: Robbins (1990) định nghĩa tổ chức thể thao; The Drucker Foundation (1996), Robert (2001), Henderson (2001), Edginton (2005) phân loại 3 thành phần cung ứng cơ sở vật chất giải trí: khu vực nhà nước, khu vực phi lợi nhuận (tình nguyện) và khu vực thương mại.
  • Các hướng nghiên cứu trong nước:

    • Lý luận về thể thao giải trí và sức khỏe: Dương Nghiệp Chí và cộng sự (2001) xác định vị trí, đặc điểm phương tiện đơn giản, phương pháp linh hoạt và phân loại TTGT; Trương Hồng Đàm phân tích giải trí thưởng thức và giải trí thao tác (gồm giải trí tùy cảm và hậu cảm); Lê Quý Phượng và cộng sự (2017) phân tích xu hướng toàn cầu hóa, 3 phương thức hoạt động giải trí (kết hợp vui chơi thư giãn, liên quan đến văn hóa, giải trí thông thường) và hệ thống phân loại TTGT; Bùi Xuân Mỹ và Phạm Minh Thảo (nghiên cứu về thể thao thế kỷ XX); Trương Minh Lâm (2000) nghiên cứu hoạt động văn thể công hội; Đoàn Văn Chúc (1997) và Đinh Thị Vân Chi (2003) nghiên cứu về phương diện văn hóa - giải trí.
    • Cơ sở pháp lý: Luật Thể dục, thể thao năm 2006 (Điều 11 quy định chính sách khuyến khích phát triển TDTT quần chúng; Điều 18 xác định trách nhiệm quản lý và định hướng phát triển các môn thể thao giải trí).
  • Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc khái quát hóa lý luận TTGT hoặc nghiên cứu TDTT phong trào đơn thuần. Chưa có công trình nào nghiên cứu xây dựng mô hình CLB TTGT hoàn chỉnh theo cơ chế tự chủ, xã hội hóa, xác lập đầy đủ bộ tiêu chí, quy trình thành lập, quy chế tổ chức và kiểm chứng thực nghiệm hiệu quả đối với sự phát triển thể chất, tâm lý và sức khỏe xã hội của sinh viên đại học tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Học thuyết Tháp nhu cầu của Abraham Maslow (1943, 1954, 1968): Luận án vận dụng 5 bậc nhu cầu cơ bản:
    1. Nhu cầu sinh tồn cơ bản (ăn, uống, thở, vận động, nghỉ ngơi).
    2. Nhu cầu an toàn cá nhân (nhà ở, trang phục, phương tiện, việc làm/thu nhập).
    3. Nhu cầu được chấp nhận và yêu thương (thuộc về tập thể, chia sẻ, giao tiếp).
    4. Nhu cầu được tôn trọng (địa vị xã hội, sự công nhận của tập thể).
    5. Nhu cầu hiện thực hóa bản thân (khẳng định năng lực, đóng góp xã hội). Luận án cũng điểm qua các bậc mở rộng (Cognitive - nhận thức, Aesthetic - thẩm mỹ, Self-transcendence - tự tôn bản ngã) và các tiếp cận của Max-Neef (1991), IFER/DART (1976), Godbey (1976) để giải thích động cơ tập luyện TTGT của sinh viên.
  • Quan điểm toàn diện về sức khỏe của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1946): Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội. Luận án phân tích chức năng của TTGT trên cả 3 phương diện này cùng với chức năng xã hội và chức năng kinh tế.
  • Khung phân loại giải trí của Trương Hồng Đàm: Chia thành giải trí thưởng thức (quan sát qua mắt, tai, tổng hợp) và giải trí thao tác (gắn với vận động thể lực, gồm giải trí tùy cảm và giải trí hậu cảm).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

  1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Thu thập, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật, sách chuyên khảo, tài liệu khoa học trong và ngoài nước về TDTT, TTGT và quản lý CLB.
  2. Phương pháp điều tra xã hội học: Xây dựng phiếu khảo sát điều tra thực trạng, tần suất tham gia, nhu cầu, điều kiện tài chính và sinh hoạt phí của sinh viên và người dân; sử dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia, cán bộ lãnh đạo bằng bảng hỏi được xử lý qua thống kê miêu tả.
  3. Phương pháp mô hình hóa: Thiết kế sơ đồ cấu trúc bộ máy tổ chức, quy trình thành lập, quy chế và tiêu chí vận hành mô hình CLB TTGT.
  4. Phương pháp kiểm tra sư phạm: Đo lường các chỉ tiêu thể lực và năng lực vận động của sinh viên.
  5. Phương pháp kiểm tra y sinh học và tâm lý: Đo lường các chỉ số hình thái cơ thể, chức năng sinh học và đánh giá các trạng thái tâm lý, cảm nhận sức khỏe tinh thần, sức khỏe xã hội.
  6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế thực nghiệm so sánh đối chứng giữa nhóm đối chứng (ĐC) và hai nhóm thực nghiệm (TN1, TN2) ở cả đối tượng nam và nữ trong thời gian 12 tháng (từ tháng 10/2017 đến tháng 10/2018).
  7. Phương pháp toán học thống kê: Xử lý số liệu khảo sát và thực nghiệm, kiểm định độ tin cậy của phiếu điều tra, tính toán các tham số đặc trưng và so sánh sự khác biệt giữa các nhóm.
  • Nguồn tư liệu/dữ liệu: Dữ liệu khảo sát sơ cấp từ sinh viên Trường Đại học An Giang, người dân tỉnh An Giang, cán bộ quản lý và các chuyên gia TDTT; dữ liệu thực nghiệm theo dõi định kỳ từ 2 CLB TTGT tại Trường Đại học An Giang.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về thể thao giải trí, sức khỏe, phân loại TTGT, xã hội hóa TDTT và kinh nghiệm quốc tế:

  • Bản chất và chức năng của TTGT: TTGT là hoạt động TDTT quần chúng có ý thức, tự nguyện, tiến hành trong thời gian tự do ngoài giờ làm việc/học tập nhằm nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần. TTGT đảm nhận 3 chức năng cơ bản:
    • Chức năng sức khỏe: Nâng cao năng lực ưa khí, phát triển sức bền, giải tỏa căng thẳng (chuyển đổi từ stress tiêu cực sang cảm xúc tích cực), mở rộng quan hệ giao tiếp xã hội.
    • Chức năng xã hội: Định hướng sử dụng hợp lý thời gian rảnh rỗi, góp phần giáo dục nhân cách, chuẩn mực đạo đức, tăng cường tính kỷ luật và tinh thần tập thể.
    • Chức năng kinh tế: Phát triển ngành hàng thương mại và dịch vụ vui chơi giải trí, tạo việc làm và nguồn thu tái đầu tư cơ sở vật chất.
  • Hệ thống phân loại thể thao giải trí: Luận án tổng hợp các cách phân loại TTGT:
    • Theo trạng thái thân thể: Hoạt động thưởng thức; Hoạt động ở trạng thái tương đối yên tĩnh (cờ vua, cờ tướng, khí công); Hoạt động vận động thân thể (có thiết bị hỗ trợ, trúng mục tiêu như bowling/billiard/golf, mạo hiểm như nhảy dù/X-games, vận động ngoài trời, vận động có kỹ năng/thể lực, thi đấu trò chơi/thể thao điện tử E-sport).
    • Theo năng lực vận động: Vận động thể lực (sức bền, tốc độ); Vận động kỹ năng (đối kháng cách lưới, đối kháng trên cùng sân, đối kháng trực tiếp, vận động phối hợp như triathlon, chessboxing); Thi đấu biểu diễn (chính xác, thẩm mỹ).
    • Theo phân định thành tích: Trúng đích, tính điểm, bình điểm, đo thành tích, phân định thắng thua.
  • Số liệu thực chứng quốc tế về lợi ích của TTGT: Báo cáo khảo sát GSS tại Canada (năm 1998 và 2005 do Bộ Công nghiệp Canada công bố năm 2008) được tác giả dẫn chứng cụ thể:
Lợi ích của TTGT đối với người tham gia (GSS Canada, 2005) Tỷ lệ đánh giá "Rất quan trọng" Số lượng người dân (triệu người)
Vui thú, giải trí và thư giãn 73% (tăng từ 68% năm 1998) Khoảng 5,3
Nâng cao sức khỏe và tuổi thọ 68% Khoảng 5,0
Cảm giác hạnh phúc, thỏa mãn trong tập luyện 48% Khoảng 3,5
Sinh hoạt gia đình gắn kết 43% Khoảng 3,2
Mở rộng quan hệ xã hội, gặp gỡ bạn bè 34% -

Số liệu khảo sát cũng chỉ ra: 66% người tham gia TDTT tự đánh giá sức khỏe từ tốt đến rất tốt (so với 49% ở người không tập); 80% người tập luyện đạt mức điểm hài lòng cuộc sống từ 7–10 điểm; chi phí tham gia TDTT tại Canada năm 2004 đạt 16 tỷ USD (chiếm 1,2% GDP và 2% tổng số việc làm).


Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

Chương 2 trình bày chi tiết kế hoạch nghiên cứu, thiết kế phiếu điều tra, hệ thống chỉ tiêu kiểm tra và tiến trình tổ chức:

  • Công cụ và quy trình điều tra: Xây dựng mẫu phiếu khảo sát (Bảng 2.1) thăm dò thực trạng loại hình giải trí, nhu cầu thành lập CLB, mức đóng hội phí, khung giờ sinh hoạt của sinh viên Trường Đại học An Giang và người dân An Giang; thực hiện thống kê miêu tả phương pháp chuyên gia (Bảng 2.2) để xác định độ đồng thuận của các nhà quản lý và giảng viên.
  • Hệ thống test kiểm tra sư phạm, y sinh học và tâm lý: Lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hình thái cơ thể, chức năng tim mạch, hô hấp, các tố chất thể lực và trắc nghiệm tâm lý (sức khỏe tinh thần, sức khỏe xã hội) phục vụ cho quá trình thực nghiệm sư phạm.
  • Tổ chức thực nghiệm: Thiết kế mô hình thử nghiệm với nhóm đối chứng (ĐC) và 2 nhóm thực nghiệm (TN1, TN2) phân tách riêng biệt cho sinh viên nam và sinh viên nữ, đo đạc trước thực nghiệm và sau 12 tháng thực nghiệm.

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Chương 3 là phần trọng tâm của luận án, giải quyết 3 nhiệm vụ nghiên cứu:

1. Đánh giá thực trạng hoạt động TTGT tại An Giang và Trường Đại học An Giang

  • Thực trạng và nhu cầu:
    • Khảo sát các loại hình giải trí và TTGT tại An Giang, xác định tần suất tham gia và Top 10 hoạt động giải trí/TTGT trong thời gian rảnh rỗi của người dân (Bảng 3.1–3.4).
    • Khảo sát thực trạng hoạt động TTGT của sinh viên Trường Đại học An Giang (Bảng 3.5, 3.6b) và hiện trạng cơ sở vật chất của nhà trường (Bảng 3.7).
    • Tổng hợp ý kiến chuyên gia và cán bộ lãnh đạo về điều kiện tổ chức và nhu cầu thành lập CLB TTGT (Bảng 3.8, 3.9, 3.12b); khảo sát nhu cầu tham gia và các môn TTGT yêu thích của sinh viên ĐHAG (Bảng 3.10, 3.12a).
    • Xác định các nguyên nhân ảnh hưởng, khó khăn, thuận lợi và sự cần thiết phải hình thành mô hình CLB TTGT tại ĐHAG (Bảng 3.13a, 3.14a).

2. Xây dựng mô hình CLB TTGT cho sinh viên Trường Đại học An Giang

  • Bộ tiêu chí xác định mô hình: Xây dựng nội dung chi tiết các tiêu chí thành lập mô hình CLB TTGT (Bảng 3.14b, 3.15) dựa trên sự đồng thuận của chuyên gia.
  • Cơ cấu tổ chức và quy chế:
    • Xác định cơ cấu tổ chức bộ máy và thành viên của CLB TTGT (Bảng 3.16, Sơ đồ 3.1).
    • Xây dựng quy trình thành lập CLB TTGT gồm các bước chặt chẽ (Bảng 3.17).
    • Hoàn thiện quy chế tổ chức, điều lệ hoạt động của CLB TTGT (Bảng 3.18, 3.24).
  • Khảo sát các điều kiện kinh tế - thời gian của sinh viên:
    • Điều kiện tài chính và các khoản sinh hoạt phí hàng tháng của sinh viên ĐHAG (Bảng 3.19, 3.20).
    • Mức đóng hội phí tại các cơ sở TDTT bên ngoài so với mức thăm dò dự kiến trong CLB TTGT trường ĐHAG (Bảng 3.21, 3.22).
    • Khung thời gian tổ chức hoạt động phù hợp cho sinh viên (Bảng 3.23).

3. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả mô hình CLB TTGT

  • Hiệu quả phát triển thể chất:
    • Lựa chọn hệ thống chỉ tiêu đánh giá sức khỏe thể chất của sinh viên (Bảng 3.25).
    • Kiểm tra trước thực nghiệm: Xác nhận không có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê giữa nhóm ĐC, TN1 và TN2 ở cả nam và nữ (Bảng 3.26–3.31).
    • Kiểm tra sau thực nghiệm: Nhóm thực nghiệm (TN1, TN2) đạt mức tăng trưởng các chỉ tiêu thể chất vượt trội so với nhóm đối chứng (ĐC) ở cả sinh viên nam và nữ (Bảng 3.32–3.43, Biểu đồ 3.2, 3.3).
  • Hiệu quả sức khỏe tinh thần, xã hội và mức độ hài lòng:
    • Đánh giá sự chuyển biến tích cực về sức khỏe tinh thần và sức khỏe xã hội của hội viên (Bảng 3.44–3.46).
    • Khảo sát mức độ hài lòng của sinh viên đối với hệ thống dịch vụ của CLB TTGT đạt tỷ lệ đánh giá tích cực cao (Bảng 3.47, Biểu đồ 3.4).
  • Hiệu quả quản lý và tài chính:
    • Sự gia tăng liên tục về số lượng hội viên tham gia các loại hình CLB TTGT (Bảng 3.48, Biểu đồ 3.5).
    • Đánh giá kết quả tài chính và so sánh lợi nhuận của 2 CLB TTGT tại hai thời điểm tháng 10/2017 và tháng 10/2018 (Bảng 3.49, Biểu đồ 3.6), chứng minh tính khả thi và bền vững của mô hình xã hội hóa.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp mới về mặt lý luận:
    • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thể thao giải trí, làm rõ các chức năng sức khỏe (thể chất, tinh thần, xã hội), chức năng xã hội và chức năng kinh tế của TTGT trong môi trường giáo dục đại học.
    • Xây dựng khung lý thuyết và bộ tiêu chí khoa học để xác định mô hình CLB TTGT học đường vận hành theo nguyên tắc xã hội hóa.
  • Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
    • Cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng, nhu cầu và các rào cản tham gia hoạt động TTGT của sinh viên Trường Đại học An Giang và người dân tỉnh An Giang.
    • Xây dựng hoàn chỉnh mô hình CLB TTGT cho sinh viên Trường Đại học An Giang bao gồm: bộ tiêu chí xác định mô hình, cơ cấu tổ chức bộ máy, quy trình thành lập, điều lệ hoạt động, khung thời gian sinh hoạt và mức thu hội phí phù hợp với khả năng tài chính của sinh viên.
    • Chứng minh hiệu quả thực tế của mô hình: Hội viên tham gia CLB đạt được sự cải thiện rõ rệt về các chỉ tiêu thể chất, sức khỏe tinh thần, kỹ năng giao tiếp xã hội; đồng thời mô hình đảm bảo khả năng tự cân đối tài chính và sinh lợi nhuận sau 12 tháng vận hành.
  • Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
    • Nhà trường và các cơ quan quản lý cần tạo điều kiện về cơ chế, cơ sở vật chất để duy trì và nhân rộng mô hình CLB TTGT.
    • Đa dạng hóa các loại hình môn tập TTGT, điều chỉnh khung giờ sinh hoạt và mức phí linh hoạt để thu hút đông đảo sinh viên tham gia.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát và thử nghiệm mô hình tại phạm vi Trường Đại học An Giang thuộc tỉnh An Giang. Các đặc điểm kinh tế - xã hội, mức sinh hoạt phí và cơ sở vật chất mang tính đặc thù của địa phương Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu và thử nghiệm mô hình CLB TTGT tại các trường đại học, cao đẳng thuộc các vùng kinh tế - xã hội khác trên cả nước; nghiên cứu bổ sung các môn TTGT công nghệ cao, thể thao điện tử và thể thao mạo hiểm mới phù hợp với xu hướng giới trẻ.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các nhà quản lý giáo dục và lãnh đạo trường đại học: Cung cấp quy trình, cơ cấu tổ chức và cơ chế quản trị tài chính để thành lập các CLB TDTT tự chủ, xã hội hóa trong khuôn viên trường học.
  • Đối với giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Giáo dục học, Quản lý TDTT: Là tài liệu tham khảo có giá trị về phương pháp luận kết hợp điều tra xã hội học, phương pháp chuyên gia và thực nghiệm sư phạm trong đánh giá sức khỏe toàn diện của người học.
  • Đối với cán bộ Đoàn - Hội sinh viên và người tổ chức phong trào: Cung cấp khung điều lệ, bảng khảo sát nhu cầu, định mức hội phí và các hình thức tổ chức sinh hoạt TTGT phù hợp với tâm lý lứa tuổi sinh viên.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao đề tài lựa chọn Tháp nhu cầu Maslow làm cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu thể thao giải trí?
    Tháp nhu cầu Maslow (1954) phân chia nhu cầu thành 5 bậc từ thấp đến cao (Sinh tồn, An toàn, Xã hội, Tôn trọng, Tự khẳng định). Hoạt động TTGT giúp thỏa mãn các nhu cầu vận động cơ bản, đồng thời đáp ứng trực tiếp 3 bậc nhu cầu cao nhất (giao lưu kết bạn, khẳng định bản thân và nâng cao chất lượng cuộc sống), làm cơ sở xây dựng phiếu khảo sát động cơ của sinh viên.

  2. Khái niệm thể thao giải trí trong luận án được xác định như thế nào?
    TTGT là loại hình hoạt động thể dục thể thao quần chúng có ý thức, tự giác, vừa sức, được tiến hành trong thời gian tự do ngoài giờ làm việc/học tập; mang lại lợi ích toàn diện cho sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và sức khỏe xã hội của người tham gia.

  3. Mô hình CLB TTGT tại Trường Đại học An Giang được tổ chức theo phương thức nào?
    Mô hình được xây dựng dựa trên nguyên tắc xã hội hóa TDTT, có cơ cấu quản lý rõ ràng, hoạt động theo quy chế và điều lệ thống nhất, tự chủ một phần kinh phí thông qua mức đóng hội phí phù hợp với điều kiện kinh tế của sinh viên và khai thác hiệu quả cơ sở vật chất của nhà trường.

  4. Hiệu quả của mô hình CLB TTGT đã được kiểm chứng thực nghiệm ra sao?
    Hiệu quả mô hình được kiểm chứng qua thử nghiệm sư phạm đối chứng trong 12 tháng (từ tháng 10/2017 đến tháng 10/2018) giữa các nhóm ĐC, TN1, TN2 ở cả nam và nữ; đánh giá qua sự tăng trưởng vượt trội của các chỉ số thể chất, sự cải thiện sức khỏe tinh thần - xã hội, mức độ hài lòng của hội viên và kết quả tài chính dương của các CLB.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đào Chánh Thức đã giải quyết trọn vẹn 3 mục tiêu nghiên cứu: đánh giá thực trạng TTGT tại An Giang, xây dựng mô hình CLB TTGT cho sinh viên Trường Đại học An Giang và kiểm chứng thực nghiệm hiệu quả hoạt động. Công trình đã kết hợp chặt chẽ cơ sở lý luận quốc tế về TTGT và sức khỏe toàn diện với thực tiễn cơ sở vật chất, khả năng tài chính của sinh viên địa phương. Mô hình CLB TTGT được thiết lập là giải pháp thực tiễn có tính khả thi cao, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và phong trào thể thao học đường.